Thứ Tư, 19 tháng 2, 2014

Sự phát triển nguồn nhân lực trong đào tạo

Đối diện với thực trạng trên,các công ty ở nhóm nước phát triển này đã
phải chi những khoản tiền khổng lồ để khắc phục sự thiếu hụt trầm trọng
các kĩ năng cơ bản trong lực lượng lao động.Khoảng hơn một nửa số
công ty trong danh sách Fortune 500 công ty nổi tiếng nhất của Mỹ cho
biết hàng năm họ phải chi khoảng 300 triệu USD cho việc đào tạo bổ túc
văn hóa.
Nhóm nước này cũng đang tích cực nâng trình độ nguồn nhân lực với
việc cải cách giáo dục.
Phần lớn các nước này coi giáo dục nghề nghiệp theo phạm trù rộng và
nằm trong một hệ thống,liên thông với nhau từ thấp đến cao,tạo cơ hội
việc làm và giáo dục suốt đời cho mọi người kể cả nhận thức tư duy và
hành động thực tế.
Mỹ và các nước Tây Âu đang tích cực đẩy mạnh kinh tế tri thức và thích
ứng với đòi hỏi mới của nề kinh tế toàn cầu hóa với việc cải cách cơ cấu
lại nguồn nhân lực.
Nhật chú trọng hơn nữa đến giáo dục chuur nghĩa yêu nước đáp ứng yêu
các nước Nhật sớm trở thành một cường quốc hoàn chỉnh cả kinh tế và
chính trị.
Singapore vì mục đích kinh doanh và vì muốn tiếp tục giữ vị thế quốc tế
của mình chú trọng làm mọi việc trở thành cái lò đào tạo trí thức cho các
nước bao gồm cả việc mời những trường đại học quốc tế có tên tuổi sang
mở trường trực tiếp ở Singapore.
Ở Pháp,Thư của tổng thống Sarkozy gửi các nhà giáo Pháp đặt vấn đề
một cách toàn diện,bắt đầu từ đổi mới quan điểm dạy học –Kể từ việc dạy
các lớp học sinh nhỏ tuổi,sao cho nhân bản hơn,phát huy tốt hơn năng lực
riêng của mỗi cac tình trạng dao động lúc quá nhấn mạnh cái này,khi quá
nhấn mạnh cái kia,cần tuân thủ mỗi thời kì tạo ra một ước vọng riêng.
Các nước không những đào tạo tốt nguồn nhân lực trong nước mà còn
luôn luôn tạo ra môi trường hấp dẫn thu hút nguồn nhân lực có chất lượng
đến từ các nước.
Qua các giải pháp ở các nước trên chúng ta thấy các nước phát triển mỗi
nước đi theo mỗi cách khác nhau nhằm nâng cao và hoàn thiện nguồn
nhân lực,nhưng nhìn chung các nước đều tập trung đi sâu vào việc hoàn
thiện phát triển hệ thống giáo dục đào tạo,đào taọ tri thức.
Các nước này ngày càng tạo ra môi trường hấp dẫn đối với những nguồn
nhân lực, chất xám của thế giới thu hút về.
2.2.Các nước đang phát triển.
2.2.1.Thực trạng.
Đối với các nước đang phát triển một đặc điểm nổi bật nhất ở nguồn nhân
lực đó là nguồn nhân lực ở các nước này dồi dào,tuy nhiên chất lượng
đào tạo nguồn nhân lực ở các nước này lại đang đặt ra nhiều vấn đề bất
cập.
5
Môi trường giáo dục chưa thực sự là cái nôi để đào tạo ra được nguồn
nhân lực thực sự có chất lượng.
Điều kiện giáo dục đang còn nhiều thiếu thốn,chưa đáp ứng yêu cầu và
thu hút,khuyến khích nghiên cứu,nâng cao kiến thức tay nghề.Môi trường
học tập đang còn nặng nề về lí thuyết,chưa có điều kiện đi sâu vào thực
tế,không tạo ra môi trường thu hút và khuyến khích học sinh sinh viên
nghiên cứu khoa học.
Chất lượng nguồn nhân lực và năng suất lao động so với các nước phát
triển khoảng cách phát triển còn khá xa,nếu lấy chỉ số thu nhập tính theo
đầu người làm thước đo chunghnhất,khoảng cách này có xu hướng đang
rộng thêm.
Lực lượng lao động với giá rẻ,và đang vấp phải 3 trở lực lớn;chất lượng
còn thấp về nguồn nhân lực,sự bất cập lớn của kết cấu hạ tầng,vật chất kĩ
thuật,năng lực quản lí hẫng hụt nhiều mặt.
Hầu hết nguồn nhân lực không những yếu về trình độ tay nghề,kĩ thuật
mà xét về trình độ ngoại ngữ cũng chưa đáp ứng được yêu cầu trong xu
hướng nền kinh tế toàn cầu hóa như hiện nay.
Nguồn lực lao động dồi dào,nhưng lực lượng lao động có tay nghề trình
độ cao lại đang khan hiếm.Số sinh viên được đào tạo ra trường thất
nghiệp nhiều do chưa đáp ứng được yêu cầu của thị trường lao động,
trong khi đó nhiều doanh nghiệp,kể cả những doing nghiệp cóFDI và
nhiều dự án kinh tế quan trọng khác rất thiếu nguồn lực chuyên nghiệp.
Các chủ doanh nghiệp đều cho rằng họ phải đào tạo lại hầu hết mọi người
ở mọi cấp bậc-học nghề,đại học,sau đại học mà họ nhận vào doanh
nghiệp của mình. Họ không tin tưởng vào hệ thống đại học và các viện
nghiên cứu trong nước vì chất lượng giảng dạy thấp, nội dung yếu và lạc
hậu,khả năng nghiên cứu thấp, sách vở và thiết bị đều thiếu,không đồng
bộ,cũ kĩ…
Đối với các nước đang phát triển một hiện trạng thực tế đang xảy ra đó là
hiện tượng chảy máu chất xám ,với sự dịch chuyển ồ ạt số lượng lớn nhân
công được đào tạo có kĩ năng sang các nước phát triển.Tình trạng này dẫn
đến hậu quả các nước đang phát triển này đang thiếu nguồn nhân lực có
tay nghề thì lại càng thiếu các nhân tài hơn.
6
Sự dịch chuyển ồ ạt với số lượng lớn nhân công được đào luyện có kỹ
năng từ nước này sang nước khác, từ Châu lục này sang Châu lục khác
được gọi là chảy máu chất xám
2.2.2.Giải pháp:
Trước hết về chương trình giáo dục: phải cải tiến mạnh mẽ chương trình
giản dạy của các loại trường ở tất cả các cấp vì yêu cầu hội nhập kinh tế
toàn cầu. Chúng ta cần cải tổ từng nội dung học để đáp ứng đào tạo
những con người toàn diện nắm bắt chuyên sâu về kỹ thuật của từng lĩnh
vực.
Đã đến lúc phải đưachương trình dạy ngoại ngữ trở thành một phần bắt
buộc trong chương trình giảng dạy từ cấp phổ thông.
Nên tập trung vào yêu cầu nâng cao quyền năng con người, con người
được nâng cao quyền năng về trí tuệ, về ý chí sẽ tìm được cho mình con
đường đi lên, trong đời sốn và lập nghiệp.
Nên tập trung cơ cấu nguồn nhân lực, tập trung đào tạo nguồn nhân lực
chuyên sâu,kĩ thuật có tay nghề cao.
Cần phải có cuộc vận động toàn xã hội để làm cho ai cũng thấy được học
nghề có vị trí, được đánh giá cao trong xã hội.
Giải pháp cấp thiết đối với các nước đang phát triển hiện nay là phải làm
thế nào để hạn chế việc chảy máu chất xám,dẫn dến ngày càng khan hiếm
lực lượng lao động có tay nghề, kĩ thuật cao.Muốn làm được vậy cần phải
nâng cao thu nhập của các nhân viên chuyên môn,thu ngắn khoảng cách
biệt giữa thu nhập trong nước và ngoài nước,gia tăng mức đào tạo chuyên
viên các ngành cho các nước đang phát triển này để giảm thiểu tình trạng
khan hiếm chất xám.
7
Làm thế nào để đào tạo và gìn giữ những thế hệ nhân tài cho đất nước vẫn
là câu hỏi lớn đối với các nhà hoạch định chính sách.
Việc đào tạo, thu hút và gìn giữ nhân tài chính là một trong những “chìa
khóa thành công” quan trọng nhất đưa Singapore sớm trở thành một “con
rồng châu Á”.
Để hạn chế hiện tượng chảy máu chất xám theo chúng tôi thì nên cần có
những giải pháp sau:
Giữ chân người giỏi là chiến lược, không phải là biện pháp đối phó nhất
thời.Vì vậy phải tiến hành song song 4 yếu tố: Thu hút,tuyển dụng,hội
nhập,và cộng tác.
Cần có hững tiêu chí định tính và định lượng giúp doanh nghiệp nhận
diện ra nhân viên giỏi cần giữ. Đó là những nhân viên luôn hoàn thành
xuất sắc công việc, đảm trách những công việc đòi hỏi kỹ năng, kiến thức
8
hiếm trên thị trường lao động, tâm huyết với sự phát triển của doanh
nghiệp …
Doanh nghiệp phải tìm ra được những yếu tố quyết định để giữ nhân
viên giỏi. Nếu muốn nhân viên giỏi hài lòng và ở lại lâu dài với doanh
nghiệp cần giảm yếu tố bất mãn bao gồm lương bổng và chế độ làm việc,
yếu tố tạo nguồn, bao gồm thu hút và tuyển dụng…
2.3.Các nước kém phát triển.
2.3.1.Thực trạng.
So với các nhóm nước khác nhóm nước này kém nhất cả về kinh tế lẫn
trình độ phát triển.Khoa học kĩ thuật,cơ sở hạ tầng còn lạc hậu,con ngưới
không có điều kiện để phát triển về mọi mặt,trình độ dân trí còn thấp,do
đó trình độ tay nghề, kĩ thuật của lực lượng lao động vô cùng thấp.
Đối với các nước này nguồn lao động có trình độ vô cùng thấp, hầu hết
lao động dựa vào sức lực cơ bắp là chính.
Sự đầu tư cho giáo dục đào tạo nguồn nhân lực hầu như còn rất hạn chế.
2.3.2.Giải pháp:
Đối với các nước này nền kinh tế đang còn vô cùng lạc hậu,cho nên muốn
phát triển và nâng cao nguồn nhân lực cần phải có sự đầu tư,trợ giúp các
nước khác đặc biệt là sự trợ giúp của các nước phát triển
3 .Thực trạng giáo dục nguồn nhân lực ở VIỆT NAM
Hiện nay cả nước đang quan tâm đến vấn đề giáo dục, với mong
muốn nước ta sớm có được một nền giáo dục tiên tiến, đáp ứng yêu cầu
phát triển ngày càng cao của đất nước. Hơn nữa, phát triển nguồn nhân
lực đang trở thành đòi hỏi bức thiết hàng đầu trên chặng đường công
nghiệp hóa hiện đại hóa hiện nay của đất nước, chặng đường nước rút –
vì thời gian từ nay đến năm 2010 không phải là dài.
Sự thật là chưa lúc nào vấn đề phát triển con người và nguồn nhân
lực trở thành vấn đề thời sự nóng bỏng ở nước ta như giai đoạn hiện nay,
bởi hai lẽ:
- Đất nước giành được nhiều thành tựu to lớn sau 20 năm đổi mới, nay
bước vào một thời kỳ phát triển mới sau khi đã hội nhập toàn diện vào
nền kinh tế toàn cầu hóa, cơ hội và thách thức chưa từng có, đòi hỏi phải
có nguồn nhân lực thích ứng.
- Thực trạng nguồn nhân lực hiện nay khó cho phép tận dụng tốt nhất
cơ hội đang đến với đất nước. Không mau chóng khắc phục được yếu
kém này, có nguy cơ khó vượt qua những thách thức mới, sẽ kéo dài sự
tụt hậu của đất
nước với nhiều hệ lụy nan giải.
Trong Luật Giáo dục cũng như trong thực tiễn quản lý nhà nước về giáo
dục cần phân biệt rõ và xây dựng vững mạnh cả 3 phân hệ (3 trụ cột)
9
trong một hệ thống giáo dục quốc dân thống nhất gồm: giáo dục phổ
thông (GDPT), giáo dục đại học và chuyên nghiệp (GD ĐH&CN - bao
gồm từ dạy nghề, trung học chuyên nghiệp, cao đẳng, đại học, sau đại
học), giáo dục cộng đồng (GDCĐ - bao gồm tất cả các loại hình giáo dục
ngoài nhà trường: giáo dục thường xuyên, trung tâm giáo dục cộng đồng
v.v ). Ba phân hệ này có mục tiêu, tính chất, nội dung, phương thức giáo
dục, đào tạo, cách quản lý khác nhau một cách cơ bản, vận hành theo
những nguyên tắc riêng của nó. Do vậy cần tổ chức lại sao cho mỗi phân
hệ này thống nhất lại thành một tiểu hệ thống, có tính độc lập tương đối,
có sự liên thông trong nội bộ; mỗi phân hệ tập trung vào thực hiện đúng
mục tiêu, tính chất, chức năng của mình, tránh lẫn lộn, chồng chéo, cản
trở nhau.
3.1.Thực trạng trong giáo dục phổ thông
Phương pháp giáo dục của Việt Nam nói chung còn chịu ảnh hưởng
nặng nề của một mô thức giáo dục mà người ta gọi là mô thức áp đặt.
Công bằng mà nói, mô thức áp đặt vẫn có một vị trí quan trọng của nó
trong giáo dục, nhất là giáo dục ở bậc tiểu học, và phần nào ở trung học,
với điều kiện nó chỉ là một phần của phương pháp giáo dục mà mô thức
chính chú trọng vào việc gợi ý để học sinh phát triển óc sáng tạo và khả
năng tư duy độc lập. Dùng phương pháp áp đặt như một mô thức chính
cho giáo dục như trong trường hợp Việt Nam hiện nay hoàn toàn không
hợp lý cho sự phát triển một nền giáo dục tiên tiến trong điều kiện toàn
cầu hóa và thời đại của bùng nổ thông tin. Ngược lại, nó đang biến nền
giáo dục này trở thành lạc hậu, dù nhìn trên mặt nổi, lượng thông tin
trong các chương trình học ở Việt Nam nhiều hơn chương trình giáo dục
của nhiều quốc gia tiên tiến.
Một sai lầm căn bản khác của giáo dục Việt Nam là tính đồng phục
trong giảng dạy. Ở Việt Nam, chỉ có một loại sách giáo khoa, của nhà
nước. Ðiều này không thấy có ở nước Pháp, nước Mỹ, và cả ở miền Nam
Việt Nam trước đây.
Trong những năm qua Đảng và nhà nước Việt Nam đã quan tâm rất
nhiều đến vấn đề giáo dục từ bậc mầm non,phát triển các trường công
lập,dân lập với những nơi có điều kiện,từng bước mở các trường tư thục
ở một số bậc học như mầm non,trung học,phổ thông,trung học chuyên
nghiệp,dạy học,mở rộng các hình thức đào tạo không tập trung,đào tạo từ
xa,từng bước hiện đại hóa giáo dục.
Dưới dây là bảng số liệu số học sinh phổ thông và trung học chuyên
nghiệp qua các giai đoạn;
10
Năm học Tiểu học Trung học
cơ sở
Trung học
phổ thông
Trung học
chuyên
nghiệp
1995-1996
1996-1997
1997-1998
1998-1999
1999-2000
2000-2001
2001-2002
2002-2003
2004-2005
2004-2005
2005-2006
10.218.169
10.348.964
10.437.770
10.250.214
10.063.025
9.751.431
9.336.913
8.841.004
8.350.191
7.773.484
7.317.813
4.312.674
4.872.813
5.254.420
5.564.888
5.767.298
5.918.153
6.254.254
6.497.548
6.612.099
6.670.714
6.444.739
1.019.480
1.171.267
1.393.199
1.657.708
1.975.853
2.199.814
2.328.965
2.452.891
2.616.207
2.802.101
3.029.221
172.149
182.648
207.921
216.912
227.992
255.323
271.175
309.807
360.392
466.504
500.416.
Nguồn số liệu : Bộ giáo dục và Đào tạo, thống kê giáo dục và đào tạo các
năm học
11
3.2 Thực trạng trong giáo dục đại học
Sự thiếu hụt nguồn lao động chất lượng cao hiện nay ở Việt Nam do
nhiều nguyên nhân, trong đó nguyên nhân đầu tiên và cơ bản nhất phải kể
đến từ sau thời kỳ đổi mới kinh tế - xã hội Việt Nam phát triển khá mạnh
mẽ, nhất là trong những năm gần đây kinh tế tăng trưởng từ 7-8%/ 1 năm,
trong khi đó hệ thống giáo dục đào tạo lại quá chậm đổi mới. Chúng ta
đang xây dựng một nền kinh tế thị trường theo hướng xã hội trong bối
cảnh hội nhập nền kinh tế thế giới đòi hỏi nền kinh tế nước ta phải tuân
thủ theo quy luật cung cầu, cạnh tranh trong sân chơi của luật chơi chung,
thế nhưng giáo dục và đào tạo của ta thì vẫn chưa thể đổi mới để đáp ứng
nhu cầu của xã hội trong bối cảnh mới. Ngành giáo dục đã qua nhiều lần
cải cách nhưng nội dung lẫn phương pháp vẫn còn tồn tại nhiều bất cập,
chưa phát huy được tính sáng tạo và độc lập trong suy nghĩ của học sinh,
sinh viên, bệnh thành tích vẫn tồn tại trong xã hội, điều này dẫn tới việc
đào tạo ra một đội ngũ có bằng cấp nhưng kiến thức và khả năng không
tương xứng. Hàng năm có nhiều sinh viên ra trường nhưng không tìm
được việc làm, do không đáp ứng được yêu cầu của nhà tuyển dụng, họ
đành làm việc trái với chuyên môn, ngành nghề đã được đào tạo, vì vậy
không thể đạt hiệu quả cao trong công việc. Nhà tuyển dụng khi nhận lao
động thường đào tạo lại mới sử dụng được. Tình trạng lao động trái
ngành, chắp vá này là một trong những nguyên nhân cơ bản làm chậm sự
phát triển chung của xã hội. Hàng năm nước ta có thêm rất nhiều sinh
viên, học viên được nhận bằng cử nhân, thạc sỹ, tiến sỹ nhưng trên thực
tế thì vẫn còn một phần không nhỏ những người có học hàm, học vị
nhưng lại không được nhà tuyển dụng và xã hội thừa nhận vì trình độ,
năng lực không tương xứng.
12
Lao động chất lượng cao thiếu hụt trầm trọng trách nhiệm phần lớn
thuộc về hệ thống giáo dục. Mặt khác chính sách đãi ngộ của Nhà nước
chưa thực sự hợp lý. Một sinh viên tốt nghiệp đại học ra trường, vào làm
việc ở các cơ quan Nhà nước với mức lương khởi điểm chỉ trên 1 triệu
đồng một tháng thì không thể đảm bảo được cuộc sống. Do vậy hiện
tượng chảy máu chất xám đang ngày càng trầm trọng. Những lao động
được đào tạo bài bản trong nước thường tìm việc ở các công ty nước
ngoài; nhiều du học sinh Việt Nam sau khi học xong cũng thường tìm
cách ở lại nước ngoài làm việc. Trong cuộc cạnh tranh thu hút nguồn
nhân lực chất lượng cao như hiện nay, lợi thế thường nghiêng vào các
doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, do chính sách lương bổng và đãi
ngộ thường cao hơn khu vực trong nước. Mặt khác, lao động chất xám ở
các công ty nước ngoài thường được giao công việc, trách nhiệm và
quyền lợi rõ ràng, được quyền quyết định trong phạm vi tương đối rộng,
qua đó có thể phát huy được tính năng động, sáng tạo trong công việc và
về mặt tâm lý họ cảm thấy được tôn trọng nhiều hơn. Trong khi đó làm
việc ở các doanh nghiệp Việt Nam, người lao động thường được lãnh đạo
theo kiểu gia đình trị. Có thứ bậc trên dưới theo mối quan hệ tình cảm
hoặc theo tuổi tác chứ ít căn cứ vào năng lực thực sự của mỗi người, vì
vậy khó phát huy khả năng và tâm lý cũng không thoải mái.
Đó là những nguyên nhân cơ bản dẫn tới việc thiếu hụt lao động chất
lượng cao ở các doanh nghiệp, cơ quan đoàn thể của Việt Nam trong bối
cảnh hội nhập hiện nay. Đây là một cản trở lớn trong tiến trình phát triển
kinh tế xã hội đẩy nhanh tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa của
chúng ta, nhất là trong bối cảnh Việt Nam đã là thành viên chính thức của
WTO để tháo gỡ khó khăn này không phải là việc dễ và một sớm một
13
chiều có thể giải quyết được mà cần sự phôi hợp liên thông của rất nhiều
các ban ngành.
Tuy nhiên trong những năm qua với nhiều chương trình quan tâm và
phát triển giáo dục,đặc biệt với xu thế xã hội và nhận thức của người dân
số lượng sinh viên các trường cao đẳn đại học cũng tăng lên qua các năm,
điều này đã bổ sung một lực lượng lớn lao động có trình độ cho xã hội
trong những năm qua, nhưng nhìn chung lực lượng lao động này khi mới
ra trường đều chưa đáp ứng được theo yêu cầu của các doanh nghiệp.

Bảng số liệu số sinh viên đại học,cao đẳng qua các năm;
Năm học Cao đẳng Đại học
1995-1996
1996-1997
1997-1998
1998-1999
1999-2000
2000-2001
2001-2003
2003-2004
2004-2005
2005-2006
2006-2007
58.292
96.129
127.027
157.710
173.912
186.254
210.556
213.933
231.107
273.463
299.294
326.103
448.627
552.360
601.925
670.680
689.338
712.620
746.759
801.333
1.046.291
1.087.813
Nguồn số liệu: Bộ Giáo dục và đào tạo, Thống kê Giáo dục và Đào tạo
các năm học
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét