Chủ Nhật, 23 tháng 2, 2014

HỆTHỐNG GIÁO DỤC ĐẠI HỌC NGOÀI CÔNG LẬP ĐỨNG TRƯỚC THỜI CƠVÀ THÁCH THỨC


5

PHƯƠNG PHÁP SƯ PHẠM TƯƠNG TÁC VÀ HÌNH
THỨC ĐÀO TẠO THEO HỌC CHẾ TÍN CHỈ.

ThS. Cao Xuân Liễu
Khoa Sư phạm – Trường đại học Đà Lạt

Theo lộ trình đổi mới, cải cách giáo dục đại học Việt Nam thì tới năm
2010 các trường đại học trong cả nước sẽ áp dụng hình thức đào tạo theo tín
chỉ thay vì hình thức đào tạo theo niên chế như hiện nay (theo đề án đổi mới
giáo dục đại học Việt Nam). Đây là vấn đề mà nhiề
u nhà nghiên cứu giáo dục,
các trường đại học quan tâm, lo lắng vì nó liên quan đến sự tồn tại của cơ sở
giáo dục đào tạo trong bối cảnh có sự canh tranh gay gắt về giáo dục đại học
trên thế giới và Việt Nam. Cùng với sự thay đổi hình thức đào tạo theo học chế
tín chỉ, các lĩnh vực, khía cạnh khác của giáo dục đại học cũng buộc phải thay
đổi, chuyển mình
để vận hành cho phù hợp với hình thức này. Trong đó, đặc
biệt phải kể đến các yếu tố quan hệ mật thiết, chặt chẽ với nhau trong phương
pháp dạy - học ở trường đại học. Vì thế, ở bài viết này, chúng tôi muốn đề cập
tới vấn đề khai thác phương pháp sư phạm tương tác trong hình thức đào tạo
theo học chế tín chỉ nhằm phát huy ưu điể
m của loại hình thức này đồng thời
có tính đến vai trò của các yếu tố trong cấu trúc của phương pháp sư phạm
tương tác.
Trước hết, tín chỉ là đại lượng dùng để đo khối lượng tri thức, kỹ năng
của một môn học mà người học cần phải tích lũy trong một khoảng thời gian
nhất định thông qua các hình thức: (1) học tập trên lớp, (2) học tập trong
phòng thí nghiệm, thực tập hoặc làm các phần việc khác (có sự hướng dẫn của
giáo viên), (3) tự học ở lớp như đọc sách, nghiên cứu, giải quyết vấn đề hoặc
chuẩn bị bài. Tín chỉ còn được hiểu là khối lượng lao động của người học trong
một thời gian nhất định trong những điều kiện học tập tiêu chuẩn. Hình thức
đào tạ
o theo học chế tín chỉ là hình thức đào tạo cho các sinh viên đạt được văn
bằng đại học qua việc tích lũy các loại kiến thức giáo dục khác nhau được đo
bằng một đơn vị xác định căn cứ trên khối lượng lao động học tập trung bình
của một sinh viên.
Theo hình thức đào tạo theo học chế tín chỉ, vai trò của người học được
phát huy tích cực tối đa dự
a trên sự trợ giúp của người giáo viên và ảnh hưởng
của môi trường xung quanh chi phối. Mối quan hệ: Người học – Giáo viên –
Môi trường là nhân tố tác động sâu sắc tới quá trình chủ động sáng tạo và học
tập của sinh viên. Phương pháp sư phạm tương tác cơ bản cũng dựa trên mối
quan hệ tương hỗ giữa ba tác nhân (Người học – Giáo viên – Môi trường). Ba
tác nhân này luôn quan hệ với nhau sao cho mỗi một tác nhân hoạt động và
phản
ứng dưới ảnh hưởng của hai tác nhân kia. Theo bản chất, ưu điểm của đào
tạo theo học chế tín chỉ và bản chất của phương pháp sư phạm tương tác, người
dạy đóng vai trò cố vấn cho quá trình học tập, người tham gia vào quá trình học
tập và nhà nghiên cứu. Với tư cách là cố vấn cho quá trình học tập, người dạy
giúp cho người học thể hiện rõ hơn những ý đị
nh của họ để qua đó có thể phát
huy được vai trò chủ động, sáng tạo và nguồn lực của chính họ để học tốt môn
học; giúp cho chính người dạy hiểu được những gì người học cần trong quá

6
trình học tập và những gì người học có thể tự làm được để có thể chuyển giao
những nhiệm vụ này cho họ thông qua hướng dẫn và giám sát. Đồng thời,
người dạy hướng sự tham gia tích cực của người học vào những mục tiêu thực
tế nhất của giáo dục hiện đại: học gắn với hành. Với tư cách là người tham gia
vào quá trình dạy – học, người dạy hoạt
động như một thành viên tham gia vào
quá trình học tập ở trên lớp với các nhóm người học. Với tư cách vừa là cố vấn,
vừa là người tham gia vào quá trình học tập, người dạy còn có thêm vai trò bổ
sung là nguồn tham khảo có giá trị cho người học, giúp người học tháo gỡ
những khó khăn trong quá trình học tập và nghiên cứu. Với tư cách là người
học và người nghiên cứu, người dạy là một thành viên tham gia học tập ở trên
lớ
p và ở một chừng mực nào đấy họ có điều kiện trở lại vị trí của người học,
hiểu và chia sẻ những khó khăn, trách nhiệm học tập với họ. Có thực hiện được
vai trò của người học thì người dạy mới có thể phát huy được vai trò tích cực
của người học, lựa chọn được phương pháp và kỹ năng giảng dạy thích hợp.
M
ặt khác, với tư cách là nhà nghiên cứu, người dạy có khả năng đóng góp khả
năng và kiến thức của mình vào việc tìm hiểu bản chất của quá trình dạy học,
những yếu tố tâm lý xã hội ảnh hưởng đến quá trình dạy học, hiểu được đây là
nhiệm vụ liên nhân: người dạy và người học đều có trách nhiệm tham gia trong
đó người học có vai trò trung tâm, người dạy có vai trò hỗ trợ.
Tươ
ng tác với người dạy trong quá trình dạy – học, trong phương thức
đào tạo theo học chế tín chỉ, người học phải cố gắng và phải được tạo điều kiện
để thực sự trở thành người đàm phán tích cực và có hiệu quả với chính mình
trong quá trình học tập, với mục tiêu học tập, với thành viên trong lớp học và
với chính người dạy. Vì dạy học theo trường lớp là m
ột quá trình cộng sinh nên
ngoài những vai trò đã kể trên, người học trong phương thức đào tạo theo tín
chỉ còn phải đảm nhiệm thêm một vai trò quan trọng nữa là: người tham gia
vào môi trường cộng tác dạy học. Họ đóng vai trò vừa là thành phần hợp pháp
của quá trình dạy học vừa là cộng sự với người dạy trong việc lựa chọn nội
dung, phương pháp vừa là người cung cấp thông tin phản hồi cho người d
ạy.
Người học và người dạy không thể tách rời môi trường bao quanh. Đó là
môi trường tự nhiên sinh vật, đặc biệt là sự ảnh hưởng, tác động của môi
trường văn hóa, xã hội, chính trị, kinh tế. Tất cả các yếu tố này, bên trong cũng
như bên ngoài tạo thành môi trường bao quanh người dạy và người học. Tác
nhân này đóng một vai trò có ý nghĩa cao vì nó ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián
tiếp tới quá trình dạy – họ
c.
Từ những phân tích trên ta thấy rằng: hình thức đào tạo theo học chế tín
chỉ phát huy tính tích cực của ba nhân tố trong phương pháp sư phạm tương
tác, đặc biệt là người học ở vị trí trung tâm. Sơ đồ sau thể hiện tính tương tác
và vai trò của người dạy – người học và môi trường:







Người học
Môi trường Người dạy

7


Phương pháp sư phạm tương tác đặc biệt làm tăng giá trị các mối quan
hệ tác động qua lại tồn tại giữa người dạy, người học và môi trường. Hình vẽ
trên, tam giác mũi tên tượng trưng cho tất cả sự liên hệ năng động giữa ba tác
nhân. Các đường thẳng chỉ ra mối quan hệ giữa các tác nhân, trong khi hai đầu
của các đường thẳng dưới hình thức các mũi tên minh họa sự trao đổ
i qua lại
giữa chúng. Điều này cũng thể hiện ưu điểm nổi trội của hình thức đào tạo theo
hình thức tín chỉ, đặc biệt là phát huy vai trò tích cực, chủ động sáng tạo của
người học.
Đào tạo theo hình thức học chế tín chỉ ở các trường đại học Việt Nam là
phù hợp với xu thế hội nhập, giao lưu với đại học thế gi
ới trong bối cảnh hiện
nay. Tuy nhiên, để phát huy được tối đa các ưu điểm của loại hình đào tạo này
thì chúng ta cần thiết phải hiểu được bản chất của chúng và mối quan hệ mật
thiết giữa ba nhân tố không thể thiếu được trong quá trình dạy học là Người
học - Người dạy – Môi trường như đã phân tích ở trên./.

Tài liệu tham khảo:


1. Hoàng Văn Vân – Phương thức đào tạo theo tín chỉ: lịch sử, bản chất và
những hàm ý cho phương pháp giảng dạy bậc đại học –
www.Vnexpress.vn
2. Hoàng Văn Vân - Về việc áp dụng học chế tín chỉ trên thế giới và ở VN
– www.Vnexpress.vn
3. Jean – Marc Denomme và Madeleine Roy – Tiến tới một phương pháp
sư phạm tương tác – NXb Thanh niên 2003.


8
ĐỔI MỚI PHƯƠNG PHÁP DẠY VÀ HỌC TẠI ĐẠI HỌC
LUẬT THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRONG QUÁ
TRÌNH CHUYỂN SANG ĐÀO TẠO THEO HỌC CHẾ TÍN
CHỈ.

Đại học luật TP Hồ Chí Minh

I. Những thách thức trong việc đổi mới phương pháp giảng dạy khi
chuyển sang đào tạo theo học chế tín chỉ.
Những thách thức trong quá trình chuyển đổi sang đào tạo theo học chế
tín chỉ tại Đại học luật thành phố Hồ Chí Minh cũng là những thách thức chung
mà các trường Đại học trong cả nước phải trải qua trong quá trình chuyển đổi.
Thực tế cho thấy mặc dù về nhậ
n thức, chúng ta thừa nhận chuyển đổi việc Đào
tạo theo học chế tín chỉ là xu thế có tính tất yếu và từ năm 1988, theo chủ
trương của Bộ Giáo dục và Đào tạo nhiều trường Đại học Việt Nam đã áp dụng
những tiêu chuẩn của học chế tín chỉ một cách mềm dẻo, kết hợp niên chế theo
học phần-đơn vị học trình. Nhưng
đến nay, những khó khăn vẫn còn rất nhiều ở
phía trước với các trường đang quyết tâm chuyển đổi.

Có thể thấy, mặc dù ĐH Bách khoa Tp Hồ Chí Minh từ năm học 1993-
1994, trường ĐH Đà Lạt từ năm học 1994-1995 và một số khá đông các trường
ĐH khác ở cả ba miền đã bắt đầu áp dụng học chế học phần-đơn vị học trình
mộ
t cách triệt để hơn, gần với hệ thống tín chỉ hơn, nhưng cho đến nay, thực
chất vẫn chưa có trường nào xây dựng được mô hình hoàn thiện về đào tạo theo
tín chỉ mà mới đang ở mức “tiệm cận”.

Có rất nhiều lý do để chúng ta chưa có được học chế tín chỉ theo đúng
nghĩa mà chỉ “ na ná” tín chỉ, hay nói như một chuyên gia nhận xét: “Về cơ bản
họ
c chế của giáo dục đại học Việt Nam (GDĐH VN) đang áp dụng nhiều yếu
tố của hệ thống tín chỉ (credit system) của GDĐH thế giới”- nghĩa là “tín chỉ”
của các trường đang áp dụng hiện nay chưa thực sự hoàn chỉnh. Nguyên nhân
thì rất nhiều, đó có thể là do: sự chần chừ của các cấp lãnh đạo, sự thiếu thốn
cơ sở vật chất, th
ậm chí là sự thiếu chủ động cả về phía SV lẫn giáo viên…

Những khó khăn có tính tổng thể đó cũng chính là những thách thức mà
Đại học luật Thành phố Hồ Chí Minh phải vượt qua trong giai đoạn chuyển đổi
sang đào tạo theo hệ tín chỉ. Trong phạm vi tham luận này, chúng tôi tập trung
vào vấn đề đổi mới phương pháp dạy và học- đó là một trong những thách thức
căn bản nhưng cũ
ng là chìa khóa mở cửa để chuyển sang đào tạo theo hệ tín
chỉ.

1.1. Thách thức đối với người dạy trong việc đổi mới phương pháp giảng
dạy khi chuyển sang đào tạo theo HCTC.

9
Để chuyển đổi sang học chế tín chỉ, yêu cầu hàng đầu là phải đổi mới
phương pháp dạy, học theo “ 3C: Giáo viên chỉ hướng dẫn SV cách học, tăng
cường hơn nữa quyền chủ động của SV và khai thác tối đa ứng dụng công nghệ
thông tin và truyền thông vào nhà trường”.

Với nhiều trường đại học, yêu cầu này của học chế tín chỉ (HCTC) là
một thách thức lớn đối với người dạy vì không ít giáo viên lâu nay vẫn giảng
dạy theo phương pháp truyền thống là thuyết trình, không quen với công nghệ
thông tin, không biết cách làm lớp học trở nên sinh động và không động viên
được người học. Chuyển sang HCTC, một bộ phận không nhỏ giáo viên phải
bắt đầu cập nhật những kiến thức căn bản về sử dụng các phương pháp giảng
dạy hiện đại nh
ư sử dụng thuần thục hệ thống đèn chiếu, hệ thống âm thanh,
ánh sáng cho lớp học, sử dụng công nghệ thông tin để xử lý phim, hình có tính
minh họa cho các bài giảng luật…đây là trở ngại đầu tiên đối với người dạy.

Theo HCTC, thời lượng giảng dạy rút ngắn, chỉ có 1/3 thời gian lên lớp
được giáo viên hướng dẫn, còn lại 2/3 thời gian SV phải tự học, tự nghiên cứu
tại nhà. Giáo viên phả
i làm quen với việc gói gọn bài giảng của mình trong 1/3
thời gian lên lớp và phải tăng cường độ làm việc để chỉ dẫn cho sinh viên tài
liệu để sinh viên có thể tự đọc ở nhà. Việc này nếu không phải là người có
chuyên môn giỏi, không dễ gì làm được. Đó là khó khăn thứ 2 với người dạy.
Thêm nữa, khi chuyển sang hệ tín chỉ, một điều đương nhiên là giảng viên phải
sẵn sàng “ đương đầu” vớ
i những câu hỏi hóc búa của sinh viên sau khi các em
đã được đọc tài liệu ở nhà. Đặc biệt, trong điều kiện bùng nổ thông tin ngày
nay, chắc chắn sẽ nhiều điều người học biết mà người dạy chưa biết. Đây chính
là thách thức đối với các giảng viên trẻ khi mà kinh nghiệm giảng dạy và bề
dày chuyên môn chưa nhiều, nếu không tích cực trau dồi, sẽ khó có thể đủ tự
tin để là người “ c
ầm lái”.

Với HCTC, vai trò của người thầy là người hướng đạo và chỉ dẫn chứ
không chú trọng một cách thuần túy vai trò là người quyết định đối với quá
trình nhận thức của người học. Người dạy phải quá triệt nguyên tắc “Dạy học
lấy sinh viên làm trung tâm”. Vì thế, giảng viên phải khuyến khích được sinh
viên, phải biết thừa nhận sự vượt trội của người học, phải kh
ơi dậy được niềm
đam mê khoa học và thúc giục người học phát huy khả năng của mình. Nếu đã
rất nhiều năm, người dạy chỉ quen với tư duy áp đặt, chỉ quen với công thức có
một đáp án, và không thể quen với việc sinh viên nói khác ý mình, thì chuyển
sang đào tạo theo học chế tín chỉ, giáo viên phải thay đổi toàn bộ tư duy đó,
thật không dễ dàng chút nào.

Có thể nói, để nhà trường áp dụng
được HCTC, người dạy phải vượt qua
những thách thức ban đầu này. Đại học Luật thành phố Hồ Chí Minh có trên
200 giảng viên, trong đó, lực lượng giảng viên trẻ chiếm tỷ lệ rất cao. Chúng
tôi rất quan tâm đến việc làm thế nào để các giảng viên trẻ có thể nhanh chóng
khẳng định bản lĩnh chuyên môn của mình trong việc giảng dạy để trường có
thể nhanh chóng chuyển sang HCTC một cách hiệu quả nhất.

10

1.2. Thách thức đối với người học trong việc đổi mới các học theo HCTC.
Có thể khẳng định, việc chuyển đổi sang đào tạo theo HTTC là rất có lợi
cho người học. Theo HCTC, đầu mỗi học kỳ, sinh viên được đăng ký các môn
học thích hợp với năng lực cũng như hoàn cảnh của họ đồn thời cũng phải phù
hợp với quy định chung nhằm đạ
t được kiến thức theo một ngành chuyên môn
chính. Theo HCTC, sự lựa chọn các môn học rất rộng rãi, SV không chỉ học
các môn chuyên môn của mình mà còn cần học các môn thuộc lĩnh vực khác,
thậm chí có thể đăng ký những môn học liên ngành nếu muốn. Đào tạo theo tín
chỉ cho phép ghi nhận kịp thời diễn tiến của quá trình tích lũy kiến thức và kỹ
năng của người học để lấy được văn bằng.

HCTC cho phép người học chủ động xây dựng kế hoạch học tập thích
hợp nhất. Cho phép rút ngắn hoặc kéo dài thời gian học tập đối với riêng bản
thân họ. Thậm chí HTTC còn cho phép ghi nhận cả những kiến thức và kỹ
năng tích lũy được ngoài trường lớp trong quá trình tích lũy kiến thức của sinh
viên.

Để có thể được thụ hưởng tất cả những lợi thế trên của HCTC, đ
òi hỏi
sinh viên phải là người chủ động. Chủ động trong việc thiết kế lộ trình tích lũy
kiến thức của mình (bao nhiêu năm, bao nhiêu học kỳ, những môn nào sẽ là
phù hợp và hữu ích cho mình…), chủ động trong việc lựa chọng giảng viên,
chủ động trong quá trình tiếp thu kiến thức. Với kế hoạch bài giảng mà giảng
viên sẽ áp dụng trong HCTC, người học phải tăng thời lượng tự họ
c ở nhà với
khối lượng công việc được giao khác hẳn khi học theo chương trình đào tạo
theo học phần, phải làm bài tập cá nhân nhiều hơn, làm việc nhóm nhiều hơn.
Nếu không có tinh thần chủ động, người học không thể thu được kết quả tốt
nhất. Học sinh và sinh viên Việt nam nói chung, trong đó có sinh viên luật,
không thoát khỏi những hạn chế của lối tư duy bị động- sản phẩm củ
a nền giáo
dục truyền thống xem người học là người được ban phát cho kiến thức, là
những người phải học và phải học theo kiểu “ xin cho” mang nặng tính bao
cấp. Chính tư duy này là thử thách lớn mà người học nếu tham gia HCTC phải
tự mình khắc phục, phải cố gắng vượt qua. Có như vậy, họ mới có thể thu xếp
một chủ động kế hoạch học tập của mình cũ
ng như thực hiện nó một cách hiệu
quả.
Bên cạnh đó, theo lý thuyết về HCTC, môi trường học tập mới sẽ có
nhiều họat động học tập diễn ra ngoài lớp học truyền thống như việc tổ chức
các buổi thực tập tại tòa án, đến các văn phòng luật sư, diễn án giả định, đến
tham quan các cơ quan nhà nước…cũng là một tác động lớn đế
n cách tư duy
của người học theo kiểu thụ động trước đây. Nếu không nhanh chóng thích
nghi, người học sẽ dễ bị phân tán và không đạt được kết quả như mong muốn.

Mặt khác, quy chế đánh giá sinh viên trong HCTC cũng khắt khe hơn,
chặt chẽ hơn, đòi hỏi sinh viên phải đáp ứng được yêu cầu cao của quy trình
kiểm tra.


11
Có thể nói, sự khác biệt trong việc đo lường các hoạt động giảng dạy
giữa hệ đào tạo theo học phần và HTTC, những điều chỉnh cho phù hợp với
những tình huống giảng dạy, sự xói mòn niềm tin về các tiêu chuẩn gốc… là
những thách thức mà cả người học và người dạy sẽ phải vượt qua khi chuyển
sang đào tạo theo HCTC.

1.3. Những thách th
ức đối với người quản lý
Đặc trưng của HTTC là kiến thức được cấu trúc thành các học phần.
Quá trình học tập là sự tích lũy kiến thức của người học theo từng học phần
(đơn vị: tín chỉ) khác với học niên chế. HCTC đòi hỏi phải có một chương
trình đào tạo với hai đặc điểm cơ bản sau đây:
(1) Cấu trúc mề
m dẻo với nhiều lựa chọn cho phép sinh viên có thể lắp
ghép các môn học theo mục tiêu nghề nghiệp của mình, bên cạnh đó cho
phép sinh viên tổ chức việc học tập của mình theo hoàn cảnh cá nhân;
(2) Sự rõ ràng về mục tiêu đào tạo và khả năng đạt được ở đầu ra (outcome
learning) trên cơ sở đó có thể thực hiện việc chuyển đổi giữa các trường
với nhau trong nước cũng như
ngoài nước.
Để tạo điều kiện thuận lợi cho học chế tín chỉ, các trường đại học nói
chung cũng như trường Đại học luật nói riêng sẽ phải được chủ động về
chương trình ( chương trình khung cần phải thay đổi phù hợp với các môn học
theo tín chỉ), chủ động trong tuyển sinh để các môn học có điều kiện được tổ
chức liên tục. Bộ GD-
ĐT vẫn khẳng định, nếu áp dụng theo học chế tín chỉ thì
các trường sẽ được tổ chức tuyển sinh theo từng học kỳ. Nhưng cho đến nay
vẫn chưa có một văn bản pháp quy nào cho phép các trường làm như vậy.

Khi chuyển sang mô hình đào tạo tín chỉ, nhà trường phải hoàn toàn
quản lý và sắp xếp lịch học cho từng SV trên máy tính, đảm bảo không chồng
chéo và nhầm lẫn. Với hệ thống máy tính và trình
độ tin học của những người
làm công tác sắp xếp, quản lý hồ sơ SV như hiện nay thì đây không phải công
việc dễ dàng.

HCTC bắt buộc các lớp học phải được tổ chức một cách phù hợp với kế
hoạch bài dạy, đòi hỏi nhà quản ly phải có lịch học đuợc bố trí sắp xếp hợp lý,
đảm bảo điều kiện môi trường họ
c tập phù hợp với nội dung giảng dạy mà
giảng viên đã chuẩn bị. Điều đó đòi hỏi người quản lý chương trình phải phối
hợp chặt chẽ với giảng viên và quản lý sát sao cơ sở vật chất của nhà trường để
phục vụ công tác giảng dạy một cáhc hiệu quả nhất.

Nhà trường cũng cần có hệ thống cố vấn h
ọc tập hùng hậu để có thể
thực hiện nhiệm vụ tư vấn cho sinh viên khi bước vào đào tạo theo HCTC. Lực
lượng này đòi hỏi phải hiểu biết về chương trình đào tạo, nội dung đào tạo, tâm
lý người học…Phải chuẩn bị một đội ngũ cán bộ tư vấn với yêu cầu như thế,
với một trường đang còn thiếu cán bộ
giảng dạy như trường chúng tôi, đó cũng
là một thử thách không đơn giản khi chuyển sang đào tạo theo HCTC.

12

II. Những giải pháp để đổi mới phương pháp giảng dạy khi chuyển sang
đào tạo theo học chế tín chỉ tại đại học luật Thành phố Hồ Chí Minh
1. Những giải pháp để chuyển đổi.
Tiếp thu những nhận thức và tinh thần quyết tâm từ cuộc hội thảo về
“Đào tạo theo hệ thống tín chỉ: nhận thức và kinh nghiệm triển khai t
ại các
trường ĐH CĐ Việt Nam” do Ban Liên lạc các trường ĐH, CĐ Việt Nam
(VUN) tổ chức trường Đại học luật thành phố Hồ Chí Minh đang chủ động tìm
chọn cho mình những bước hành động cụ thể để triển khai kế họach chuyển
sang đào tạo theo HCTC.
1.1. Đổi mới nhận thức về phương pháp giáo dục đại học:
1. Để áp dụng các phương pháp giảng d
ạy tích cực phù hợp với đào tạo
theo HCTC, đều cốt lõi là phải rõ ràng về nhận thức.Người dạy phải rõ ràng về
các mục tiêu đào tạo và khả năng đạt được ở đầu ra của người học (learning
outcomes) để làm cơ sở cho việc liên thông và chuyển đổi giữa các trường
trong nước, khu vực và trên thế giới. Thực tế cho thấy khi chuyển sang đào tạo
theo HCTC ở một s
ố trường Đại học trong nước thời gian vừa qua, không chỉ
các nhà quản lý, mà ngay cả các giảng viên cũng thiếu sự thống nhất trong cách
hiểu về mục tiêu và cách tổ chức đào tạo theo hệ tín chỉ. Vì thế, trường chúng
tôi xác định việc thống nhất về nhận thức trong mục tiêu và cách thức đào tạo
trong đội ngũ giảng viên và các nhà quản lý về HCTC là nhiệm vụ hàng đầu.
Chúng tôi xác định, sự th
ống nhất này cần được thực hiện trên những
khía cạnh sau đây: thống nhất định nghĩa thế nào là một tín chỉ (vd: bao nhiêu
giờ lên lớp, bao nhiêu thời gian tự học vv); thống nhất số lượng tín chỉ cần tích
lũy để được cấp một loại văn bằng nào đó; thống nhất việc xây dựng đề cương
môn học, trong đó mục tiêu đào tạo phải đượ
c xác định rõ và phải đo lường
được với các phương pháp kiểm tra đánh giá khác nhau.

Nếu không thực hiện được sự thống nhất này thì sẽ rất khó cho việc liên
thông và chuyển đổi giữa các chương trình khác nhau và các đơn vị đào tạo
luật trong nước và nước ngoài.

2. Đổi mới nhận thức trong người dạy Coi giáo dục đại học là một thị
trường. Chúng tôi xác định nhận thức chung là giảng d
ạy đại học nói chung và
đào tạo luật nói riêng là công việc phải xuất phát từ nhu cầu xã hội và phục vụ
cho nhu cầu của xã hội. Sự cạnh tranh trong lĩnh vực đào tạo luật hiện nay cũng
nóng bỏng như sự cạnh tranh trong nhiều lĩnh vực kinh doanh sôi động khác
của nền kinh tế. Vì thế, chúng tôi hướng nhận thức của cán bộ , giảng viên đến
nhận thức chung là hướng tớ
i khách hàng, coi sinh viên là khách hàng để có thể
cung cấp những kiến thức tốt nhất, những nội dung chương trình phù hợp nhất
với người học.

13
3. Trang bị kiến thức cho người học về học chế tín chỉ và xây dựng tư
duy học tập tích cực. Tạo lập tư duy chủ động cho sinh viên ngay từ đầu.

Triết lý của hệ thống tín chỉ là tôn trọng người học, xem người học là
trung tâm của quá trình đào tạo. Chính vì thế, hơn ai hết, chủ thể của quyền học
tập phải là người quyế
t định. Họ phải quyết định trong việc lựa chọn của mình(
chương trình học, môn học, người dạy…) giống như khách hàng lựa chọn sản
phẩm mình sẽ mua; chủ động trong việc sắp xếp kế họach học tập của mình và
chủ động trong việc tự học cũng như tham gia học nhóm.

Ngay từ những ngày đầu khi sinh viên vào học, nhà trừơng sẽ trang bị
cho sinh viên nhận thứ
c về đặc trưng của đào tạo theo HCTC, xác định cho SV
tư duy học tập theo hướng tích cực. Đội ngũ cố vấn sẽ phát huy vai trò tư vấn
của mình không phải chỉ từ khi sinh viên mới vào trừơng mà là trong suốt quá
trình học tập của sinh viên. Các giảng viên của năm thứ nhất cũng phải phát
huy vài trò của mình trong quá trình giảng dạy để phát huy tính tự chủ của
người học, hình thành tư duy chủ độ
ng học tập của SV.
1.2. Đổi mới phương pháp giảng dạy
- Áp dụng công nghệ thông tin vào trong quá trình giảng dạy
HCTC hướng đến sự thay đổi lớn phương cách, thói quen dạy - học
của người dạy lẫn người học. HCTC giảm khối lượng giờ giảng trên lớp,
khuyến khích sinh viên tự học. Bên cạnh đó, HCTC đòi hỏi môi trường tự học
với các phương tiệ
n đa dạng hỗ trợ người học như giáo trình đa dạng, website
điện tử, hệ thống bài tập tình huống, những người trả lời thắc mắc tại bộ môn
Để có thể thực hiện việc đổi mới phương pháp giảng dạy, đáp ứng yêu
cầu khuyến khích người học tự nghiên cứu, chúng tôi đã xây dựng hệ thống đề
cương môn học c
ủa toàn bộ các môn học trong chương trình đào tạo cử nhân.
Có thể nói, câu hỏi mà đây đó các trường đã đặt ra là “Liệu có thể đưa sẵn bài
giảng lên mạng cho SV tham khảo trước được không?”, sẽ không còn là vấn đề
cần phải băn khoăn nữa. Bộ giáo dục và đào tạo cũng đã chủ trương đến năm
2008, các trường phải tiến hành việc đưa giáo án điệ
n tử lên mạng internet để
người học có điều kiện nghiên cứu. Hệ thống đề cương là tài liệu cần thiết hỗ
trợ người học tự nghiên cứu trong học chế tín chỉ, chúng tôi cũng đã sẵn sàng
cho việc cung cấp học liệu cần thiết này cho người học dưới các hình thức giấy
hoặc điện tử.
Các giảng viên cũng được tham gia các chương trình tậ
p huấn về giáo án
điện tử, thiết kế bài giảng bằng Powerpoint và sử dụng hệ thống đèn chiếu…
Trung tâm đảm bảo chất lượng đào tạo và Trung tâm thông tin thư viện của
trường cũng tổ chức các đợt bồi dưỡng để nâng cao khả năng khai thác mạng
internet cho giáo viên và sinh viên. Về căn bản, cho đến nay, đội ngũ giảng
viên của nhà trường đã được trang bị tương
đối tốt các kỹ năng sử dụng công
nghệ thông tin trong quá trình giảng dạy. Trên thực tế, không ít gảng viên trẻ
có trang web riêng để tổ chức việc thảo luận cho sinh viên trên mạng.

14
- Xây dựng hồ sơ môn học: Nâng cao một bước việc chuẩn bị cho đào tạo
theo học chế tín chỉ, trường chúng tôi đã tổ chức tập huấn cho các tổ bộ
môn và triển khai việc xây dựng hồ sơ môn học. Các tổ bộ môn đã lần lượt
thiết kế và hoàn chỉnh hồ sơ môn học và kế hoạch bài giảng. Trên cơ sở hệ
thố
ng HSMH được thiết một cách chi tiết và công phu, việc giảng dạy theo
HCTC chắc chắn sẽ thuận lợi và đảm bảo đúng mục đích. Người học dễ
dàng nhìn thấy khả năng có thể đạt được sau khi học từng môn học, nhà
quản lý cũng xác định và kiểm sóat được chất lượng đầu ra của quá trình
đào tạo ( outcomes learning). Như vậy có thể nói rằng, trường luật đã có
những gi
ải pháp để vượt qua thách thức quan trọng nhất về chương trình
trong HCTC.
- Thực hành tương tác sư phạm trong dạy học: Không phải chỉ khi chuyển
sang đào tạo theo HCTC, việc dạy và học của chúng ta mới cần xem xét để
điều chỉnh lại, mà khi chúng ta chủ trương đổi mới giáo dục theo hương hội
nhập việc đổi mới phương pháp dạy và học là đòi hỏi khách quan.
Để vi
ệc dạy có tính tích cực và hiệu quả hơn, từ năm học 2006-2007,
trường chúng tôi đã chủ trương buộc giáo viên phải thay đổi phương pháp
giảng dạy từ phương pháp thầy dạy trò ghi sang việc phải lấy người học làm
trung tâm. Chúng tôi đã tổ chức tập huấn cho giảng viên về sư phạm tương tác,
theo đó, giảng viên nhận thấy một cách rõ ràng hơn tương quan giữa mình và
người học, hi
ểu được một cách rõ ràng hơn bản chất tự nhiên của quá trình dạy
học, mọi điều đều bắt đầu và xoay quanh hệ thần kinh nhận thức. Giảng viên
hiểu được về nguyên lý của bộ máy học, nhận thức được rằng nhu cầu nhận
thức của người học cần phải được tôn trọng, đó không chỉ là quyền con người
theo nghĩa pháp lý, mà đó còn là quyền con ngườ
i theo nghĩa tự nhiên. Người
dạy vì thế không thể dạy theo lối áp đặt mà tạo các cơ hội tốt để người học có
thể thực hiện tốt nhất các quyền học tập của mình- được tự do phát triển tư duy,
được tôn trọng trong quá trình nhận thức và quá trình phát triển nhận thức của
bản thân.

Những chương trình sư phạm tương tác mà chúng tôi trang bị cho giáo
viên chắc chắn sẽ phát huy tác dụ
ng tích cực trong quá trình giảng dạy theo
HCTC và ngay hiện tại, sự áp dụng nhuần nhuyễn sư phạm tương tác đã rất phù
hợp cho dù được vận dụng với các đối tượng học khác nhau.
- Áp dụng phương pháp giảng dạy bằng tình huống: Đào tạo luật là họat
động đào tạo mang tính đặc trưng nghề nghiệp rất rõ nét. Người học luật có
định hướng nghề nghiệp tươ
ng đối rõ ràng, chính vì vậy, chúng tôi đang
hương đến đổi mới phương pháp giảng dạy phù hợp với đặc trưng ngành
nghề. Giảng dạy bằng tình huống đang được coi là điểm quan tâm sâu sắc
nhất của giảng viên và học viên nhà trường.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét