Thứ Bảy, 22 tháng 2, 2014

Hướng mở rộng hoạt động CVTD tại các NHTM Việt Nam

Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
3.1.1 Định hớng phát triển hoạt động kinh doanh của NHNo&PTNT
trong thời gian tới.
3.1.2 Định hớng phát triển hoạt động kinh doanh nói chung và CVTD
nói riêng của NHNo&PTNT chi nhánh Thăng Long.
3.2 Những ý kiến đề xuất mở rộng hoạt động CVTD.
3.2.1 Hoàn thiện đối với cho vay không có tài sản bảo đảm
3.2.2 Hoàn thiện đối với cho vay có bảo đảm bằng tài sản.
3.2.3 Mở rộng hình thức CVTD có thế chấp bằng tài sản hình thành từ
tiền vay.
3.2.4 Thực hiện CVTD thông qua các tổ chức trung gian.
3.2.5 CVTD thông qua ngời bán hàng.
3.2.6 Phát triển các sản phẩm khác.
kết luận
5
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
Lời nói đầu
Phát triển sản xuất hàng hoá tiêu dùng nhằm phục vụ đời sống nhân dân
và mở rộng sản xuất là một trong những chơng trình kinh tế lớn của Đảng và
Nhà nớc ta. Trớc đây, do ảnh hởng của cơ chế kinh tế cũ, sản xuất hàng hoá còn
thấp kém, ngời dân chỉ mong đủ ăn, đủ mặc. Trong mấy năm gần đây, với dân
số gần 80 triệu ngời, tăng trởng kinh tế bình quân 8,2%, nhu cầu về hàng tiêu
dùng ở nớc ta đã tăng đáng kể cả về số lợng và chất lợng. Cùng với mức thu
nhập ngày càng tăng, đòi hỏi của ngời dân cũng tăng lên, không chỉ dừng lại ở
mức đủ mà cần ăn ngon, mặc đẹp. Trình độ dân trí cao, ngời ta muốn hởng
thụ sớm và nhiều hơn số tiền kiếm đợc. Tâm lý của ngời dân bây giờ không coi
việc đi vay là thể hiện sự túng bấn mà là muốn sử dụng trớc khi có khả năng
thanh toán.
Cho vay tiêu dùng (CVTD) thực sự đem lại lợi ích cho cá nhân ngời tiêu
dùng nói riêng và cho nền kinh tế nói chung. CVTD giúp cho họ thoả mãn nhu
cầu sinh hoạt, nâng cao chất lợng cuộc sống trong lúc họ cha đủ điều kiện. Lợng
tiêu dùng hàng hoá tăng lại kích thích sản xuất kinh doanh phát triển và cuối
cùng, hoạt động CVTD đem lại lợi nhuận cho ngời cho vay.
Tuy nhiên, các NHTM tại TP.Hà Nội còn chậm trễ trong việc tiến hành
CVTD, mới chỉ dừng lại ở một số ít đối tợng với món vay nhỏ lẻ. Trong khi thủ
đô Hà Nội là trung tâm chính trị, kinh tế , văn hoá, thu nhập bình quân cao và
nhu cầu về tiêu dùng, vay tiêu dùng rất lớn. Một thị trờng lớn đang bị bỏ ngỏ,
liệu các NHTM Việt Nam có kịp thời hành động nắm bắt khách hàng để mở
rộng hoạt động kinh doanh cũng nh cạnh tranh với các tổ chức tín dụng khác?
Qua quá trình nghiên cứu thực tế tại NHNo&PTNT chi nhánh Thăng
Long thời gian qua, em nhận thấy vấn đề CVTD đã tới lúc thật sự cần sự quan
tâm và một hớng đi phù hợp, vì vậy em đã chọn đề tài Hớng mở rộng hoạt
động CVTD tại các NHTM Việt Nam (Nghiên cứu tại NHNo&PTNT chi
nhánh Thăng Long ) làm mục tiêu nghiên cứu.
6
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
Ngoài lời cảm ơn, lời nói đầu và kết luận, kết cấu của chuyên đề gồm 3
chơng.
Chơng I: Lý luận chung về CVTD
Chơng II: Thực trạng hoạt động CVTD tại NHNo&PTNT chi nhánh
Thăng Long
Chơng III: Những ý kiến đề xuất nhằm mở rộng hoạt động CVTD tại
NHNo&PTNT chi nhánh Thăng Long
CVTD là một đề tài còn mới mẻ ở Việt Nam. Do nhận thức còn hạn chế
và thời gian nghiên cứu học hỏi cha nhiều, bài viết không thể tánh hỏi thiếu sót.
Em mong nhận đợc sự góp ý, chỉ bảo của thầy cô nhằm giúp em nhận thức tốt
hơn về vấn đề nghiên cứu trên để bài viết trở nên hoàn thiện.
7
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
chơng i
lý luận chung về cho vay tiêu dùng.
1.1. Tính tất yếu của sự hình thành cho vay tiêu dùng.
1.1.1. Sự hình thành và phát triển cho vay tiêu dùng.
Vào những năm 1980 của thế kỷ 20, hệ thống ngân hàng thơng mại
(NHTM) ở Mỹ phải tiến hành cải cách với lý do sự cạnh tranh gay gắt ảnh hởng
đến thực hiện nghiệp vụ của các NHTM. Trong thực tế, sức mạnh cạnh tranh đã
và đang tạo ra những thay đổi trong lĩnh vực công nghệ, dân số học, luật pháp và
chính nó sẽ góp phần vào sự thay đổi về dịch vụ mà ngân hàng cung ứng, đồng
thời làm giảm vai trò của các NHTM trong hệ thống tài chính, từ đó dẫn đến sự
thay đổi cơ cấu của các NHTM. Môi trờng cạnh tranh ngày càng thay đổi một
cách nhanh chóng, các ngân hàng không còn khả năng duy trì nh là tham gia
cạnh tranh trong hệ thống tài chính. Cuộc khủng hoảng 1929-1933 đã từng bớc
xoá đi khả năng đứng vững của các ngân hàng và cuối cùng đa tới một hệ thống
ngân hàng yếu đuối và không đủ sức cạnh tranh.
Công cụ để các NHTM cạnh tranh với các đối thủ khác không chỉ từ các
quỹ tiết kiệm dài hạn (quỹ tiết kiệm và cho vay, các ngân hàng tiết kiệm công
cộng và các liên hiệp tín dụng) mà còn từ các công ty tài chính tiêu dùng và
công ty thơng mại. Cuộc cạnh tranh xảy ra xuất phát từ những nhà môi giới và
những nhà môi giới này đã hình thành ra thị trờng tiền tệ bán lẻ. Cuộc cạnh
tranh này xuất hiện sau những năm của thập niên 1970, nhng phải chờ dến
những năm đầu của thập niên 1980, trớc đòi hỏi của các NHTM về một lĩnh
vực tham gia ở mức độ cao hơn, Quốc hội Mỹ đã cho phép các NHTM cung
ứng tài khoản thị trờng tiền tệ và dịch vụ môi giới.
Cũng trong giai đoạn này, sự tiến bộ vợt bậc về khoa học kỹ thuật đã tạo
ra nhiều phơng tiện liên kết giúp các NHTM có thể đặt quan hệ với mọi khách
hàng trên thế giới. Sự xuất hiện của máy tính nối mạng Internet, kế đó là sự ra
đời của máy rút tiền tự động (Automated Teller Machine - ATMs) đã góp phần
nâng cao khả năng cạnh tranh không chỉ giữa các ngân hàng với nhau mà còn
giữa ngân hàng với các tổ chức tài khác.
8
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
Các NHTM đã thực sự lột xác. Sau cuộc khủng hoảng 1930 kinh hoàng
nhất trong lịch sử, hệ thống NHTM đã hết sức nỗ lực trong việc tìm kiếm con đ-
ờng giành lại vị trí độc tôn trong hệ thống tài chính của mình. Các NHTM đã
mở rộng hoạt động CVTD và đa vào thị trờng thế chấp bất động sản. Không có
con đờng nào là hoàn toàn bằng phẳng. Thời gian đầu, hầu hết các NHTM đã
ngần ngại cho vay đối với cá nhân và hộ gia đình vì họ tin rằng các khoản
CVTD nói chung có quy mô rất nhỏ với rủi ro vỡ nợ tơng đối cao, do đó làm cho
chúng trở nên có mức sinh lời thấp. Đầu thế kỷ nay, các ngân hàng bắt đầu dựa
nhiều hơn vào tiền gửi của khách hàng để tài trợ cho những món vay thơng mại
lớn.
Và rồi sự cạnh tranh khốc liệt trong việc giành giật tiền gửi và cho vay đã
buộc các ngân hàng phải hớng tới ngời tiêu dùng nh là một khách hàng trung
thành tiềm năng. Sau đó, nhiều ngân hàng lớn đã thành lập những phòng tín
dụng tiêu dùng lớn mạnh. Đến năm 1987, các NHTM ở Mỹ đã cung cấp 80%
khối lợng tín dụng tiêu dùng, trong đó 45% chủ yếu dựa trên trả góp.
Sau chiến tranh thế giới lần thứ hai, tín dụng tiêu dùng đã trở thành một
trong những loại hình tiêu dùng có mức tăng trởng nhanh nhất. Các ngân hàng
đã liên tục phát triển và trở thành những tổ chức cấp tiêu dùng chính trong lĩnh
vực CVTD. Một trong những nguyên nhân cơ bản khiến cho ngân hàng có đợc
vị trí thống trị trên lĩnh vực CVTD là ngân hàng đã không ngừng khai thác
nguồn tiền gửi của dân c và coi đây là nguồn vốn hoạt động quan trọng nhất. Rất
nhiều hộ gia đình sẽ không muốn gửi tiền của mình vào một ngân hàng nếu họ
không thấy đợc rằng mình sẽ có triển vọng vay lại tiền từ chính ngân hàng đó
khi có nhu cầu.
Ngày nay, ngành kinh doanh tín dụng tiêu dùng phát triển mạnh theo xu
thế chung của nền kinh tế trên toàn thế giới. Nhiều công ty chuyên môn hoá đã
tìm kiếm nhiều dạng dịch vụ khác nhau, và hiện nay đang mở rộng dần. Phù hợp
với việc cung cấp đa dạng các loại hình dịch vụ, các tổ chức nh công ty bảo
hiểm, ngân hàng tiết kiệm bu điện, công ty chứng khoán Ngày nay đã tham gia
vào thị trờng tài chính để cung cấp cho ngời tiêu dùng mà trớc đây lĩnh vực này
do công ty tài chính và ngân hàng thực hiện.
Trong thời gian tới, chơng trình tín dụng tiêu dùng sẽ tiếp tục đóng một
vai trò chủ đạo trong dịch vụ ngân hàng cũng nh trong quản lý ngân hàng. Xu h-
9
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
ớng này diễn ra bởi vì tín dụng tiêu dùng không chỉ là một trong những khoản
mục mang lại lợi nhuận cao nhất cho ngân hàng mà còn bởi vì ngời tiêu dùng
với trình độ ngày càng cao sẽ vay nhiều hơn để nâng cao mức sống bản thân trên
cơ sở triển vọng về thu nhập trong tơng lai.
1.1.2. Lý do hình thành cho vay tiêu dùng.
Quan sát hoạt động mua bán thông thờng, ngời ta thấy trên thực tế có
hiện tợng phát sinh, ngời tiêu dùng có mong muốn sử dụng hàng hoá trớc khi có
khả năng thanh toán. Đó là nhu cầu tất yếu phát sinh trong cuộc sống hàng ngày
của con ngời. Theo quan điểm marketing, nhu cầu đợc chia làm 3 cấp độ, đó
là nhu cầu tự nhiên, mong muốn và nhu cầu có khả năng thanh toán.
Nhu cầu tự nhiên là vốn có, là một mặt bản thể của con ngời, gắn liền với
chính sự tồn tại của bản thân con ngời nh: cơm ăn, áo mặc, nhà ở
Còn mong muốn là nhu cầu tự nhiên nhng mang tính đặc thù của từng cá
nhân do sự khác biệt về bản tính, thói quen, công việc hay thu nhập Ta thấy
nhu cầu tự nhiên và mong muốn của con ngời là vô hạn. Tính hữu hạn nằm ở
khái niệm thứ ba nhu cầu có khả năng thanh toán, quyết định bởi sự giới hạn
của khả năng thanh toán.
Nếu ta lập một bảng thống kê những nhu cầu của một đời ngời thì đó là
một con số vô hạn. Bởi lẽ nhu cầu con ngời là một hàm số đồng biến theo thời
gian. Không chỉ dừng lại ở đủ ăn, đủ mặc mà tiến tới là ăn ngon, mặc đẹp,
nhu cầu đợc học hành, đợc tôn trọng Nhng xét tại một thời điểm, lợi ích thu đ-
ợc từ món đồ sử dụng là hoàn toàn khác nhau. Nếu ta có một chiếc xe máy lúc
còn trẻ, ta có thể bớt đợc sức lực và thời gian, đi làm đợc nhiều việc. Nhng nếu
cũng chiếc xe máy lúc có tuổi, khi đó về sức khoẻ ta khó đảm bảo đợc sự an
toàn của bản thân lúc vận hành, lại không cần thiết phải đi đây đó nhiều. Nhng
lúc tẻ ta cha có khả năng thanh toán, phải dành dụm thì sau này mới có thể mua
đợc. Vậy tại sao ta lại không hởng thụ ngay từ bây giờ những thứ ta chắc chắn
kiếm đợc trong tơng lai? Cũng một ví dụ tơng tự về việc học hành. Bây giờ ta
cần tiền để đầu t đi học, khi ra trờng ta có thể dễ dàng tìm việc và kiếm tiền. Nh-
ng hiện tại ta lại không có tiền thì ớc mơ đi học, có việc làm tốt cũng bay xa.
Vậy tại sao ta lại không thể sử dụng số tiền ta sẽ kiếm đợc lúc có việc làm sau
này để đi học?
10
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
Đó thực sự là một ván đề quan trọng. Làm thế nào để giải quyết mâu
thuẫn giữa nhu cầu tiêu dùng và khả năng thanh toán này?
Trên thực tế đã diễn ra hai cách giải quyết. Cách thứ nhất là mua bán
chịu. Nhng cách này chỉ có lợi đối với ngời mua và bất lợi đối với ngời bán và
ngời bán thu hồi vốn chậm, lại gặp rủi ro đạo đức nếu ngời mua quỵt. Thế là khi
cần tiền để nhập hàng (đối với ngời bán hàng) hoặc mở rộng sản xuất (đối với
nhà sản xuất kinh doanh) thì đến lợt ngời bán dễ rơi vào tình trạng thiếu phơng
tiện thanh toán. Cách mua bán chịu hoàn toàn không khả thi, chỉ xảy ra trong tr-
ờng hợp mua bán những đồ giá trị thấp, ngời mua có uy tín, quen biết. Thế còn
cách thứ hai. Cách thứ hai là ngời mua vay đợc tiền. Họ sẽ cảm giác là đã đủ ph-
ơng tiện thanh toán. Cách này vừa thoả mãn nhu cầu của ngời tiêu dùng và nhà
sản xuất cũng bán đợc hàng.
Bây giờ đứng trên cơng vị ngời bán hàng để xem xét. Ta thấy có hai trờng
hợp, ngời bán hàng là đại lý trung gian chuyên về lu thông hàng hoá, hoặc ngời
bán hàng trực tiếp là nhà sản xuất kinh doanh. Ngời bán hàng thì luôn luôn
muốn tiêu thụ đợc hàng hoá. Nếu ngời mua không có phơng thức thanh toán thì
ngời bán có thể bán chịu hàng. Về phía ngời bán trớc hết sẽ đợc lời mời của ngời
bán cho họ bán chịu hàng. Tiếp đó ngời bán cho ngời đó lại đợc lời mời tơng tự
từ ngời bán khác. Và cuối cùng là ngời bán hàng cho những ngời kia đợc lời mời
từ nhà sản xuất (lý do là ngời bán hàng muốn tiêu thụ đợc hàng hoá một cách
nhanh chóng trong lúc ngời mua lại thiếu phơng tiện thanh toán). Nhng nhà sản
xuất thì không thể cho vay nhiều tiền, thời hạn lớn đợc. Bán chịu nhiều hàng,
vốn của họ cũng bị ứ đọng.Vậy là kết thúc quá trình tín dụng thơng mại tại đây.
Nh Vậy là cần đến một tổ chức thứ ba: hỗ trợ cho cả ngời mua và ngời
bán để họ luôn luôn có phơng tiện thanh toán đối với các nhu cầu của họ. Không
tổ chức nào đảm nhiệm đợc vị trí này tốt bằng các tổ chức trung gian tài chính,
mà quan trọng nhất là các NHTM. Thực hiện hoạt động CVTD là ngân hàng đã
mở rộng hoạt động kinh doanh, thu đợc lợi nhuận- mục tiêu quan trọng nhất của
mọi tổ chức kinh tế.
Cuối cùng, CVTD là một hoạt động tất yếu hình thành do yêu cầu của
nền kinh tế, nhằm giải quyết ba vấn đề: ngời tiêu dùng có nhu cầu vợt quá khả
năng thanh toán, ngời bán thì mong muốn tiêu thụ đợc hàng hoá( chấp nhận rủi
11
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
ro có thể xảy ra) và những ngời có tiền muốn tìm kiếm thu nhập từ những hoạt
động này.
Đó là ba lí do chính hình thành nên nghiệp vụ cho vay tiêu dùng.
1.1.3 Vai trò của hoạt động cho vay tiêu dùng của NHTM.
Một nhà kinh tế học lớn đã cho rằng: Ba phát minh vĩ đại nhất của loài
ngời là lửa, bánh xe và ngân hàng trung ơng. Nh Vậy, chúng ta đã thấy đợc tầm
quan trọng của hệ thống ngân hàng, huyết quản của nền kinh tế. Hoạt động của
ngân hàng tác động đến mọi lĩnh vực của nền kinh tế, thúc đẩy hoặc kìm hãm sự
phát triển của các ngành nghề, tác động đến các biến số vĩ mô kinh tế khác. Sẽ
không có một nền kinh tế vững mạnh nếu không có một hệ thống tài chính phát
triển ( Ví dụ ở các nớc giàu mạnh nhất thế giới nh Mỹ, Nhật, EU đều có hệ
thống tài chính rất phát triển). Bất cứ hoạt động nào của ngân hàng, dù là nhỏ
cũng sẽ tác động tới nền kinh tế. Hoạt động CVTD của NHTM cũng đóng một
vai trò đáng kể trong đời sống xã hội và nền kinh tế.
1.1.2.1. Đối với ngời tiêu dùng.
Nhìn chung, có một số nhu cầu tự nhiên đợc xem là mục tiêu phấn đấu
của cả đời ngời , là nhu cầu mà bất kì một ngời bình thờng nào cũng cố gắng
biến nó trở thành nhu cầu có khả năng thanh toán. Nh nhu cầu về tổ chức hôn lễ,
mua nhà, tiện nghi sinh hoạt, các phơng tiện đi lại. Ngoài ra, là các nhu cầu mà
con ngời thoả mãn càng sớm càng tốt. Chẳng hạn, nhu cầu về học hành của họ
hay con cái họ, các nhu cầu phát sinh khi chuẩn bị một công việc làm ăn mới
Trong một đời ngời của cải đợc tích luỹ dần theo thời gian. Tuỳ điều kiện
của mỗi ngời, nhng thông thờng việc mua sắm đầy đủ các tiện nghi trong gia
đình thờng mất khoảng thời gian dài. Khi đó lợi ích cảm nhận từ việc hởng thụ
đều có xu hớng giảm dần. Cho nên, ngời tiêu dùng luôn tìm cách phối hợp khéo
léo giữa việc thoả mãn các nhu cầu với yếu tố thời gian và khả năng thanh toán
hiện tại, tơng lai( tìm cách hởng thụ trớc số tiền sẽ có đợc trong tơng lai). Nếu
phân tích theo khía cạnh tài chính, việc mợn tiền trớc của ngân hàng để tiêu
dùng khiến chúng ta phải trả lãi thực chất cũng chỉ là cách quy đổi luồng tiền
mà ta sẽ có tại một thời điểm nào đó trong tơng lai về thời điểm hiện tại.
Chính vì những nguyên nhân trên, việc ngân hàng thực hiện và mở rộng
hoạt động CVTD sẽ đem đến cho ngời tiêu dùng những lợi ích tốt nhất. Ta có
12
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
thể khẳng định rằng ngời tiêu dùng là những ngời đợc hởng trực tiếp và nhiều
nhất những lợi ích mà hình thức CVTD mang lại.
1.1.2.2. Đối với nhà sản xuất.
Các nhà sản xuất có thể dễ dàng tìm thấy nhu cầu có khả năng thanh toán
về các mặt hàng tiêu dùng khi các khách hàng đã tìm đợc nguồn tài trợ. Lợi ích
đối với các nhà sản xuất kinh doanh là gia tăng khả năng tiêu thụ sản phẩm, từ
đó đem lại lợi nhuận, mở rộng quy mô sản xuất, mở rộng thị trờng. Khi đó, nhà
sản xuất thuê thêm công nhân, tăng thu nhập cho ngời lao động; Vậy là CVTD
lại gián tiếp đem lại lợi ích cho xã hội. Nhng đồng thời, cho vay tiêu dùng tạo ra
sự cạnh tranh cao hơn giữa các hãng sản xuất, các nhà kinh doanh cả về chất l-
ợng, mẫu mã, chủng loại sản phẩm. Một mặt, thúc đẩy sản xuất phát triển, một
mặt ngời tiêu dùng có nhiều lựa chọn hơn, qua đó tạo sự năng động cho nền
kinh tế.
1.1.2.3. Đối với NHTM.
Hoạt động chủ yếu của các ngân hàng là nhận tiền gửi với trách nhiệm
hoàn trả và sử dụng tiền đó để cho vay kiếm lời. Các NHTM song song với nỗ
lực huy động vốn là khai thác tối đa thị trờng tín dụng, nghĩa là đáp ứng tốt nhất
các nhu cầu tín dụng của nền kinh tế. Hoạt động CVTD của ngân hàng đối với
các cá nhân có quy mô nhỏ nhng số lợng khách hàng tiềm năng và sự đa dạng
của nhu cầu lại vô cung to lớn. Nhu cầu tiêu dùng của khách hàng là vô tận, đó
là nền tảng vững chắc của ngân hàng khi tiến hành CVTD.
Khi tiến hành CVTD, các NHTM đều thấy rằng rủi ro trong hoạt động
cho vay thờng nhỏ hơn so với các nghiệp vụ khác. Lãi suất thực ngân hàng áp
dụng trong loại hình CVTD rất cao, điều này khiến cho hoạt động CVTD có tỉ
suất lợi nhuận không nhỏ.
Hơn nữa, xu hớng hoạt động của các NHTM là phát triển đa năng tổng
hợp luôn tìm cách mở rộng các nghiệp vụ cũng nh đa ra các sản phẩm mới. Việc
thực hiện và phát triển CVTD vừa mở rộng đợc khách hàng cho vay, tận dụng đ-
ợc nguồn vốn huy động một cách hiệu quả, vừa đa dạng hoá các sản phẩm , dịch
vụ ngân hàng. Từ đó ngân hàng tăng đợc sức mạnh trong cạnh tranh đồng thời
tạo ra đợc những nét đặc trng hấp dẫn riêng.
1.1.2.4. Đối với nền kinh tế.
13
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
Một trong các chỉ tiêu phản ánh sự phát triển của xã hội là mức sống của
ngời dân. Vậy rõ ràng CVTD có tác dụng thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế.
Bởi CVTD giúp ngời dân nâng cao chất lợng cuộc sống khi cha có khả năng
thanh toán. Thị trờng CVTD đã tạo nên sự sôi động của nền kinh tế, thúc đẩy
sản xuất phát triển, tạo nguồn vốn cho khu vực sản xuất trong nớc, tạo sức hút
đầu t nớc ngoài. Với CVTD mà các NHTM cung cấp chủ yếu tạo điều kiện
thuận lợi cho khu vực sản xuất, cơ hội kinh doanh cho các doanh nghiệp, thị tr-
ờng hàng hoá nội địa phát triển.
Bên cạnh các lợi ích về kinh tế, CVTD còn giúp nhà nớc đạt đợc các mục
tiêu xã hội nh xoá đói giảm nghèo, giải quyết công ăn việc làm, tăng thu nhập
cho ngời lao động, giảm tệ nạn xã hội
Tóm lại, hoạt động CVTD là một tất yếu, phù hợp với sự phát triển của
xã hội và tuân theo quy luật kinh tế. Dù cho là bên nào: ngời tiêu dùng, ngời
cung cấp, NHTM hay tổng quan nền kinh tế nói chung đều đợc hởng lợi ích từ
hoạt động này. Vì nó thực sự là một hoạt động thiết yếu, đóng góp vai trò không
nhỏ trong đời sống xã hội chúng ta hiện nay.
1.2.Lý luận chung về cho vay tiêu dùng.
1.2.1. Khái niệm cho vay tiêu dùng
Ngân hàng ra đời và phát triển từ rất sớm, ban đầu là nghiệp vụ giữ tiền
hộ, sau đó phát sinh nghiệp vụ cho vay. Cho đến nay hoạt động của ngân hàng
đã đợc đa dạng và chuyên môn hoá cao. Tín dụng ngân hàng là quan hệ vay
muợn tiền hoặc tài sản, trong đó ngân hàng là ngời cho vay, ngời đi vay là các tổ
chức cá nhân trong xã hội trên nguyên tắc ngời đi vay sẽ hoàn trả cả gốc lẫn lãi
tại một thời điểm xác định trong tơng lai.
CVTD là một trong các nghiệp vụ của ngân hàng. Do đó, cho vay tiêu
dùng là quan hệ vay mợn tiền, trong đó ngân hàng là ngời cho vay, ngời đi vay
là các cá nhân, ngời tiêu dùng, trên nguyên tắc ngời đi vay sẽ hoàn trả cả gốc lẫn
lãi tại một thời điểm xác định trong tơng lai. Nhằm giúp ngời tiêu dùng có thể sử
dụng hàng hoá, dịch vụ trớc khi họ có khả năng chi trả, tạo điều kiện cho họ có
thể hởng một mức sống cao hơn.
1.2.2. Đặc điểm của các khoản cho vay tiêu dùng.
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét