Thứ Ba, 25 tháng 2, 2014

Mở rộng hoạt động cho vay đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Ngân hàng TMCP Quân Đội, Chi nhánh Bắc Hải, TP. Hải Phòng

hộ, vừa đúc tiền. Những ngân hàng loại này được gọi là ngân hàng của những thợ
vàng. Nghề ngân hàng cũng được bắt đầu từ những người cho vay nặng lãi. Một số
người cho vay nặng lãi đã thực hiện cả nghiệp vụ đổi tiền, giữ hộ và thanh toán hộ.
Những người kinh doanh tiền tệ đầu tiên đã dùng vốn tự có để cho vay, nhưng
điều đó đã nhanh chóng được thay đổi. Từ hoạt động thực tiễn các chủ Ngân hàng
nhận thấy thường xuyên có người gửi tiền vào và có người lấy tiền ra, song tất cả
người gửi không rút tiền một lúc nên đã tạo số dư thường xuyên ở Ngân hàng. Do
tính chất vô danh của tiền, chủ ngân hàng có thể sử dụng tạm thời một phần tiền gửi
của khách hàng để cho vay. Hoạt động cho vay tạo nên lợi nhuận lớn cho ngân
hàng, do vậy các ngân hàng đều tìm cách mở rộng thu hút tiền gửi để cho vay bằng
cách trả lãi cho người gửi tiền. Bằng cách cung cấp các tiện ích khác nhau mà ngân
hàng huy động được ngày càng nhiều tiền gửi, là điều kiện để mở rộng cho vay và
hạ lãi suất cho vay.
Hình thức ngân hàng đầu tiên – ngân hàng của các thợ vàng, hoặc ngân hàng
của những kẻ cho vay nặng lãi thực hiện cho vay với các cá nhân chủ yếu là những
người giàu: quan lại, địa chủ… nhằm mục đích phục vụ tiêu dùng. Nhiều chủ ngân
hàng lớn còn mở rộng cho vay đối với vua chúa, nhằm tài trợ một phần nhu cầu chi
tiêu cho chiến tranh. Hình thức cho vay chủ yếu là thấu chi cho phép khách hàng chi
nhiều hơn số tiền gửi tại ngân hàng, một hình thức cho vay có nhiều rủi ro. Do lợi
nhuận từ cho vay rất cao nhiều chủ ngân hàng đã lạm dụng ưu thế của chứng chỉ
tiền gửi (lưu thông thay vàng hoặc bạc), phát hành chứng chỉ tiền gửi khống để cho
vay. Thực trạng này đã đẩy nhiều ngân hàng đến chỗ mất khả năng thanh toán và
phá sản. Sự sụp đổ của các ngân hàng gây khó khăn cho hoạt động thanh toán, ảnh
hưởng xấu đến hoạt động buôn bán. Hơn nữa lãi suất cao nên những nhà buôn
không thể sử dụng nguồn vốn này. Trước tình hình có nhiều nhà buôn tự thành lập
ngân hàng, gọi là ngân hàng thương mại. Như vậy ngân hàng thương mại được hình
thành xuất phát từ vận động của tư bản thương nghiệp, và gắn liền với quá trình
luân chuyển của tư bản thương nghiệp. Ngân hàng thương mại cũng thực hiện các
hoạt động truyền thống của ngân hàng như huy động tiền gửi, thanh toán, cất giữ hộ
và cho vay. Tuy nhiên , điểm khác nhau giữa ngân hàng thương mại và ngân hàng
thợ vàng trước đó là ngân hàng thương mại chủ yếu cho nhà buôn vay dưới hình
5
thức chiết khấu thương phiếu. Đây là cácc khoản vay ngắn hạn, dựa trên quá trình
luân chuyển của hàng hoá với lãi suất phải thấp hơn lợi nhuận tạo ra cho phép sử
dụng tiền vay. Để đảm bảo an toàn, ngân hàng thương mại ban đầu không cho vay
đối với người tiêu dùng, không cho vay trung và dài hạn, không cho vay đối với nhà
nước. Sự phá sản của nhiều ngân hàng thương mại đã gây tổn thất lớn cho người
gửi tiền là nguyên nhân dẫn đến hình thành ngân hàng tiền gửi. Ngân hàng này
không cho vay chỉ thực hiện giữ hộ, thanh toán hộ để lấy phí. Đồng thời tại mỗi
nước, trong điều kiện lịch sử cụ thể đã hình thành nên nhiều loại ngân hàng khác
nhau như ngân hàng tiết kiệm, ngân hàng phát triển, ngân hàng đầu tư, Ngân hàng
Trung ương (Ngân hàng Nhà nước) … tạo nên hệ thống ngân hàng. Trong đó trừ
ngân hàng trung ương có chức năng xây dựng và điều hành chính sách tiền tệ quốc
gia, các ngân hàng còn lại dù có một số nghiệp vụ khác nhau song đều chung đặc
điểm là thực hiện kinh doanh tiền tê.
Cùng với sự phát triển kinh tế và công nghệ, hoạt động ngân hàng đã có
những bước tiến rất nhanh. Trước hết đó là sự đa dạng các loại hình ngân hàng và
các hoạt động ngân hàng. Từ các ngân hàng tư nhân, quá trình tích tụ và tập trung
vốn trong ngân hàng đã dẫn đến hình thành ngân hàng cổ phần. Quá trình gia tăng
vai trò quản lý Nhà nước đối với hoạt động ngân hàng đã tạo ra các ngân hàng
thuộc sỏ hữu nhà nước, các ngân hàng liên doanh, các tập đoàn ngân hàng phát triển
mạnh trong những năm cuối thế kỷ 20. Nhiều nghiệp vụ truyền thống vẫn được giữ
bên cạnh các nghiệp vụ mới đang ngày càng phát triển. Ngân hàng thương mại từ
chỗ chỉ cho vay ngắn hạn là chủ yếu đã mở rộng cho vay trung và dài hạn, cho vay
để đầu tư vào bất động sản. Nhiều ngân hàng mở rộng cho vay tiêu dùng. Kinh
doanh chứng khoán, cho thuê… Các hình thức huy động cũng ngày càng phong
phú. Các loại hình tiền gửi khác nhau được đưa ra nhằm đáp ứng tối đa nhhu cầu
của khách hàng. Bên cạnh các hình thức huy động tiền gửi, các ngân hàng đã mở
rộng các hình thức vay như vay ngân hành trung ương, vay các ngân hàng khác.
Công nghệ ngân hàng đã góp phần làm thay đổi các hoạt động cơ bản của ngân
hàng. Thanh toán điện tử đang thay thế dần thanh toán thủ công, đẩy nhanh tốc độ,
tính thuận tiện, an toàn trong thanh toán. Các loại thẻ đang thay thế dần tiền giấy và
dịch vụ ngân hàng 24 giờ, dịch vụ ngân hàng tại nhà đang tạo ra các tiện ích ngày
6
càng lớn cho dân chúng. Quá trình phát triển của các ngân hàng không những làm
gia tăng số lượng các ngân hàng mà còn làm tăng qui mô của mỗ ngân hàng. Tích tụ
và tập trung vốn đã tạo các công ty ngân hàng cực lớn với số vốn tự có hàng chục tỷ
đôla Mỹ, tổng tài sản hàng trăm tỷ đôla Mỹ, đủ sức để tài trợ cho những ngành công
nghiệp và dịch vụ mũi nhụn toàn cầu. Quá trình phát triển của các ngân hàng đang
tạo ra mối liên hệ rang buộc ngày càng chặt chẽ, sự phụ thuộc lẫn nhau ngày càng
lớn giữa các ngân hàng. Các hoạt động ngân hàng xuyên quốc gia và đa quốc gia đã
và đang thúc đẩy hình thành các hiệp hội, các tổ chức liên kết các ngân hàng nhằm
tạ ra các chính sách chung, hoặc tương thích để kiểm soát chung, để kết nối và tạo
sự thống nhất trong điều hành và vận hành hệ thồng ngân hàng trong mỗi quốc gia,
khu vực và quốc tế.
Lịch sử phát triển ngân hàng cũng đã chứng kiến nhiều khủng hoảng và hoảng
loạn ngân hàng trong mỗi quốc gia, khu vực và thế, gây tổn thất lớn cho nền kinh tế
và mất ổn định chính trị. Có thể nói, các vụ sụp đổ ngân hàng cũng là một khâu tất
yếu trong tiến trình phát triển của ngân hàng. Các nhà quản lý đã và đang không
ngừng cải tiến chính sách quản lý để hạn chế sự sụp đổ và mở đường cho sự phát
triển của khu vực ngân hàng.
 Khái niệm ngân hàng và ngân hàng thương mại: Qua xem xét quá
trình hình thành và phát triển của Ngân hàng, dựa trên các loại hình dịch vụ được
cung cấp bởi chúng ta có khái niệm tổng quát nhất về ngân hàng và Ngân hàng
thương mại.Ngân hàng là các tổ chức tài chính cung cấp một danh mục các dịch vụ
tài chính đa dạng nhất – đặc biệt là tín dụng, tiết kiệm, dịch vụ thanh toán và thực
hiện nhiều chức năng tài chính nhất so với bất kỳ một tổ chức kinh doanh nào trong
nền kinh tế. Ngân hàng thương mại là một tổ chức kinh tế có tư cách pháp nhân hoạt
động kinh doanh trên lĩnh vực tiền tệ với hoạt động chính là huy động tiền gửi dưới các
hình thức khác nhau của khách hàng, trên cơ sở nguồn vốn huy động này và vốn chủ sở
hữu của ngân hàng để thực hiện các nghiệp vụ cho vay, đầu tư, chiết khấu đồng thời thực
hiện các nghiệp vụ thanh toán, môi giới, tư vấn và một số dịch vụ khác cho các chủ thể
trong nền kinh tế.
7
1.1.2. Các hoạt động cơ bản của Ngân hàng thương mại.
Theo khái niệm ở trên về ngân hàng, cho thấy ngân hàng là một tổ chức tài
chính cung cấp một danh mục đa dạng các dich vụ tài chính đa dạng nhất, thực hiện
nhiều chức năng tài chính nhất. Tuy nhiên, một cách tổng quat ta có thể xem xét
ngân hàng với ba hoạt động cơ bản bao gồm: Hoạt động huy động vốn, hoạt động
sử dụng vốn và các hoạt động trung gian
1.1.2.1. Hoạt động huy động vốn
Ngân hàng kinh doanh tiền tệ dưới hình thức huy động, cho vay, đầu tư và
cung cấp các dịch vụ khác. Huy động vốn tạo nguồn vốn cho ngân hàng thương mại
– đóng vai trò quan trọng ảnh hưởng đến chất lượng hoạt động của ngân hàng. Với
chức năng là trung gian tài chính trong hệ thống kinh tế, là cầu nối giữa những
người có vốn nhàn rỗi nhưng chưa tìm được cơ hội đầu tư với những người có kế
hoạch đầu tư hiệu quả nhưng gặp khó khăn về vốn, Ngân hàng tập trung các khoản
tiền nhàn rỗi trong dân cư và phân phối chúng tới các tổ chức, cá nhân có nhu cầu
vay vốn. Lợi nhuận của ngân hàng chính là phân chênh lệch giữa tiền lãi thu được
từ các khoản cho vay sau khi trừ đi tiền lãi phải trả cho các khoản tiền gửi được huy
động tại ngân hàng cùng các khoản chi phí phục vụ hoạt động kinh doanh của ngân
hàng. Đây là hình thức chủ yếu trong hoạt động huy động vốn của các ngân hàng,
ngoài ra còn có những kênh dẫn vốn khác giúp ngân hàng đạt được lượng vốn cần
huy động để phục vụ hoạt động kinh doanh của mình.
 Vốn chủ sở hữu: Để bắt đầu hoạt động chủ ngân hàng phải có một
lượng vốn nhất định. Đây là loại vốn ngân hàng có thể sử dụng lâu dài, hình thành
nên trang thiết bị, nhà cửa cho ngân hàng. Nguồn này bao gồm: Vốn hình thành ban
đầu, nguồn vốn bổ sung trong quá trình kinh doanh như phần lợi nhuận giữ lại phát
hành thêm cổ phần, góp thêm. Tuỳ theo loại hình khác nhau các ngân hàng có vốn
hình thành khác nhau, với ngân hàng thuộc sở hữu nhà nước vốn ban đầu do ngân
sách nhà nước cấp, nếu là ngân hàng cổ phần vốn ban đầu do các cổ đông đóng góp
qua việc mua cổ phần cổ phiếu, Ngân hàng liên doanh là do các bên liên doanh góp,
ngân hàng tư nhân nguồn vốn ban đầu là của cá nhân bỏ ra (ngân hàng gia đình).
Trong quá trình hoạt động kinh doanh tiền tệ cũng giống như các doanh nghiệp sản
xuất kinh doanh, doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ thương mại, Ngân hàng giữ lại
8
một phần lợi nhuận để tái đầu tư mở rộng hoạt động làm tăng qui mô vốn chủ sở
hữu.
 Nguồn tiền gửi: Huy động vốn từ nguồn tiền gửi của khách hàng
chiếm vị trí quan trọng trong hoạt động huy động vốn của ngân hàng thương mại.
Để thực hiện nghịêp vụ này ngân hàng mở các tài khoản tiền gửi để giữ hộ và thanh
toán hộ cho các tổ chức, các doanh nghiệp, các cá nhân trong dân cư. Tiền gửi
thường chiếm tỷ trọng lớn trong tổng nguồn tiền huy động, thông thường nguồn này
chiếm hơn 50% tổng nguồn vốn của Ngân hàng. Đặc điểm chung nguồn tiền gửi là
ngân hàng phải thanh toán khi khách hàng yêu cầu ngay cả khi đó là tiền gửi có kỳ
hạn chưa đến hạn, với việc phải dự trữ bắt buộc làm cho chi phí trả cho tiền gửi
thường cao hơn lãi phải trả.Các ngân hàng ngày càng thực hiện nhiều hình thức huy
động để gia tăng lượng tiền gửi.
+ Tiền gửi thanh toán (tiền gửi giao dịch): Doanh nghiệp, tổ chức, và các cá
nhân gửi tiền của họ vào ngân hàng nhằm phục vụ nhu cầu thanh toán hàng ngày.
Ngân hàng đứng ra giữ hộ và thanh toán hộ khi phát sinh việc thanh tóan dựa trên
số dư thực tế của khách hàng. Với các khoản tiền gửi thanh toán, khách hàng chí
nhận được mức lãi suất rất thấp (hoặc lãi suất bằng không) nhưng khả năng thanh
toán của họ thì luôn được đảm bảo khi có nhu cầu chi trả. Ngày nay, các ngân hàng
còn cho phép thực hiện chi trả vượt số dư của các khoản tiền gửi thanh toán trong
một giới hạn nhất định đáp ứng việc khách hàng có nhu cầu chi tiêu đột xuất.
+ Tiền gửi có kỳ hạn của doanh nghiệp, của các tổ chức xã hội: Người gửi
không được sử dụng các hình thức thanh toán đối với tiền gửi thanh toán để áp dụng
đối với loại tiền gửi này. Nếu cần chi tiêu, người gửi phải đến ngân hàng để rút tiền.
Tuy việc thanh toán không thuận lợi so với tiền gửi thanh toán nhưng tiền gửi kỳ
hạn được hưởng lãi suất cao hơn tuỳ theo kỳ hạn gửi tiền.
+ Tiền gửi tiết kiệm của dân cư: Rất nhiều doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân
trong dân cư ở một thời điểm nhất định nào đó có những khoản tiền nhàn rỗi (các
khoản tiền tiết kiệm) nhưng chưa có cơ hội đầu tư hiệu quả mang lại lợi nhuận.
Trong trường hợp này lựa chọn tốt nhất là họ gửi số tiền tiết kiệm của mình vào
ngân hàng nhằm mục đích bảo toàn và sinh lời, đặc biệt là nhu cầu bảo toàn bởi tiền
có giá trị theo thời gian một đồng ngày hôm nay lớn hơn một đồng ngày mai do
9
chịu ảnh hưởng của lạm phát. Nhằm thu hút ngày càng nhiều tiền tiết kiệm, ngân
hàng đưa ra các hình thức huy động đa dạng, mức lãi suất hấp dẫn khuyến khích
dân cư không giữ tiền mặt hay vàng tại nhà mà gửi tại ngân hàng (như tiền gửi với
các kỳ hạn khác nhau, tiết kiệm bằng ngoại tệ, bằng vàng, gửi tiết kiệm trúng
thưởng vàng hay nhận ngay tiền mặt…). Ngân hàng có thể mở cho mỗi người tiết
kiệm nhiều chương mục tiết kiệm (hoặc là sổ tiết kiệm) cho mỗi kỳ hạn và mỗi lần
gửi khác nhau. Sổ tiết kiệm không để thanh toán tiền hàng và dịch vụ song có thể
thế chấp để vay vốn.
+ Ngoài ra ngân hàng còn có thể huy động vốn từ nguồn tiền gửi của các ngân
hàng khác với mục đích thanh toán hộ hoặc một số mục đích khác. Tuy nhiên,
nguồn này thường chiếm tỷ trọng rất nhỏ so với tổng vốn huy động của ngân hàng.
 Nguồn đi vay: Trong hoạt động kinh doanh tiền tệ của ngân hàng
tiền gửi là nguồn huy động quan trọng nhất. Mặc dù vậy, ngân hàng thường phải đối
mặt với những tình huống phát sinh bất thường, lúc đó ngân hàng thường vay mượn
thêm. Các nguồn vay thường có thời hạn và qui mô xác định trước tạo thành nguồn
ổn định cho ngân hàng. Tuy nhiên, do mức độ rủi ro cao hơn nên lãi suất cho tiền
vay lớn hơn so với lãi suất trả cho các khoản tiền gửi có cùng kỳ hạn. Ngân hàng có
thể vay NHNN, vay các tổ chức tín dụng khác, vay trên thị trường vốn…
+ Vay NHNN (Vay ngân hàng TW): Đây là khoản vay nhằm giải quyết nhu
cầu cấp bách của ngân hàng thương mại. Trong trường hợp thiếu hụt dự trữ (dự trữ
bắt buộc, dự trữ thanh toán), ngân hàng thương mại thường vay NHNN với hình
thức chủ yếu là tái chiết khấu các thương phiếu đã được các ngân hàng thương mại
chiết khấu trở thành tài sản của họ. Nghiệp vụ này làm thương phiếu của NHTM
giảm đi và dự trữ, tiền mặt hoặc tiền gửi tại NHNN tăng lên. Trong điều kiện chưa
có thương phiếu, NHNN cho NHTM vay dưới hình thức tái cấp vốn theo hạn mức
tín dụng.
+ Vay các tổ chức tín dụng khác: Đây là nguồn các ngân hàng vay mượn lẫn
nhau hoặc vay của các tổ chức tín dụng khác trên thị trường liên ngân hàng. Các
ngân hàng thiếu hụt dự trữ có nhu cầu vay mượn tức thời để đảm bảo thanh khoản,
đáp ứng nhu cầu dử trữ và chi trả cấp bách tìm kiếm các ngân hàng khác đang có dự
10
trữ vượt yêu cầu do có sự gia tăng các khoản tiền huy động hoặc giảm cho vay – các
ngân hàng này sẽ sẵn sàng cho vay với một mức lãi suất cao.
+ Vay trên thị trường vốn: Bằng hình thức phát hành các giấy nợ như kỳ
phiếu, tín phiếu, trái phiếu trên thị trường vốn ngân hàng sẽ có thể bổ sung lượng
vốn vay trung – dài hạn cần thiết để đáp ứng nhu cầu cho vay, đầu tư trung dài hạn.
Tuy nhiên, việc phát phát hành các giấy nợ sẽ gặp rất nhiều khó khăn, phụ thuộc
vào uy tín của ngân hàng, sự phát triển của thị trường tài chính, và ngân hàng sẽ
phải chi trả cho các khoản vay một mức lãi suất cao hơn so với các khoản vay cùng
kỳ hạn thông thường do phải chịu một số khoản phí đi kèm với việc phát hành giấy
nợ.
 Các nguồn khác: Ngoài các kênh huy động kể trên, ngân hàng có thể
gia tăng lượng vốn huy động bằng một số nguồn khác như nguồn uỷ thác, nguồn
trong thanh toán,các khoản thuế chưa nộp, chậm trả lượng cho cán bộ công nhân
viên… Phần lớn các nguồn này không phải trả lãi, tuy nhiên chi phí để có và duy trì
là rất đáng kể.
1.1.2.2. Hoạt động sử dụng vốn:
Như đã phân tích ở trên, ngân hàng cũng là một doanh nghiệp, với lĩnh vực
kinh doanh và hàng hoá đặc biệt, ngân hàng kinh doanh tiền tệ. Thu nhập của ngân
hàng chủ yếu thu được từ việc cho các cá nhân, doanh nghiệp, các tổ chức vay tiền.
Để đảm bảo về lợi nhuận, tiền lãi thu được từ các khoản cho vay phải lớn hơn lãi
suất chi trả cho các khoản tiền mà ngân hàng phải huy động đồng thời phải bù đắp
được các khoản chi phí phát sinh trong quá trình hoạt động kinh doanh. Ngoài việc
cho vay, ngân hàng còn tiến hành các hoạt động đầu tư sinh lời. Do vậy, hoạt động
sử dụng vốn của ngân hàng là quá trình tạo nên các loại tài sản khác nhau trong đó
cho vay và đầu tư là hai loại tài sản lớn và quan trọng. Cho vay và đầu tư là hoạt
động sử dụng vốn quan trọng nhất quyết định đến khả năng tồn tại và phát triển của
ngân hàng thương mại. Đây là các hoạt động cấu thành bộ phận chủ yếu và quan
trọng Tài sản của Ngân hàng, thành phần tài sản của Ngân hàng bao gồm: Dự trữ,
cho vay, đầu tư, và các tài sản có khác.
 Dự trữ: Hoạt động tín dụng của ngân hàng nhằm mục đích kiếm lời
song cần được đảm bảo an toàn để giữ được lòng tin của khách hàng. Muốn có sự
11
tin cậy từ phía khách hàng, trước hết ngân hàng phải đảm bảo về khả năng thanh
toán: Đáp ứng được nhu cầu rút tiền của khách hàng. Muốn vậy ngân hàng phải giữ
lại một tỷ lệ nhất định phần vốn huy động không sử vào các hoạt động như cho vay
hay đầu tư để sẵn sàng đáp ứng nhu cầu thanh toán khi có bất kỳ một nhu cầu rút
tiền nào từ phía khách hàng. Phần vốn để lại này gọi là dự trữ của ngân hàng. Ngân
hàng Nhà nước qui định tỷ lệ dự trữ bắt buộc đối với các ngân hàng thương mại ở
từng thời kỳ nhất định. Ngoài phần dự trữ bắt buộc theo qui định của pháp luật, các
ngân hàng còn thực hiện để lại phần dự trữ dôi da để tăng cường khả năng thanh
khoản của mình. Ở Việt Nam, do thị trường tài chính còn chưa phát triển mạnh, do
vậy phần dự trữ của các ngân hàng chỉ bao gồm tiền gửi tại NHNN và lượng tiền
mặt trong két, tuy nhiên ở các nước có thị trường tài chính phát triển mạnh như Mỹ,
Anh, Nhật… ngoài lượng tiền mặt trong két và tiền gửi tại Ngân hàng TW, phần dự
trữ của các ngân hàng còn bao gồm các chứng khoán có độ thanh khoản cao mà các
NHTM nắm giữ như tín phiếu kho bạc, và các chứng khoán do Chính phủ phát
hành.
 Hoạt động cho vay: Cho vay là hoạt động đặc trưng của các NHTM,
cho vay hay tín dụng là loại tài sản chiếm tỷ trọng lớn nhất trong cơ cấu tài sản của
Ngân hàng. Hoạt động cho vay mang lại phần lớn thu nhập cho ngân hàng. Hoạt
động cho vay của ngân hàng được phân chia theo nhiều tiêu thức khác nhau như
theo thời hạn cho vay, phân chia theo tài sản đảm bảo, phân chia theo ngành kinh tế
và theo mức độ rủi ro.
+ Theo thời hạn cho vay hoạt động cho vay của ngân hàng được chia thành
cho vay ngắn hạn, cho vay trung hạn và cho vay dài hạn. Cho vay ngắn hạn có thời
hạn cho vay nhỏ hơn 12 tháng, cho vay trung hạn có thời hạn từ 1 năm đến 5 năm,
cho vay dài hạn có thời hạn trên 5 năm. Tỷ trọng của từng loại là khác nhau, thông
thường tỷ trọng cho vay ngắn hạn cao hơn cho vay trung – dài hạn do cho vay trung
dài hạn có rủi ro cao hơn, nguồn vốn đắt và khan hiếm hơn, thời gian quay vòng
vốn lâu hơn so với cho vay ngắn hạn.
+ Theo tài sản đảm bảo hoạt động cho vay của ngân hàng được chia thành cho
vay có đảm bảo bằng tài sản thế chấp, cầm cố và cho vay không có tài sản đảm bảo
(cho vay tín chấp). Thông thường ngân hàng có quyền quản lý các tài sản của khách
12
hàng thế chấp để đảm bảo cho các khoản cho vay, giá trị của các khoản cho vay
thường thấp hơn giá trị của tài sản đảm bảo. Khi xảy ra rủi ro đối với khoản cho
vay, khách hàng không thể hoàn trả lại số tiền tiền vay, ngân hàng có quyền bán tài
sản để thu hồi nợ xấu. Để hạn chế rủi ro, ngân hàng yêu cầu khách hàng mua bảo
hiểm cho tài sản thế chấp khi ký kết hợp đồng tín dụng. Ngoài ra, ngân hàng còn
thực hiện việc cho vay mà không đòi hỏi khách hàng phải thế chấp tài sản hay cầm
cố sổ tiết kiệm đối với các khách hàng quen thuộc và tin cậy, đây là hình thức cho
vay tín chấp, các khoản vay được đảm bảo bằng uy tín và mối quan hệ của khách
hàng vay tiền với ngân hàng. Thường ngân hàng rất hạn chế việc cho vay tín chấp,
do vậy loại này thường chiếm tỷ trọng rất nhỏ.
+ Theo ngành kinh tế được phân chia theo đối tượng khách hàng trong các
ngành nghề kinh tế khác nhau, bao gồm: Cho vay sản xuất kinh doanh công nghiệp,
cho vay sản xuất nông nghiệp, cho vay đối với các ngành nghề sản xuất kinh doanh
thương mại và dịch vụ. Tỷ trọng của từng loại là khác nhau ở những thời điểm khác
nhau phụ thuộc vào định hướng chính sách của ngân hàng ở thời kỳ đó.
+ Theo mức độ rủi ro các khoản vay bao gồm khoản có độ rủi ro thấp, trung
bình, và cao. Việc phân loại theo tiêu thức rủi ro, giúp ngân hàng quản lý tốt hơn
các khoản cho vay hạn chế được rủi ro tín dụng.
 Hoạt động đầu tư: Để đa dạng hoá danh mục tài sản sinh lời, ngoài
hoạt động cho vay là hoạt động chính ngân hàng còn tìm kiềm các cơ hội đầu tư,
thực hiện đầu tư vào nhiều loại sản khác nhau với mục tiêu tối đa hoá lợi nhuận và
một số mục đích khác.
+ Đầu tư chứng khoán: Với mục tiêu thanh khoản, đa dạng dạng hoá tài sản và
mục đích lợi nhuận, ngân hàng nắm giữ nhiều loại chứng khoán khác nhau. Chứng
khoán của Chính phủ do KBNN phát hành bao gồm: Chứng khoán ngắn hạn, Chứng
khoán trung và dài hạn. Xét về tính thanh khoản, đây là loại chứng khoán có độ
thanh khoản cao nhất, ít rủi ro nhất đồng thời là loại tài sản có tính sinh lời thấp
nhất. Với đặc điểm như vậy, Chứng khoán của Chính phủ được ngân hàng nắm giữ
vì mục tiêu thanh khoản và là tài sản đệm cho ngân quỹ, như đã trình bày ở trên do
thị trường tài chính Việt Nam chưa thực sự phát triển nên việc coi chứng khoán do
Chính phủ phát hành là tài sản bổ sung ngân quỹ còn nhiều hạn chế. Chứng khoán
13
của các ngân hàng khác, của các công ty tài chính và các công ty khác bao gồm cổ
phiếu và các giấy nợ do các tổ chức này phát hành có thu nhập cao hơn, tuy nhiên
mức độ rủi ro của các loại này cũng rất cao. Xét về tính sinh lời, đây là những loại
hấp dẫn thu hút sự đầu tư của các ngân hàng.
+ Đầu tư bất động sản: Đầu tư vào bất động sản luôn chứa đựng rất nhiều rủi
ro, do vậy việc đầu tư này của các ngân hàng thương mại chịu sự giám sát quản lý
rất chặt chẽ của NHNN. Do tính rủi ro của việc đầu tư vào bất động sản là rất lớn
ảnh hưởng trực tiếp đến tính thanh khoản của ngân hàng nên việc đầu tư bất động
sản luôn chiếm tỷ trọng rất nhỏ so với tổng tài sản của ngân hàng, để thực hiện việc
đầu tư đòi hỏi ngân hàng phải có một đội ngũ cán bộ, chuyên viên có năng lực,
nhiều kinh nghiệm trong lĩnh vực này.
+ Đầu tư liên kết (góp vốn): Ngân hàng có thể tham gia góp vốn với các tổ
chức khác như các ngân hàng, các công ty tài chính, công ty bảo hiểm và các công
ty khác.
 Tài sản có khác: Bao gồm nhà cửa và trang thiết bị của ngân hàng
phục vụ cho quá trình kin doanh của ngân hàng và cho thuê, các khoản ứng trước
cho cán bộ công nhân viên,… Tuy chiếm tỷ trọng nhỏ trong tổng tài sản song các tài
sản này ảnh hưởng tới vị thế, năng suất lao động của ngân hàng
1.1.2.3. Hoạt động trung gian
Nói đến ngân hàng là nói đến một tổ chức tài chính với một danh mục các
dịch vụ tài chính đa dạng nhất, thực hiện nhiều chức năng tài chính nhất đối với nền
kinh tế quốc dân. Nói chung, các ngân hàng thu lợi bằng cách bán những tài sản nợ
có một số đặc tính về tính lỏng, rủi ro, lợi tức và dùng tiền thu được để mua những
tài sản có một số đặc trưng khác. Như thế, ngân hàng cung cấp một dịch vụ chuyển
một loại tài sản thành một loại tài sản khác cho công chúng. Quá trình chuyển các
tài sản và cung cấp một loạt dịch vụ (thanh toán, ghi chép sổ sách, phân tích tín
dụng,…) giống bất cứ quá trình sản xuất nào khác. Nếu ngân hàng tạo ra dịch vụ
hữu ích với chi phí thấp và có được doanh thu cao nhờ vào tài sản có thì sẽ thu được
lợi nhuận ngược lại, nếu doanh thu từ các tài sản thấp hơn mức chi phí ngân hàng
bỏ ra để duy trì các dịch vụ của mình thì sẽ chịu tổn thất. Với mục tiêu tối đa hoá lợi
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét