Thứ Ba, 25 tháng 2, 2014

Phương hướng và giải pháp phát triển công nghiệp trên địa bàn Thanh Hóa từ nay tới 2010

Chuyên đề thực tập
3.1. Đặc điểm về mặt kỹ thuật của sản xuất công nghiệp:
Đặc điểm về mặt công nghệ sản xuất: trong công nghiệp chủ yếu là quá trình
tác động trực tiếp bằng phơng pháp cơ - lý - hóa của con ngời làm thay đổi các đối
tợng lao động thành các sản phẩm thích ứng với nhu cầu con ngời, trong khi đó
sản xuất nông nghiệp lại bằng phơng pháp sinh học là chủ yếu. Trong công
nghiệp ngày nay, phơng pháp công nghệ sinh học cũng đợc ứng dụng ngày càng
rộng rãi, đặc biệt là công nghệ thực phẩm.
Đặc điểm về sự biến đổi của các đối tợng lao động sau mỗi chu kỳ sản
xuất, đợc thay đổi hoàn toàn về chất từ công dụng cụ thể này đã chuyển sang sản
phẩm có công dụng kinh tế hoàn toàn khác. Hoặc một loại nguyên liệu sau quá
trình sản xuất có thể tạo ra nhiều loại sản phẩm có công dụng khác nhau. Trong
khi đó đối tợng lao động của sản xuất nông nghiệp bao gồm các động vật và thực
vật sau quá trình sản xuất chỉ có sự thay đổi về mặt lợng là chủ yếu.
Về công dụng kinh tế của sản phẩm: sản phẩm công nghiệp có khả năng đáp
ứng nhiều loại nhu cầu ngày càng cao của xã hội.
Sản xuất công nghiệp là hoạt động sản xuất duy nhất tạo ra các sản phẩm
thực hiện chức năng là các t liệu lao động trong các ngành kinh tế quốc dân. Đặc
điểm này cho thấy vị trí chủ đạo của ngành công nghiệp trong nền kinh tế quốc
dân là một tất yếu khách quan, xuất phát từ bản chất của quá trình sản xuất đó.
3.2. Đặc điểm kinh tế - xã hội của sản xuất công nghiệp:
Do các đặc điểm về mặt kỹ thuật của sản xuất nêu trên. Trong quá trình phát
triển, công nghiệp luôn là ngành có điều kiện phát triển về mặt kỹ thuật, tổ chức
sản xuất, lực lợng sản xuất phát triển nhanh ở trình độ cao, nhờ đó mà quan hệ sản
xuất có tính tiên tiến hơn sản xuất nông nghiệp.
Do đặc điểm kỹ thuật của sản xuất, trong quá trình sản xuất công nghiệp đã
tạo ra đợc một đội ngũ lao động có tính tổ chức, tính kỷ luật cao, có tác phong
"công nghiệp". Đội ngũ lao động trong giai cấp công nhân luôn luôn là bộ phận
tiên tiến trongcộng đồng dân c của mỗi quốc gia, mỗi đất nớc.
Cũng do đặc điểm về công nghệ và sự biến đổi của đối tợng lao động, trong
công nghiệp có điều kiện và cần thiết phải phân công lao động ngày càng sâu, tạo
điều kiện, tiền đề để phát triển nền sản xuất hàng hóa ở trình độ và tính chất cao
hơn nông nghiệp.
Nghiên cứu các đặc điểm về mặt kỹ thuật và kinh tế - xã hội của sản xuất
công nghiệp cho ta thấy đợc vị trí vai trò chủ đạo của công nghiệp trong nền kinh
tế quốc dân là một tất yếu khách quan xuất phát từ bản chất quá trình sản xuất
công nghiệp. Đồng thời nó có ý nghĩa trong việc tổ chức sản xuất, trong việc phát
huy vai trò chủ đạo của công nghiệp đối với quá trình tăng trởng và phát triển
kinh tế xã hội của mỗi quốc gia.
SV: Trịnh Tuấn Hùng Lớp Kinh tế phát triển 40
5
Chuyên đề thực tập
II. Vai trò của công nghiệp trong nền kinh tế quốc dân.
1. Vai trò chủ đạo của công nghiệp trong nền kinh tế quốc dân.
Công nghiệp trở thành một ngành sản xuất to lớn và độc lập. Đó chính là kết
quả của sự phát triển lực lợng sản xuất và phân công lao động xã hội.
Vai trò lịch sử của công nghiệp trong việc phát triển lực lợng sản xuất và
quan hệ sản xuất đợc nghiên cứu bởi học thuyết Mác-Lênin, V.I.Lênin phân tích
những luận điểm của Mác-Ănghen và chứng minh phơng hớng phát triển của
công nghiệp nh là ngành chủ đạo của nền kinh tế quốc dân. Vai trò chủ đạo của
công nghiệp trong quá trình phát triển nền kinh tế là một tất yếu khách quan. Tính
tất yếu đó xuất phát từ bản chất, những đặc điểm vốn có của công nghiệp.
Trong quá trình phát triển nền kinh tế nớc ta theo định hớng xã hội chủ
nghĩa, công nghiệp luôn luôn giữ vai trò chủ đạo. Vai trò chủ đạo của công
nghiệp đợc hiểu là: công nghiệp là ngành có sự ảnh hởng quyết định đến sự phát
triển lực lợng sản xuất của các ngành kinh tế quốc dân, đồng thời công nghiệp
có khả năng tạo ra những động lực và định hớng phát triển của các ngành khác.
Vai trò chủ đạo của công nghiệp đợc thể hiện ở các mặt chủ yếu sau:
- Công nghiệp là một trong ba bộ phận quyết định sự hình thành cơ cấu kinh
tế của một nớc.
Tổng sản phẩm xã hội của một quốc gia bao gồm các giá trị sản xuất công
nghiệp, nông nghiệp và dịch vụ. Do vậy, công nghiệp là một bộ phận cấu thành cơ
cấu: công nghiệp - nông nghiệp - dịch vụ của mỗi quốc gia. Xu hớng chuyển dịch
cơ cấu kinh tế hiện nay là tăng tỷ trọng công nghiệp, dịch vụ.
- Công nghiệp không chỉ là ngành tác động trực tiếp đến sự phát triển mà còn
tác động gián tiếp đến việc nâng cao chất lợng cuộc sống hàng ngày của con ngời
thông qua việc thúc đẩy các ngành kinh tế khác trong nền kinh tế quốc dân phát
triển, mà các ngành này có tác động trực tiếp đến đời sống của con ngời nh: nông
nghiệp, dịch vụ, v.v
Mục tiêu cuối cùng của nền sản xuất xã hội là tạo ra sản phẩm để thỏa mãn
nhu cầu ngày càng cao của con ngời. Trong quá trình đó, công nghiệp là ngành
không chỉ khai thác tài nguyên, mà còn tiếp tục chế biến các loại nguyên liệu
nguyên thủy đợc khai thác tài nguyên, mà còn tiếp tục chế biến các loại nguyên
thủy đợc khai thác và sản xuất từ các loại tài nguyên khoáng sản, thành các sản
phẩm trung gian để sản xuất ra những sản phẩm cuối cùng nhằm thỏa mãn nhu
cầu vật chất và tinh thần của con ngời. Trong khi đặc điểm của sản xuất nông
nghiệp chỉ có thể tạo ra những sản phẩm trung gian để sản xuất ra những sản
phẩm cuối cùng nhằm thỏa mãn nhu cầu vật chất và tinh thần của con ngời. Trong
khi đặc điểm của sản xuất nông nghiệp chỉ có thể tạo ra những sản phẩm từ các
nguồn tài nguyên động thực vật đáp ứng nhu cầu cơ bản về lơng thực, thực phẩm
của con ngời. Nhng muốn thỏa mãn nhu cầu ngày càng cao của con ngời đối với l-
SV: Trịnh Tuấn Hùng Lớp Kinh tế phát triển 40
6
Chuyên đề thực tập
ơng thực, thực phẩm, chỗ ở, ăn mặc, đi lại học hành, sức khỏe thì cần phải có
sản phẩm của công nghiệp.
- Công nghiệp tác động vào quá trình phát triển của các ngành với t cách là
hình mẫu về sử dụng t liệu sản xuất tiên tiến, hiện đại, về phơng pháp quản lý
mới, về ý thức tổ chức, kỷ luật lao động
Do đặc điểm của sản xuất công nghiệp, công nghiệp có những điều kiện tăng
nhanh tốc độ phát triển khoa học - công nghệ, ứng dụng vào các thành tựu khoa
học công nghệ đó vào sản xuất, có khả năng và tạo điều kiện sản xuất hoàn thiện
hơn. Nhờ đó, lực lợng sản xuất trong công nghiệp phát triển nhanh hơn các ngành
kinh tế khác. Do qui luật "Quan hệ sản xuất phải phù hợp với trình độ và tính chất
phát triển của lực lợng sản xuất", trong công nghiệp có đợc hình thức quan hệ sản
xuất tiên tiến. Tính tiên tiến về các hình thức quan hệ sản xuất, sự hoàn thiện
nhanh về các mô hình tổ chức sản xuất làm cho công nghiệp có khả năng định h-
ớng các ngành kinh tế khác tổ chức sản xuất theo mô hình tổ chức sản xuất công
nghiệp.
- Công nghiệp là ngành duy nhất có sản phẩm làm chức năng t liệu lao
động trong các ngành kinh tế khác và là cơ sở tái mở rộng cho toàn bộ nền kinh
tế quốc dân, thông qua công nghiệp tạo ra và trang bị cơ sở vật chất kỹ thuật
cho tất cả các ngành. Mặt khác, công nghiệp là cơ sở củng cố quốc phòng của
đất nớc, sản xuất ra các loại phơng tiện kỹ thuật quân sự hiện đại.
Cũng do đặc điểm của sản xuất công nghiệp, đặc biệt là đặc điểm về công
nghệ sản xuất, đặc điểm về công dụng sản phẩm công nghiệp. Nên công nghiệp
có vai trò quyết định trong việc cung cấp yếu tố đầu vào cho các ngành kinh tế
khác, để xây dựng cơ sở vật chất, quốc phòng cho toàn bộ nền kinh tế quốc dân.
- Công nghiệp có vai trò quan trọng góp phần vào việc giải quyết những
nhiệm vụ có tính chiến lợc của nền kinh tế xã hội.
Trình độ phát triển của lực lợng sản xuất, trình độ trang bị cơ sở vật chất kỹ
thuật và trình độ hoàn thiện về tổ chức sản xuất, hình thành một đội ngũ lao động
có tính tổ chức. Tính kỷ luật và trình độ trí tuệ cao, cộng với tính đa dạng của hoạt
động sản xuất, công nghiệp là một trong những ngành đóng góp phần quan trọng
tạo ra thu nhập quốc dân, tích lũy để phát triển kinh tế, tăng xuất nhập khẩu, thúc
đẩy hợp tác kinh tế với các nớc trên thế giới và là cơ sở cho sự phân công lao động
quốc tế Từ đó, công nghiệp có vai trò quan trọng góp phần vào giải quyết những
nhiệm vụ có tính chiến lợc của nền kinh tế - xã hội: nh phân công hợp lý hơn lực
lợng sản xuất, phát triển các vùng kinh tế của đất nớc, sử dụng có hiệu quả mọi
nguồn tài nguyên, lao động và truyền thống nghề nghiệp của các địa phơng, vùng
lãnh thổ, xóa bỏ dần sự cách biệt giữa thành thị và nông thôn, giữa miền xuôi và
miền núi
Đặc biệt, trong quá trình phát triển nền kinh tế nớc ta hiện nay Đảng có chủ
trơng "Coi nông nghiệp là mặt trận hàng đầu, giải quyết cơ bản những vấn đề lơng
thực, thực phẩm, cung cấp nguồn nguyên liệu động thực vật để phát triển công
SV: Trịnh Tuấn Hùng Lớp Kinh tế phát triển 40
7
Chuyên đề thực tập
nghiệp và đẩy mạnh xuất khẩu nông sản hàng hóa nhằm tạo ra những điều kiện
tiên tiến để thực hiện mục tiêu công nghiệp hóa, hiện đại hóa". Để thực hiện
những nhiệm vụ cơ bản đó, vai trò của công nghiệp còn thể hiện ở những mặt sau:
Có sự liên doanh liên kết giữa các xí nghiệp công nghiệp đảm bảo việc xây
dựng kết cấu hạ tầng, cơ sở vật chất kỹ thuật, nghiên cứu phổ biến tiến bộ khoa
học kỹ thuật, chế biến sản phẩm cho các đơn vị sản xuất nông nghiệp.
Hình thức liên doanh liên kết giữa các ngành công nghiệp với địa phơng về
hợp đồng trực tiếp phục vụ cho sản xuất nông nghiệp.
Hình thức kết hợp gián tiếp phổ biến nhất là thông qua trao đổi hàng hóa,
dịch vụ phục vụ nông nghiệp và thu mua chế biến nông sản thực phẩm để thúc
đẩy phát triển nông sản hàng hóa và xây dựng nông thôn mới ở nớc ta do các
ngành lu thông phân phối thực hiện.
Với đặc điểm nớc ta hiện nay có 80% dân số sống ở nông thôn và tham gia
sản xuất nông nghiệp, việc phát triển công nghiệp đặc biệt là công nghiệp sản
xuất ra t liệu lao động phục vụ cho sản xuất nông nghiệp và công nghiệp chế biến
có ý nghĩa rất lớn đối với phát triển nông nghiệp và nông thôn, biểu hiện ở việc
công nghiệp góp phần tăng năng suất cây trồng - vật nuôi đồng thời tăng giá trị
của sản phẩm nông nghiệp.
Qua sự trình bầy ở những phần trên, ta thấy ngành công nghiệp chế biến có
vai trò đặc biệt quan trọng đối với phát triển ngành công nghiệp nói riêng và phát
triển kinh tế xã hội nói chung. Nên hiện nay, cơ cấu ngành công nghiệp có xu h-
ớng chuyển dịch là tăng tỷ trọng công nghiệp chế biến.
Thực tiễn phát triển kinh tế xã hội ở nớc ta chỉ rõ vai trò chủ đạo của công
nghiệp bắt nguồn từ bản chất và đặc điểm u việt của nó. Tuy nhiên đối với ngành
kinh tế khác phải tổ chức lại sản xuất, nâng cao khả năng tiếp thu vai trò chủ đạo
của công nghiệp. Về phía Nhà nớc, phải điều hòa phối hợp hoạt động của các
ngành, các lĩnh vực kinh tế xã hội theo hớng hỗ trợ sản xuất cho công nghiệp phát
huy vai trò chủ đạo.
2. Công nghiệp với tăng trởng và phát triển kinh tế xã hội.
Công nghiệp đợc coi là chìa khoá để phát triển kinh tế-xã hội. Vì trình độ
phát triển công nghiệp là một tiêu chuẩn đánh giá trình độ phát triển của một quốc
gia, một vùng, và thu nhập bình quân đầu ngời do phát triển công nghiệp là tiêu
chuẩn chủ đạo đánh giá trình độ phát triển của một quốc gia, một địa phơng. Mặt
khác năng xuất lao động cao trong công nghiệp là chìa khoá dẫn đến sự gia tăng
thu nhập bình quân đầu ngời, tăng sức mua, mở rộng thị trờng hàng tiêu dùng và
dịch vụ. Đặc biệt là sự phát triển của công nghiệp chế biến. Vì vậy đây là ngành
tạo ra khả năng thay thế nhập khẩu có hiệu quả và cũng là ngành có khả năng tăng
xuất khẩu, giải quyết đầu ra cho sản xuất nông nghiệp, làm tăng giá trị nông sản
phẩm.
SV: Trịnh Tuấn Hùng Lớp Kinh tế phát triển 40
8
Chuyên đề thực tập
Công nghiệp càng đóng góp nhiều trong tổng sản phẩm quốc dân là điều
kiện để thu nhập theo đầu ngơì tăng cao.
3. Công nghiệp với giải quyết viêc làm.
Công nghiệp là ngành duy nhất tạo ra công cụ lao động, phơng tiện sản
xuất trang bị kỹ thuật cho các ngành, là cơ sở vật chất cho các ngành tạo ra việc
làm.
Mặt khác sự phát triển công nghiệp đòi hỏi phải mở rộng qui mô và số lợng
các doanh nghiệp, là tiền đề thu hút thêm lao động vào phục vụ sản xuất công
nghiệp.
4. Công nghiệp với thúc đẩy đa dạng hoá các mặt hàng xuất khẩu.
Quá trình phát triển công nghiệp đáp ứng nhu cầu thị trờng cái gì thị trờng
cần thì sẽ sản xuất ra. Do vậy công nghiệp hoá sẽ thúc đẩy thay đổi cơ cấu sản
xuất, thúc đẩy quá trình đa dạng hoá mặt hàng, sản xuất ra nhiều mặt hàng mới có
chất lợng cao, nâng cao khả năng bảo quản lâu dài các sản phẩm nông nghiệp
giúp cho việc tiến hành xuất khẩu thuận tiện. Đối với Việt Nam và Thanh Hoá,
công nghiệp không chỉ tăng thu nhập, tăng khối lợng sản phẩm mà còn là phơng
thức để hiện đại hoá cơ cấu sản xuất, thay đổi tập quán kinh tế xã hội, tập quán
tiêu dùng. Trớc năm 1975 Thanh Hoá mới chỉ sản xuất đợc 20 mặt hàng tiêu
dùng, 2 mặt hàng cơ khí và vài mặt hàng trung gian. Nhng từ năm 1990 đến nay,
sự phát triển mạnh mẽ của công nghiệp, số lợng các mặt hàng công nghiệp của
Thanh Hoá đã tăng lên nhanh chóng, không chỉ đáp ứng nhu cầu tiêu dùng đa
dạng trong nớc mà còn xuất khẩu, sản xuất đợc nhiều mặt hàng đòi hỏi công nghệ
cao.
Từ thực tế đã chứng minh đợc phát triển công nghiệp có vai trò lớn trong
việc tạo ra sự đa dạng sản phẩm và thúc đẩy xuất khẩu.
5. Công nghiệp với việc làm tăng giá trị mặt hàng của mọi lĩnh vực
sản xuất.
Sự phát triển công nghiệp làm tăng giá trị mặt hàng của mọi lĩnh vực sản
xuất. Khả năng cạnh tranh của hàng hoá trên thị trờng đợc quyết định bởi trình độ
công nghệ. Trình độ công nghệ càng cao, chất lợng hàng càng tốt và giá hạ. Chất
lợng và giá cả là hai yếu tố cơ bản để thắng trong cạnh tranh, chiếm lĩnh thị trờng.
Nh đối với Việt Nam nông , lâm, thuỷ sản là những ngành có thế mạnh,
nhng những năm trớc đây sản phẩm này không qua chế biến, xuất khẩu nguyên
liệu thô nên khó tiêu thụ, giá trị sản phẩm xuất khẩu thấp. Nhờ có công nghiệp
phát triển mà ngày nay nông sản phẩm của Việt Nam ngày càng có giá hơn. Tuy
vậy nông sản phẩm nớc ta xuất khẩu vẫn hạ hơn so với sản phẩm cùng loại của
một số nớc mà chủ yếu là do công nghệ, trình độ chế biến cha bằng họ, cha có
công nghiệp chế biến thích hợp với thị trờng thế giới. Từ đây thấy đợc vai trò phát
SV: Trịnh Tuấn Hùng Lớp Kinh tế phát triển 40
9
Chuyên đề thực tập
triển công nghiệp quan trọng nh thế nào đối với việc làm tăng chất lợng hàng hoá,
quyết định đến hiệu quả sản xuất kinh doanh.
6. Công nghiệp với nâng cao chất lợng cuộc sống.
Phát triển công nghiệp dẫn đến sự thay đổi căn bản chất lợng cuộc sống do
phát triển công nghiệp dẫn đến thu nhập theo đầu nguời tăng lên, tỷ lệ học sinh, tỷ
lệ thầy thuốc trên 1000 ngời tăng làm cho chất lợng cuộc sống tăng lên, nhng h-
ớng này còn tuỳ thuộc vào sự đứng đắn của cuộc sống và sự khôn khéo của chính
phủ mỗi nức. Theo qui luật Kuznet ở giai đoạn đầu của quá trình phát triển công
nghiệp làm phân hoá giàu nghèo tăng lên. Nhng khi kinh tế phát triển cao thì sự
phân hoá giàu nghèo giảm dần. Vậy phát triển công nghiệp có vai trò làm cho
chất lợng của mọi ngời trong nền kinh tế đều tăng tạo sự phát triển ổn định.
8. Phát triển công nghiệp là điều kiện cơ bản của công nghiệp hóa,
hiện đại hóa đất nớc.
Có nhiều định nghĩa về công nghiệp hóa, hiện đại hóa do cách tiếp cận khác
nhau. Nếu xét về mục tiêu, công nghiệp hóa, hiện đại hóa là quá trình cải biến lao
động thủ công lạc hậu thành lao động sử dung kỹ thuật và công nghệ tiên tiến để
đạt đợc năng suất lao động xã hội cao.
Hội nghị giữa nhiệm kỳ Ban chấp hành Trung ơng Đảng khóa VII đã nêu:
"Công nghiệp hóa - hiện đại hóa là quá trình chuyển đổi căn bản toàn diện các
hoạt động sản xuất kinh doanh, dịch vụ và quản lý kinh tế xã hội từ sử dụng lao
động thủ công là chính sang sử dụng một cách phổ biến sức lao động, công nghệ,
phơng tiện và phơng pháp tiên tiến, hiện đại dựa trên sự phát triển của công
nghiệp và tiến bộ khoa học - công nghệ, tạo ra năng suất lao động xã hội cao".
Nh vậy ở nớc ta công nghiệp hóa là quá trình chuyển từ một nớc sản xuất
nhỏ, kỹ thuật lạc hậu và năng suất lao động thấp thành một nớc có cơ cấu công
nông nghiệp và dịch vụ hiện đại, khoa học và công nghệ tiên tiến, năng suất lao
động cao trong các ngành kinh tế quốc dân.
Công nghiệp hóa, hiện đại hóa là quá trình mang tính tất yếu lịch sử. Tất cả
các quốc gia công nghiệp phát triển hiện nay đều trải qua quá trình công nghiệp
hóa ở những thời điểm khác nhau với những điều kiện lịch sử kinh tế xã hội khác
nhau. Với hầu hết các nớc đang phát triển hiện nay, công nghiệp hóa là một chính
sách chủ yếu và thách thức lớn.
Đối với Việt Nam thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa là con đờng thoát
khỏi nguy cơ tụt hậu so với các nớc trong khu vực, thoát khỏi cảnh một nớc kém
phát triển nghèo và đói, đồng thời giữ vững và ổn định chính trị, bảo vệ đợc độc
lập chủ quyền và định hớng xã hội chủ nghĩa.
Chỉ có công nghiệp hóa, hiện đại hóa mới đa nớc ta thoát khỏi nghèo nàn, lạc
hậu. Các Mác cho rằng, những thời đại kinh tế khác nhau không phải chúng sản
SV: Trịnh Tuấn Hùng Lớp Kinh tế phát triển 40
10
Chuyên đề thực tập
xuất ra cái gì mà ở chỗ chúng sản xuất bằng cách nào. Đẩy mạnh công nghiệp hóa,
hiện đại hóa sẽ giúp chúng ta có lực mới đẩy nhanh tốc độ phát triển, đa Việt Nam
lên ngang tầm với các nớc trong khu vực và thế giới.
Để thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nớc, trớc hết phải có nền
công nghiệp hiện đại và việc phát triển công nghiệp phải nhằm tạo ra cơ sở vật
chất kỹ thuật cho nền sản xuất xã hội và cho xây dựng cơ cấu kinh tế mới. Do đó,
Hội nghị trung ơng giữa nhiệm kỳ khóa VII của Đảng Cộng sản Việt Nam đã chỉ
ra "Công nghiệp hóa không chỉ đơn giản là tăng tốc đo và tỷ trọng của công
nghiệp trong nền kinh tế quốc dân mà là chuyển dịch cơ cấu gắn với đổi mới căn
bản về công nghệ, tạo nền tảng cho sự tăng trởng nhanh, hiệu quả cao và bền vững
của toàn bộ nền kinh tế quốc dân.
Điều này đợc thể hiện, sản xuất công nghiệp phát triển không ngừng thúc
đẩy việc hiện đại hóa bản thân nó mà còn góp phần tăng thêm yếu tố vật chất kỹ
thuật để thúc đẩy việc cải tạo và phát triển các ngành kinh tế khác theo hớng công
nghiệp hóa, hiện đại hóa.
Theo sự trình bày ở những phần trên cho thấy: phát triển các ngành công
nghiệp là nền tảng, là nội dung, là điều kiện cơ bản của công nghiệp hóa, hiện đại
hóa, cho nên các biện pháp công nghiệp hóa, hiện đại hóa các ngành công nghiệp
phải quán triệt các mục tiêu công nghiệp hóa, hiện đại hóa; phải thực hiện theo
yêu cầu của cơ chế thị trờng, có sự quản lý vĩ mô của Nhà nớc theo định hớng xã
hội chủ nghĩa; phải đảm bảo tính đồng bộ nhằm thực hiện có hiệu quả các mục
tiêu đề ra.
Phát triển công nghiệp phục vụ công nghiệp hóa, hiện đại hóa phải nhằm vào
hai mục tiêu:
- Đổi mới công nghệ của phần lớn doanh nghiệp, phát triển nhanh một số
ngành có lợi thế, hình thành một số ngành mũi nhọn trong các lĩnh vực chế biến l-
ơng thực, thực phẩm, khai thác và chế biến dầu khí, công nghiệp điện tử và công
nghệ thông tin, cơ khí chế tạo sản xuất vật liệu.
III. Đánh giá tác động các yếu tố nguồn lực đến phát triển công
nghiệp tỉnh Thanh Hóa.
1. Điều kiện tự nhiên.
Tỉnh Thanh Hóa có diện tích tự nhiên 11.106,09 km
2
, là tỉnh có miền núi,
vùng cao biên giới, vùng đồng bằng và biển, xếp thứ 6 về diện tích trong cả nớc.
Dân số toàn tỉnh 3,52 triệu ngời, xếp thứ 2 về dân số, có các dân tộc Kinh, Mờng,
Thái, Tày, Dao, H'Mông Mật độ dân số vào loại trung bình: 317 ngời/km
2
. Về tổ
chức hành chính gồm 24 huyện, 1 thành phố cấp 3, 2 thị xã, với tổng số 582 xã,
30 thị trấn, trong đó 220 xã thuộc miền núi. Dân số độ thị chiếm 9,2% dân số toàn
tỉnh (1999).
SV: Trịnh Tuấn Hùng Lớp Kinh tế phát triển 40
11
Chuyên đề thực tập
1.1. Vị trí địa lý kinh tế:
Tỉnh Thanh Hóa phía Bắc giáp với ba tỉnh Sơn La, Hòa Bình, Ninh Bình,
phía Nam giáp Nghệ An, phía Tây giáp tỉnh Hủa Phăn (nớc CHDCND Lào), phía
Đông là vịnh Bắc bộ với chiều dài bờ biển 102 km.
Tọa độ địa lý: 19
0
18 - 20
0
00 độ Bắc
104
0
22 - 106
004
kinh độ đông.
Chiều rộng từ Tây sang Đông chỗ rộng nhất: 110 km, từ Bắc xuống Nam:
100 km, cách thủ đô Hà Nội 150 km, Đà Nẵng 610 km và thành phố Hồ Chí Minh
1.560 km.
Thanh Hóa nằm ở vị trí cửa ngõ nối liền Bắc bộ với Trung bộ và Nam bộ có
một vị trí rất thuận lợi.
- Đờng sắt và đờng quốc lộ 1A, quốc lộ 10 chạy qua vùng đồng bằng và ven
biển của tỉnh, tạo điều kiện thuận lợi cho giao lu với các tỉnh và thành phố khác
trong cả nớc.
- Đờng chiến lợc 15A, đờng Hồ Chí Minh xuyên suốt vùng trung du và miền
núi của tỉnh và các miền trong cả nớc.
- Đờng 217 nối liền Thanh Hóa với tỉnh Húa Phăn của nớc bạn Lào.
- Hệ thống sông ngòi có 4 hệ thống sông với 5 cửa lạch chính thông ra
biển.
- Cảng biển Nghi Sơn cho tàu 10 ngàn tấn ra vào dễ dàng, là cửa ngõ của
Thanh Hóa và khu vực thông tin với nớc ngoài.
- Sân bay Sao Vàng có khả năng mở rộng kết hợp với dịch vụ dân dụng.
- Do vị trí địa lý, Thanh Hóa là tỉnh nằm trong vùng ảnh hởng của những tác
động từ các khu vực trọng điểm kinh tế phía Bắc, Trung bộ, Nam bộ nên có khả
năng tiếp nhận, cung ứng trao đổi hàng hóa và dịch vụ với địa phơng khác. Đồng
thời có đủ điều kiện để phát triển một nền kinh tế tơng đối hoàn chỉnh.
- Đặc biệt, phía Đông tỉnh có dải bờ biển dài 102 km với khu vực Nghị Sơn
chứa đựng tiềm năng to lớn về giao lu quốc tế mà hiện nay tỉnh cha có điều kiện
khai thác nên tác động của phát triển kinh tế thế giới ít có điều kiện trực tiếp đến
với Thanh Hóa. Trong thời kỳ tới, khi giao lu quốc tế đợc mở ra trực tiếp trên địa
bàn Thanh Hóa, đây sẽ là nhân tố mới đột phá làm thay đổi mạnh mẽ cơ cấu kinh
tế của tình và của vùng Nam Thanh Bắc Nghệ, trong đó có dịch vụ cảng biển với
qui mô lớn.
Đồng bằng sông Mã đứng thứ ba cả nớc sau đồng bằng sông Cửu Long và
đồng bằng sông Hồng. Nghi Sơn Tĩnh Gia đang hình thành những nhân tố tạo
thành lối ra đối với khu vực vừa là một trong những cửa ngõ phía Bắc, Bắc Trung
bộ vừa có liên quan đến sự phát triển của hành lang Đông Tây. Đoàn chuyên gia
Nhật Bản giúp Việt Nam lập qui hoạch tổng thể phát triển công nghiệp đã nghiên
cứu và có đề xuất với Chính phủ Việt Nam nên mở rộng tam giác phía Bắc, lấy
Nghi Sơn là một tỉnh phát triển. Khu công nghiệp động lực Nghi Sơn đã đợc qui
hoạch gắn với Quỳnh Lu (Nghệ An) thành vùng kinh tế động lực Nam Thanh Bắc
SV: Trịnh Tuấn Hùng Lớp Kinh tế phát triển 40
12
Chuyên đề thực tập
Nghệ với tính chất khu vực.
1.2. Địa hình:
Thanh Hóa nằm ở độ cao trung bình so với mặt nớc biển là 750,5m, nơi cao
nhất là đỉnh Phu Pha Phong (Quan Hóa - Bá Thớc) dọc dãy Trờng Sơn cao
1,587m, nơi thấp nhất là Hà Trung - 1m. Địa hình tơng đối phức tạp, thấp dần từ
Tây sang Đông và chia làm ba vùng rõ rệt.
Địa hình bị phân cách bởi hệ thống sông Mã, sông Chu, sông Lèn và sông
Yên chảy từ Tây sang Đông có độ dốc khá lớn.
1.3. Khí hậu:
Là tỉnh chịu ảnh hởng của khí hậu nhiệt đới gió mùa. Có hai mùa rõ rệt trong
năm. Mùa ma kéo dài từ tháng 5 đến tháng 10. Mùa khô kéo dài từ tháng 11 đến
tháng 4 năm sau. Nhiệt độ trung bình hàng năm từ 20
0
-24
0
C. Lợng ma phân bố
không đều trên lãnh thổ, trung bình hàng năm khoảng 1.500-1.900mm. Gió với
tần suất khác nhau xuất hiện theo các hớng phổ biến là gió Đông - Nam, Bắc, Tây
Bắc và Tây với tốc độ trung bình 1,8m/s. Tốc độ cực đại có thể đạt 40m/s. Đặc
biệt gió Tây khô nóng thờng gây bất lợi cho sản xuất và đời sống. Mùa ma bão th-
ờng diễn ra từ tháng 9 đến tháng 10 hàng năm tới tần suất 2-3 cơ bão một năm.
Nhìn chung, khí hậu Thanh Hóa: ma lớn, nhiệt độ cao, ánh sáng dồi dào là
điều kiện thuận lợi phát triển nông, lâm, ng nghiệp và công nghiệp. Tuy nhiên cần
chú ý hiện tợng bão lụt vào mùa ma và gió nóng vào mùa khô, chủ động điều
chỉnh lịch gieo trồng cho thích hợp.
1.4. Tài nguyên đất:
Thanh Hóa có diện tích tự nhiên là 11.160,2 km
2
đứng thứ 7 trên 61 tỉnh,
thành trong cả nớc và chiếm 3,37 tổng diện tích tự nhiên cả nớc. Tài nguyên đất
có 7 nhóm đất chính và 28 loại đất khác nhau, đủ để phát triển sản xuất nông -
lâm - ng nghiệp và xây dựng cơ bản tơng đối toàn diện và phân bổ tơng đối đồng
đều trên phạm vi toàn tỉnh. Hiện tại mới sử dụng vào sản xuất nông nghiệp đợc
trên 236,740 ha chiếm 21% diện tích tự nhiên. Khả năng mở rộng diện tích đất
nông nghiệp còn rất lớn, trong đó đất hoang đồi núi là 65,354 ha, đất hoang đồng
bằng 17,657 ha. Diện tích đồi núi trọc cần phủ xanh là 341,610 ha. Mặt nớc ngọt
và lợ chua đợc khai thác triệt để là 16,6 ngàn ha.
1.5. Tài nguyên rừng:
Rừng Thanh Hóa chủ yếu là rừng là ruộng, có hệ thực vật phong phú, đa
dạng về họ, loài Gỗ quí hiếm có lạt, pơmu, trầm hơng gỗ nhóm I, II có samu,
lim xanh, táu sến nhóm III, IV có vàng tâm, dổi, de, chò chỉ Các loại thuộc họ
tre, nứa gồm có luồng, nứa, vầu, lùng, giang, bơng, tre Ngoài ra còn có mây,
song dợc liệu có quẽ cánh kiến đỏ Nhìn chung vùng rừng giàu và trung bình
SV: Trịnh Tuấn Hùng Lớp Kinh tế phát triển 40
13
Chuyên đề thực tập
còn phân bổ trên các dãy cao ở biên giới Việt - Lào và một số vùng ở Bù Man, Bù
Dinh, Bù Kha nằm ở xa đờng giao thông và dân c, còn lại là các rừng nghèo vì
bị khai thác quá mức, cần đợc cải tạo.
Đáng chú ý là vùng tre, nứa phân bổ ở Nh Xuân, Thờng Xuân, Lang Chánh,
Quan Hóa, là nguồn nguyên liệu giấy, bao bì các tông cần đợc khai thác, sử
dụng hợp lý. Đây là tài nguyên quí giá của rừng Thanh Hóa mà không nơi nào có
đợc để phát triển công nghiệp giấy trong tơng lai.
1.6. Tài nguyên nớc:

Thanh hóa có hệ thống sông suối đa dạng, chia ra 4 hệ thống sông chính là
sông Mã, sông Bang, sông Yên, sông Hoạt và các hệ thống sông Mã là sông Chu
và sông Bởi có tổng chiều dài 881 km, tổng diện tích lu vực là 39,756 km
2
, tổng l-
ợng nớc trung bình hàng năm 19,520 tỷ m
3
. Với trữ lợng nớc trên mặt có thể thỏa
mãn nhu cầu tới tiêu cho nông nghiệp và phát triển các vùng công nghiệp, cho sản
xuất, cho sản xuất công nghiệp và sinh hoạt của nhân dân.
Hệ thống sông suối Thanh Hóa chảy qua nhiều vùng địa hình phức tạp,
chênh lệch về độ cao tạo ra khả năng phát triển thủy điện khá lớn. Riêng sông Mã,
trữ năng điện lý thuyết đạt tới 12 tỷ kwh.
Nguồn nớc mặt với diện tích mặt sông (gần 4 triệu ha), ao, hồ, dầm lầy
(5545 ha) khá lớn có thể khoanh vùng nuôi trồng thuỷ sản nớc ngọt.
Tuy nhiên, việc khai thác nguồn nớc mặt đang có nhiều khó khăn do nguồn
nớc phân bố không đều giữa các vùng và mùa trong năm, muốn chế ngự cần đầu
t lớn. Vì vậy việc khai thác đến nay còn hạn chế, đôi khi chính nó lại gây ra nhiều
tác hại nh lũ lụt, úng
1.7. Tài nguyên biển:

Thanh Hóa có 102 km bờ biển hình cánh cung, chạy dài từ Cửa Đáy (Ninh
Bình) đến Đông Hồi (Tĩnh Gia) và vùng lãnh hải rộng lớn diện tích 1,7 vạn km
2
chịu ảnh hởng chi phối bởi các dòng chảy lu nóng và lạnh tạo thành các bãi cá,
tôm trữ lợng lớn so với các tỉnh phía Bắc.
Vùng biển nằm trong vùng bể trầm tích chứa dầu khí, đã phát triển và thăm
dò một số túi khí ngoài khơi có triển vọng khai thác công nghiệp.
Bên cạnh đó, cảng nớc sâu Nghi Sơn có vị trí và đặc điểm rất thuận lợi cho
phát triển thành một cảng lớn của nớc, vì vậy sẽ mở ra triển vọng to lớn về vận tải
biển và khai thác tiềm năng biển Thanh Hóa tơng lai.
1.8. Khả năng nuôi trồng thủy sản mặt lợ:
Diện tích bãi triều 8.000 ha là một tiềm năng lớn về nuôi trồng thủy sản nớc
lợ nh tôm sú, tôm he, cua và rong câu, trồng cói, trồng cây chắn sóng và sản xuất
muối.
SV: Trịnh Tuấn Hùng Lớp Kinh tế phát triển 40
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét