Thứ Ba, 25 tháng 2, 2014

hệ thống GD nước ta hiện nay

B phần nội dung.
Chương 1. khái quát tình hình chung.
1. Khái niệm giáo dục.
Giáo dục là quá trình được tổ chức có ý thức, hướng tới mục đích khơi gợi hoặc
biến đổi nhận thức, năng lực, tình cảm, thái độ của người dạy và người học theo
hướng tích cực. Nghĩa là góp phần hoàn thiện nhân cách người học bằng những tác
động có ý thức từ bên ngoài, góp phần đáp ứng các nhu cầu tồn tại và phát triển của
con người trong xã hội đương đại.
2. Cơ sở lý luận.
Với vị trí và vai trò như ở trên thì GD quả là niềm hy vọng lớn lao cho đất nước ta
hiện nay, với mục tiêu công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước. chúng ta đi lên từ
nghèo nàn lạc hậu có được thành quả như ngày nay có thể nói là bước phát triển thần
kỳ. tuy nhiên ở bất cứ xã hội nào , thời đại nào và trên lĩnh vực nào nó cũng luôn tuồn
tại hai mặt : mặ tích cực mà xã hội đó đã làm được va những hạn chế chưa làm
được . ở nước ta cũng vậy việc phát triển GD ngày càng hoàn thiện đòi hỏi phát huy
thế mạnh và khắc phục khó khăn mới đạt kết quả cao.
Phải khẳng định rằng những gì chúng ta đã làm được trong GD là rất to lớn. vì lợi
ích “mười năm trồng cây, trăm năm trồng người” theo tư tưởng Hồ Chí Minh vĩ đại mà
sự nghiệp GD ở nước ta đã nhận được sự quan tâm của toàn Đảng, toàn dân, của
đông đảo các sinh viên, giảng viên và các tầng lớp tri thức.
Xu thế toàn cầu hoá và hội nhập quốc tế đang đòi hỏi GDĐH Việt Nam phải nhanh
chóng đổi mới cách quản lý để đảm bảo và ngày càng nâng cao chất lượng đào tạo.
Bài viết này nêu tổng quan về quan điểm chất lượng trong GDĐH tại Việt Nam qua
các giai đoạn, hệ thống và cơ chế đảm bảo chất lượng GDĐH hiện nay, cùng các
6
thành quả và các vấn đề cần giải quyết để tiếp tục đẩy mạnh triển khai đảm bảo chất
lượng GDĐH tại Việt Nam.
So với các thời kỳ trước, Giáo dục đại học Việt Nam cho đến giữa thập niên 1980
vẫn cơ bản là giáo dục dục tinh hoa.Vì vậy, trong giai đoạn này vấn đề chất lượng
giáo dục đại học hầu như không được đặt ra, trong một thời gian dài, hệ thống giáo
dục đại học Việt Nam đã quan niệm quản lý chất lượng giáo dục đồng nghĩa với việc
kiểm soát đầu vào thông qua các kỳ thi tuyển mang tính cạnh tranh cao độ. Năm 1986
đánh dấu sự bắt đầu của công cuộc đổi mới giáo dục đại học tại Việt Nam, trong đó
một trong những mục tiêu quan trọng của việc đổi mới giáo dục đại học tại Việt Nam
là tăng cường “khả năng cung ứng” của các cơ sở giáo dục, mở rộng tối đa cơ hội
tiếp cận cho người học. Để đạt mục tiêu này, trong vòng gần hai thập niên kể từ khi
giáo dục đại học Việt Nam bắt đầu đổi mới, rất nhiều biện pháp đã được thực hiện để
đạt được mục tiêu nói trên, mà kết quả là số lượng người học cũng như các cơ sở
giáo dục đại học của Việt Nam đã tăng lên một cách đột biến.
Nhìn chung hệ thống GD nước ta phát khá hoàn thiện với đủ các loại hình:trường
công lập, bán công, nội trú, các học viện, trung tâm giáo dục kết hợp vừa học vừa
làm. Các hình thức đào tạo cũng phong phú từ chính quy, cao học, tại chức, liên
thông, đào tạo từ xa, du học. mỗi năm có hàng chục trường được xây dựng và nâng
cấp thu hút hàng trăm nghìn SV theo học.
2.1 vai trò của nhà nước và cơ quan quản lý giáo dục .
Trước hết phải nói đến vai trò của nhà nước Trong những năm qua, để thúc đẩy
giáo dục và đào tạo, nâng cao chất lượng dạy và học, Nhà nước đã thực hiện xã hội
hóa để huy động tiềm năng của các thành phần kinh tế cho giáo dục và đào tạo. Ngân
sách Nhà nước đầu tư cho giáo dục và đào tạo đã tăng từ 15% năm 2000 lên 18%
năm 2005 với cơ cấu tăng chi cho những nhiệm vụ trọng tâm của ngành như đổi mới
chương trình, bồi dưỡng giáo viên, tăng cường giáo dục miền núi. hàng loạt các chính
sách được ban hành. Cụ thể là, Triển khai nghiêm túc trong toàn hệ thống Chỉ thị số
7
296/CT-TTg ngày 27/2/2010 của Thủ tướng Chính phủ và Chương trình hành động
của Bộ về đổi mới quản lý giáo dục đại học giai đoạn 2010-2012. Đến hết ngày
15/8/2010 đã có 311 trường đại học, cao đẳng báo cáo tình hình triển khai thực hiện
Chỉ thị 296 (đạt tỷ lệ 76,4%), trong đó, có 300 trường (đạt tỷ lệ 96,5% ) thành lập Ban
chỉ đạo đổi mới công tác quản lý giai đoạn 2010-2012; có 183 trường (đạt tỷ lệ 58,8%)
xây dựng và công bố chuẩn đầu ra ngành đào tạo; có 218 trường (đạt tỷ lệ 70,1%) tổ
chức xây dựng, rà soát, bổ sung các chỉ số trong chiến lược phát triến trường giai
đoạn 2011-2015, định hướng đến 2020. Đặc biệt là các chính sách ưu đãi cho SV. Đối
với SV có hoàn cảnh khó khăn thì có biện pháp hỗ trợ về vốn (vay vốn, miễn giảm học
phí), tặng học bổng đối với những SV có thành tích học tập tốt, lựa chọn những SV ưu
tú gửi đi đào tạo ở nước ngoài Theo báo cáo của Ngân hàng Chính sách xã hội, đến
hết tháng 6/2010, đã có 1.915.774 học sinh, sinh viên của 1.723.782 hộ gia đình được
vay vốn, với tổng dư nợ là 23.745,595 tỷ đồng. Trong đó, 786.739 sinh viên đại học
được vay vốn, dư nợ 10.376,171 tỷ đồng. Từ ngày 26/8/2009, Thủ tướng Chính phủ
đã quyết định tăng mức cho vay ưu đãi từ 800.000 đ/sinh viên/tháng lên
860.000đ/sinh viên/tháng
2.2 vai trò của các trường
Còn về bản thân các trường để thu hút SV đã liên tục đổi mới trang thiết bị dạy và
học, thay đổi phương pháp dạy, xây dựng các trương trình chuẩn quốc tế, liên kết đào
tạo với nước ngoài, thuê giảng viên nước ngoài giỏi về giảng dạy, tuyển chọn đọi ngũ
giảng viên có kinh nghiệm. đồng thời triển khai mạnh mẽ chủ trương đào tạo nhân lực
theo nhu cầu xã hội. Năm học vừa qua, các trường ĐH trong cả nước tiếp tục triển
khai tích cực các văn bản thoả thuận đã ký kết với các các doanh nghiệp, các địa
phương để đào tạo nhân lực đáp ứng nhu cầu của các doanh nghiệp, như: Tập đoàn
Than và khoáng sản Việt Nam, tập đoàn Hồng Hải (Đài Loan), Intel, Campal
Electrronic Company, tập đoàn Dệt May, các doanh nghiệp đã hỗ trợ kinh phí, trang
bị cho các trường cơ sở vật chất, trang thiết bị, tạo điều kiện cho sinh viên thực hành,
thực tập và tiếp nhận sinh viên sau tốt nghiệp về làm việc tại doanh nghiệp
2.3 vai trò của gia đình và xã hội .
8
Đối với gia đình và xã hội cũng rất quan tâm đến đầu tư cho giào dục. có nhiều
gia đình mặc dù hoàn cảnh khó khăn vẫn cố gắng lo cho 2, thậm chi là ba người con
đi học ĐH. Có nhiều tổ chức, doanh nghiệp đã tổ chức hội chợ việc làm cho SV, tạo
điều kiện làm thêm cho SV…
2.4 vai trò của sinh viên .
Về bản thân SV, do được sự quan tâm của Đảng, nhà nước, gia đình và xã hội đã
cố gắng học tập tốt và đạt được nhiều kết quả cao. Mới đây khi được tin giáo sư Ngô
Bảo Châu đã đạt được giải thưởng toán học quốc tế Fields như một hiện tượng làm
vinh quang không chỉ cho đất nước mà còn lá tấm gương cho các bạn SV học tập. có
rất nhiều SV đã đoạt giải cao trong các kỳ thi olimpic quốc tế,chúng ta đã có bốn thí
sinh xuất sắc đều đoạt giải Olimpic toán cũng như các cuộc thi Robocon vừa qua Việt
Nam đạt giải nhì(năm 2010)…
3. Những khó khăn.
Trên đây là những thánh tựu rất đáng tự hào củ chúng ta. Vì vậy để nâng cao vị
thế GD Việt Nam trên trường quốc tế và nâng cao chất lượng đào tạo, đòi hỏi chúng
ta không chỉ xem xét khía cạnh đã làm được mà còn phải dũng cảm đối diện với
những gì chưa làm được vì đó là vấn đề quan tâm của toàn xã hội hiện nay. Nếu như
một vài năm gần đây, cả nước bừng tỉnh với con số hàng trăm nghìn thí sinh trượt đai
học mỗi năm và phát hiện nguyên nhân chính là kết quả của căn bệnh thành tích thì
từ đó đến nay chúng ta lai quá quen thuộc với nó. Hàng ngày chúng ta đã quá quen
thuộc khi đề cập đến các căn bệnh trong GD như“bệnh thành tích”, “bệnh đối phó”,
“bệnh đấu đá”, “bệnh thiếu trung thực” đang tràn lan khắp nơi, ở mọi người kể cả thầy
lẫn trò mà hiện tượng quay cóp đang hoành hành, trở thành quốc nạn. Đảng và nhà
nước ta đã có chủ trương rất đúng đắn: “Giáo dục là quốc sách hàng đầu” và cũng đã
có những biện pháp cụ thể cải cách giáo dục. Tại sao ngành giáo dục vẫn loay hoay
lúng túng, chưa đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của xã hội đối với giáo dục? Tại sao
khi ta cởi trói cho nông dân và cho các nhà doanh nghiệp, thì nông nghiệp và doanh
nghiệp phát triển? Tại sao chúng ta không cởi trói cho giáo dục để giáo dục phát
9
triển? nếu như một thầy thuốc thì cần chẩn đoán đúng bệnh và cho đúng thuốc, thuốc
đắng giã tật, bệnh nặng đến đâu cũng chữa được. Phải thẳng thắn nhìn vào sự thật
những căn bệnh trầm kha của giáo dục Việt Nam nói trên. Và phải biết trị tận căn, mới
mong chất lượng giáo dục của Việt Nam được cải thiện.
3.1 Trong quản lý giáo dục.
Thời đại hiện nay, thế kỷ XXI, khoa học quản trị, nhất là quản trị chất lượng trở
nên rất hệ trọng cho sự phát triển. Sau một thời gian đổi mới, tư tưởng bao cấp, duy ý
chí, quản trị theo cảm tính vẫn còn tàn dư, khoa học quản trị chất lượng chưa thật sự
đi vào nền nếp đời sống quản trị giáo dục từ cấp Bộ xuống đến cấp cơ sở giáo dục.
Nếp sống văn hóa chất lượng chưa được hình thành. Lãnh đạo Bộ cũng như cấp
trường vẫn chưa thật sự quan tâm đến khuyến cáo của các chuyên gia và thực sự
chưa xây dựng được một đội ngũ chuyên gia hùng hậu có chuyên môn cao, có khả
năng thuyết phục cao, nhất là thích ứng với hoàn cảnh đổi mới, vẫn thường quyết
định theo cảm tính hoặc do duy ý chí. Như tại Thái Lan, đối với các trường công lập
thì lo quản lý chặt chẽ về tài chánh, chuyên môn thì để trường hoàn toàn lo. Đối với
các đại học tư, nhà nước lại không quản lý tài chánh, quản lý nhân sự lãnh đạo, song
lại quản lý rất chặt chẽ về chuyên môn. Khi muốn mở một ngành mới, nhà nước quy
định cứ 100 sinh viên thì phải có 3 tiến sĩ, 3 thạc sĩ, 1 cử nhân. Tất cả các trường đều
phải tuân thủ, thượng tôn luật pháp.
Các khâu định hướng, mục tiêu, kế hoạch, thanh tra, sử dụng, quản lý nhân sự về
chất lượng đào tạo còn nhiều hạn chế, bất cập, thiếu nhất quán ổn định. Tiêu chí
chuyên môn, hiệu quả chưa thật sự được coi trọng.
3.2 Phương pháp dạy học
Hầu như các giảng viên chỉ quan tâm đến truyền đạt kiến thức và kiểm tra trí nhớ
mà không quan tâm đến rèn luyện kỹ năng và nhân cách chuẩn bị vào đời, thường
dùng phương pháp thuyết giảng là chủ yếu, truyền thụ kiến thức một cách thụ động,
10
có nơi còn nạn thầy đọc trò ghi, có đổi mới thì lại chuyển từ "đọc chép sang nhìn
chép”,chưa hướng dẫn sinh viên tự học, tự nghiên cứu hoặc không có biện pháp cụ
thể khuyến khích sinh viên tự học, tự nghiên cứu.
Không lấy sinh viên làm trung tâm trong quá trình dạy học. Khi giảng viên áp dụng
phương pháp chủ động, lại gặp quá nhiều khó khăn do hạn chế phương tiện thiết bị
giảng dạy hay thư viện còn rất hạn chế hoặc sinh viên lại rất thụ động, có thói quen
lười suy nghĩ, không làm theo hướng dẫn của giảng viên.
.Các trường đại học vẫn chưa thật sự quan tâm đến thực hành, thực tập. Bài tập
càng nhiều, kỹ năng càng được rèn luyện, tính thưc hành, thực tiễn càng cao. Ngay
giáo trình cũng thiếu vắng các bài tập. Thiếu hẳn một hệ thống trợ giảng (giảng viên)
hay trợ giáo, kèm cặp (tutoring, sinh viên giỏi đàn anh phụ trách, được cấp tiền bồi
dưỡng tượng trưng từng giờ hay từng buổi phụ việc).
Các trường đại học ở Việt Nam chưa quan tâm đến phương pháp học nhóm, các
thư viện chưa bố trí những phòng học nhóm, chưa có trường nào bố trí rất nhiều bàn
ghế để cho bất cứ sinh viên lúc chưa đến giờ học hay giờ trống đến ngồi gặp gỡ
nhau. Các giảng viên cũng không bắt buộc những bài tập làm theo nhóm, chấm điểm
theo nhóm.
3.3 Đội ngũ giảng viên.
Nếu học vị tiến sĩ là điều kiện chuẩn có khả năng dạy đại học thì hiện nay số
lượng giảng viên có học vị này còn quá thấp so với khu vực ASEAN cũng như các
nước phát triển trên thế giới. Dĩ nhiên cũng có các trường hợp ngoại lệ chỉ có bằng cử
nhân nhưng vẫn là người giảng viên đại học giỏi, đầu ngành, được phong hàm giáo
sư hay phó giáo sư. Đối với các nước trên thế giới, người có học vị cử nhân chỉ có thể
làm trợ giảng mà không được phép dạy lý thuyết. Điều này ta chưa làm được, rõ ràng
đã phản ánh chất lượng yếu kém của đội ngũ giảng viên đại học ở Việt Nam.
Đội ngũ giảng viên đại học tại Việt Nam còn rất yếu kém về nghiên cứu sáng tạo,
hiện chỉ mang tính đối phó, mang tính phong trào, làm lấy lệ, rất ít người say mê
11
nghiên cứu và giành nhiều thời gian cho công tác nghiên cứu ngay cả những người
có khả năng nghiên cứu
Các giảng viên phải lo kiếm sống, nên việc lo tròn trách nhiệm của một người
giảng viên bình thường đã là điều rất khó, chứ chưa thể nghĩ tới trách nhiệm nghiên
cứu hay đi xa hơn nữa là hoàn thành nhiệm vụ xuất sắc ngay như những người có
tinh thần trách nhiệm cao nhất.
Hiện tượng đấu đá không những phổ biến trong giới lãnh đạo để tranh quyền lực
mà ngay trong các cán bộ giảng viên bình thường để tranh giành các danh hiệu thi
đua, đã tạo ra một môi trường làm việc không được lành mạnh, làm sao công tác
giảng dạy và nghiên cứu có thực chất.
3.4 Sinh viên
Rất ít các SV chọn học được ngành học và trường đại học thích hợp với sở
trường và sở thích đích thực của mình và trường cũng không chọn được sinh viên mà
mình muốn đào tạo. SV chỉ học đối phó, cốt lấy điểm, học cho qua, trở thành bệnh
thành tích, bệnh hình thức, thiếu thực chất… ngay cả SV khá giỏi cũng sẵn sàng quay
cóp nhất là đối với những môn học khó nhớ, lại quá nhiều giờ học, mà không phải
ngành nào cũng như nhau khiến SV không thích học.
Theo PGS.TS Nguyễn Công Khanh, mỗi SV lớn lên trong môi trường văn hoá, xã
hội khác nhau, hình thành những thói quen, cách suy nghĩ, các năng lực nhận thức,
hứng thú cũng khác nhau. Điều này tạo nên sự đa dạng và sự phong phú về phong
cách học, một số SV học tập tích cực, chủ động, một số khác lại tỏ ra thụ động, thích
im lặng ngồi nghe hơn là tranh cãi.
Có tới 64% SV chưa tìm được phương pháp học phù hợp với bản thân.
Có 55,9% SV thường suy ngẫm để tìm ra các phương pháp học phù hợp và hiệu
quả khi học các loại tài liệu khác tuỳ theo mục đích và hoàn cảnh cụ thể.
12
Có 68,2% SV thường suy nghĩ về cách học, cách thức tự quản lí việc học của
mình sao cho hiệu quả.
Có 50,9% SV cho rằng mình tự học hiệu quả nhờ biết kết hợp các phương pháp
học khác nhau phù hợp với nhiệm vụ học tập cụ thể.
Nhưng chỉ có 29,2% SV cho rằng mình đã lập thời gian biểu học tập và cố gắng
thực hiện đúng thời gian biểu; có 36% SV được khảo sát cho rằng mình đã tìm được
những phương pháp học phù hợp với đặc điểm nhận thức của cá nhân và tất nhiên
64% sinh viên còn lại là mơ hồ về phương pháp học.
Về tinh thần tích cực và năng động của sinh viên, ông Khanh cũng cảm thấy rất
đáng tiếc khi có tới 36,1% biểu lộ phong cách học thụ động: ngại nêu thắc mắc, ngại
nói ra ý tưởng riêng của mình trong các cuộc thảo luận trên lớp; Có 22,9% SV chỉ
thích giáo viên giảng cho mình nghe hơn là chủ động hỏi, nêu thắc mắc (chưa kể
42,7% SV cũng có quan điểm gần gần như vậy);
41,1% cho rằng mình học chủ yếu từ vở ghi, giáo trình và ít có thời gian tìm
31,4% số SV được khảo sát cho rằng các chiến lược học của mình hướng vào việc
nắm kiến thức hơn là phát triển các năng lực tư
Gần 55% SV được hỏi cho rằng mình không thực sự hứng thú học tập.
SV yếu nhất ở các nhóm: Kĩ năng thuyết trình, kĩ năng sử dụng máy vi tính, kĩ
năng viết báo cáo tham luận, kĩ năng vận dụng vào thực tế.
Hơn 50% SV được khảo sát không thật tự tin vào các năng lực/ khả năng học
của mình.
Hơn 40% cho rằng mình không có năng lực tự học;
Gần 70% SV cho rằng mình không có năng lực tự nghiên cứu;
13
SV mạnh hơn ở các nhóm kĩ năng: Phân tích và giải thích, giải quyết vấn đề,
nghe ghi và hiểu bài giảng. (PGS.TS Nguyễn Công Khanh).
3.5 Trương trình đào tạo.
Định hướng, mục tiêu, phương pháp dạy học và phương thức lượng giá hầu như
không thấy ghi trong chương trình hoặc rất sơ sài, phản ảnh sự thiếu chuyên môn
trong việc soạn các chương trình dạy học, chưa được thiết thực, đáp ứng được nhu
cầu của xã hội trong thời kỳ đổi mới, hội nhập vào thế giới .
Cấu trúc chương trình nhiều điểm chưa hợp lý, chiếm quá nhiều thời gian lên lớp
về lý thuyết, rất ít giờ bài tập, rất ít giờ hoạt động ngoại khoá tự học, tự nghiên cứu.
Nhiều nội dung chương trình lạc hậu hay nặng nề, không còn phù hợp, tạo sự chán
nản cho sinh viên, khiến sinh viên không đi sâu vào ngành học, nhất là năm đầu tiên
có quá ít môn của ngành học.
3.6 Cơ sở vật chất.
Cơ sở vật chất đại học ở Việt Nam kể cả công lập và dân lập đều rất yếu kém, từ
quy mô đến chất lượng, tính hiệu quả phục vụ sự giảng dạy cũng như học tập, nghiên
cứu …, nhất là các trường đại học dân lập thì hầu như chưa có, bởi một vài trường có
rồi chỉ là tạm bợ, chưa có thể là quy mô hay chất lượng của một trường đại học, nếu
chưa muốn nói chưa được là một trường trung học phổ thông trung bình. Cũng có thể
chỉ ở Việt Nam mới xảy ra tình trạng cơ sở vật chất trường đại học như vậy.
Chương 2. Khái quát tình hình chung.
1. Những thành tựu.
Trước hết là hoạt động NCKH và chuyển giao công nghệ đã góp phần tích cực
nâng cao chất lượng đào tạo và phát triển kinh tế xã hội đất nước. Các đơn vị trực
thuộc Bộ GD&ĐT đang triển khai thực hiện 20 đề tài độc lập cấp Nhà nước, 34 nhiệm
14
vụ nghiên cứu thuộc các Chương trình KH&CN trọng điểm cấp Nhà nước. Trong năm
qua, các đơn vị cũng đã triển khai thực hiện 103 đề tài KH&CN trọng điểm cấp Bộ. Đã
hỗ trợ gần 1.300 NCS thông qua các đề tài NCKH cấp cơ sở có nội dung gắn với
luận án tiến sĩ từ nguồn kinh phí sự nghiệp KHCN. Đã có hơn 960 bài báo và CTKH
đăng trên các tạp chí quốc tế, gần 4.100 bài báo, công trình đăng trên các tạp chí
khoa học trong nước
Một thành tựu đáng kể đến là có rất nhiều SV Việt Nam du học ở nước ngoài
và có rất nhiều người tốt nghiệp loại xuất sắc, nhiều CTNC được đánh giá rất cao đưa
GD Việt Nam sánh ngang với thế giới. theo thống kê của hội du học thì số SV Việt
Nam du học tại mỹ đứng thứ 9 thế giới. dưới đây là thống kê NCKH của một số nước
trong khu vực:
Bức tranh NCKH của 11 nước Đông Á (Hình 1) cho thấy không có bất cứ lý do
nào để khước từ CBQT nếu chúng ta muốn đất nước sánh vai với các nước tiên tiến
trong khu vực.
Hình 1
Tính trên một triệu dân,
Singapore đứng đầu khu vực
về CBQT, gấp 170 lần Việt
Nam. Theo sát sau Singapore
là Đài Loan, Hàn Quốc,
HongKong và Nhật Bản, năm
nước này tạo thành nhóm tiên
tiến nhất trong khu vực. Dưới
cùng trở lên là Indonesia,
Philippines và Việt Nam. Thái
Lan, Trung Quốc và Malaysia
thuộc nhóm giữa, nhưng vẫn
15

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét