Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
1. Quy trình đầu t trực tiếp nớc ngoài.
Việc tổ chức vận động thu hút FDI của Nhà nớc đợc thực hiện dựa trên việc
tổng hợp chiến lợc phát triển kinh tế - xã hội của các ngành, địa phơng trên cơ sở
kế hoạch hàng năm và kế hoạch 5 năm. Việc tổng hợp sắp xếp thứ tự u tiên đợc
thực hiện bởi Bộ Kế hoạch và đầu t và đợc thể hiện qua chơng trình đầu t công
cộng trong đó có nhu cầu của Nhà nớc về nguồn FDI từ bên ngoài trong từng thời
kỳ phát triển. Nh vậy, ở tầm vĩ mô Bộ Kế hoạch và Đầu t là cơ quan tham mu tổng
hợp, là đầu mối trong việc điều phối và quản lý FDI.
Danh mục các chơng trình, dự án dự kiến thu hút FDI sau khi đợc Thủ
tớng Chính phủ và các cấp có thẩm quyền phê duyệt đợc công bố rộng rãi và
là cơ sở cho việc thu hút FDI trong từng năm, 5 năm và trong từng giai đoạn.
Đối với Việt Nam, quy trình xây dựng kế hoạch đầu t để thu hút FDI
cũng đợc thực hiện tơng tự. Trên cơ sở chiến lợc phát triển, kinh tế xã hội. Bộ
kế hoạch và đầu t, các cơ quan có liên quan để tổng hợp kế hoạch danh mục
đa vào chơng trình đầu t trong từng thời kỳ, từng năm của cả nớc.
II. Những nhân tố thúc đẩy đầu t và nhận đầu t trực tiếp nớc ngoài.
Quá trình đầu t trực tiếp nớc ngoài chịu ảnh hởng của các nhân tố sau:
Thứ nhất, để mở rộng thị trờng tiêu thụ, ngay tại nớc chủ đầu t, nhà
đầu t có thể đã có một vị trí nhất định trên thị trờng . Cũng có thể loại
hàng hoá hoặc dịch vụ mà nhà đầu t có cung cấp đang bị cạnh tranh gay
gắt tại thị trờng trong nớc. Việc tìm kiếm những thị trờng ngoại nớc với
những nhu cầu lớn về loại hàng hoá hoặc dịch vụ của nhà đầu t sẽ đáp
ứng đợc việc mở rộng sản xuất và tiêu thụ hàng hoá, dịch vụ. Ngoài ra,
các chủ đầu t có thể có lợi thế độc quyền nhờ sở hữu một nguồn lực hay
kỹ thuật mà các đối thủ cạnh tranh của họ không có đợc ở thị trờng sở
tại. Điều này sẽ mang lại cho nhà đầu t nhiều lợi nhuận hơn.
Thứ hai, là xâm nhập thị trờng có tỷ suất lợi nhuận cao hơn. Theo
lý thuyết về tỷ suất lợi nhuận giảm dần, nếu cứ tiếp tục đầu t vào một dự
án nào đó ở một quốc gia nào đó, tỷ suất lợi nhuận chỉ tăng đến một
mức độ nhất định rồi sẽ giảm dần. Vì vậy, các nhà đầu t luôn chú trọng
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
tìm kiếm những thị trờng đầu t mới mẻ đề đạt đợc tỷ suất lợi nhuận cao
hơn. Đồng thời, ở các nớc công nghiệp phát triển thờng có hiện tợng
thừa tơng đối vốn nên việc đầu t ra nớc ngoài giúp các nhà t bản nâng
cao hiệu quả sử dụng vốn.
Thứ ba, sử dụng các yếu tố sản xuất ở nớc nhận đầu t. Do sự phát
triển không đều về trình độ của lực lợng sản xuất, ở các quốc gia khác
nhau chi phí sản xuất là không giống nhau. Giữa các quốc gia có sự
chênh lệch về giá cả hàng hoá, sức lao động, tài nguyên, khoa học kỹ
thuật, vị trí địa lý Các nhà đầu t thơng lợi dụng sự chênh lệch này để
thiết lập hoạt động sản xuất ở những nơi có chi phí sản xuất thấp nhằm
hạ giá thành sản phẩm. Đầu t ra nớc ngoài có thể giúp các nhà đầu t hạ
thấp chi phí sản xuất do khai thác đợc nguồn lao động dồi dào với giá rử
ở nớc sở tại. Đồng thời, khi đầu t sản xuất ở nớc sở tại, nhà đầu t có thể
sử dụng nguồn nguyên liệu đầu vào cho ngành sản xuất của mình ở
chính nớc này. Việc này giảm bớt đợc chi phí vận tải cho việc nhập
nguyên nhiên liệu, nhất là khi các nhà đầu t muốn tiêu thụ sản phẩm
cuối cùng ở nớc ngoài.
Đối với việc thiết lập nhà máy sản xuất ở các nớc T bản phát triển
các nhà đầu t có thể học tập công nghệ tiên tiến của các nớc đó. Và
những công nghệ này có thể sẽ đợc áp dụng ở nhiều nhà máy hay chi
nhánh của công ty ở các nớc khác. Những công nghệ hiện đại sẽ góp
phần nâng cao chất lợng sản phẩm, hạ thấp chi phí sản xuất để đa đến
mcụ đích cuối cùng của nhà đầu t là lợi nhuận cao.
Cuối cùng đó là tránh đợc các hàng rào thơng mại. Xu thế bảo hộ mâu
dịch trên Thế giới ngày càng gia tăng, đặc biệt là ở các nớc công nghiệp phát
triển. Đầu t ra nớc ngoài là biện pháp hữu hiệu để xâm nhập chiếm lĩnh thị tr-
ờng và tránh đợc các hàng rào bảo hội mậu dịch giúp các chủ đầu t giảm bớt
chi phí sản xuất nhằm tránh đợc các trớng ngại cho việc tiêu thụ hàng hoá
hay dịch vụ của mình nh tránh đợc thuế nhập khẩu, hạn ngạch. Còn đối với
quốc gia nhận đầu t trực tiếp nớc ngoài thì:
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
Đầu t trực tiếp nớc ngoài không những đáp ứng đợc nhu cầu và lợi
ích của nớc chủ đầu t mà còn giữ một vai trò quan trọng trong sự phát
triển kinh tế của nớc tiếp nhận đầu t.
Đầu t trực tiếp nớc ngoài cung cấp cho nớc chủ nhà một nguồn
vốn lớn để bù đắp sự thiếu hụt nguồn vốn trong nớc. Hầu hết các nớc,
nhất là các nớc đang phát triển đều có nhu cầu vốn để thực hiện công
nghiệp hoá và nâng cao tốc độ tăng trởng kinh tế. Nhiều nớc đã thu hút
đợc một lợng vốn nớc ngoài lớn từ đầu t trực tiếp để giải quyết khó khăn
về vốn và do đó đã thực hiện tốt quá trình công nghiệp hoá đất nớc.
Cùng với việc cung cấp vốn là kỹ thuât. Qua thực hiện đầu t trực
tiếp nớc ngoài, các chủ đầu t đã chuyển giao công nghệ từ các chi
nhánh, nhà máy của học ở nớc khác sang nớc chủ nhà. Mặc dù sự
chuyển giao này còn nhiều mặt hạn chế do những yếu tố chủ quan và
khách quan chi phối song điều không thể phủ nhận là chính nhờ có sự
chuyển giao đố mà các nớc đang phát triển có điều kiện tốt hơn để khai
thác các thế mạnh sẵn có về tài nguyên thiên nhiên, tăng sản xuất, sản l-
ợng và khả năng cạnh tranh với các nớc khác trên thị trờng Thế giới
nhằm thúc đẩy nền kinh tế phát triển.
Với việc thiết lập các cơ sở sản xuất ở nớc sở tại, chủ đầu t cần sử
dụng lao động ở chính nơi đây. Sự xuất hiện hang loạt các nhà máy mới,
nông trại mới đã thu hút đợc nhiều lao động vào làm việc. Hơn thế nữa,
các nhà đầu t nớc ngoài còn phải đào tạo những ngời lao động thành
những công nhân lành nghề cho doanh nghiệp của mình. Điều này góp
phần tạo thêm công ăn việc làm và nâng cao chất lợng lao động cho
nhân dân nớc sở tại, do đó làm giảm tỷ lệ thất nghiệp ở những nớc này.
Do tác động của vốn và khoa học công nghệ, đầu t trực tiếp sẽ tác
động mạnh đến việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế bao gồm cả cơ cấu
ngành, cơ cấu kỹ thuật, cơ cấu sản phẩm và lao động. Bên cạnh đó,
thông qua đầu t trực tiếp nớc ngoài, nớc chủ nhà sẽ có thêm điều kiện để
mở rộng các mối quan hệ kinh tế quốc tế. Các nớc nhận đầu t sẽ có
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
thêm nhiều sản phẩm để không những phục vụ nhu cầu tiêu dùng trong
nớc mà còn để xuất khẩu sang các nớc khác và mở rộng quan hệ thơng
mại quốc tế. Ngoài ra, việc đầu t nớc ngoài vào nớc sở tại sẽ thúc đẩy sự
cạnh tranh về đầu t của các nớc ở ngay nớc sở tại làm cho môi trờng đầu
t ngày càng phát triển.
Tuy nhiên, đầu t trực tiếp nớc ngoài không khi nào và bất cứ đâu
cũng phát huy vai trò tích cực đối với đời sống kinh tế xã hội của n ớc
chủ nhà. Nó chỉ có thể phát huy tốt trong môi trờng kinh tế, chính trị xã
hội ổn định và đặc biệt là khi Nhà nớc biết sử dụng và phát huy vai trò
quản lý của mình. Đầu t trực tiếp nớc ngoài bao hàm trong nó những
mặt hạn chế đối với nớc nhận đầu t nh :
Nguồn vốn đầu t trực tiếp do chủ đầu t quản lý trực tiếp và sử dụng
theo những mục tiêu của mình.
Những công nghệ chuyển giao sang các nớc đang phát triển thờng
không phải là những công nghệ tiên tiến nhất mà là những công nghệ
không còn đợc sử dụng ở các nớc t bản phát triển vì đã quá thời hạn sử
dụng hoặc không còn đáp ứng đợc những yêu cầu mới về chất lợng và
gây ô nhiễm môi trờng. Trên thực tế đã diễn ra nhiều hiện tợng chuyển
giao công nghệ nhỏ giọt, từng phần và mất nhiều thời gian.
Trong nhiều trờng hợp, đầu t trực tiếp nớc ngoài còn gây sự rối ren
mất ổn định cho nền kinh tế nớc chủ nhà. Nhiều nhà đầu t nớc ngoài đã
lợi dụng những sở hở trong luật pháp sử tại để trốn thuế, xâm phạm lợi
ích của nớc chủ nhà.
Mặc dù vậy, những hạn chế của đầu t trực tiếp nớc ngoài không
thể phủ nhận đợc vai trò tích cực của nó đối với cả nớc chủ đầu t và nớc
nhận đầu t. Vấn đề là ở chỗ các nớc tiếp nhận đầu t phải kiểm soát đầu
t trực tiếp nớc ngoài một cách hữu hiệu để phát huy mặt tích cực và hạn
chế mặt tiêu cực của nó.
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
iii. Sự cần thiết phải tăng cờng thu hút FDI vào
Việt Nam.
Hiện nay việt Nam đang bớc vào một giai đoạn mới, đẩy mạnh công
nghiệp hoá và hiện đại hoá do đó đòi hỏi phải có một lợng lớn vốn đầu
t. Dự kiến sẽ thu hút đầu t trực tiếp nớc ngoài khoảng 20 tỷ USD, trong
đó Nhật Bản là một trong những nớc chúng ta hy vọng có lơng vốn đầu
t lớn nhất. Có thể nói luồng đầu t trực tiếp to lớn của Nhật đổ vào Việt
Nam trong thời gian qua đã góp phần làm tăng trởng nền kinh tế Việt
Nam, cùng với sự tiến bộ hơn na trong công cuộc công nghiệp hoá đất
nớc. Chúng ta đánh giá cao vai trò FDI Nhật Bản từ chỗ là (Nhân tố bên
ngoài) chuyển thành (Nhân tố bên trong) tác động mạnh đến tốc độ tăng
trởng và phát triển nền kinh tế mở của chúng ta. Việc Nhật Bản giúp đỡ
Việt Nam trong các lĩnh vực kinh tế xã hội sẽ làm giảm bớt những khó
khăn và hạn chế trong công cuộc đổi mới tiến nhanh hơn ra nền kinh tế
thị trờng phát triển theo định hớng xã hội chủ nghĩa, thực hiện công
nghiệp hoá hiện đại hoá thành công. Đây cũng chính là cơ hội tốt nhất
dành cho nhân dân Việt Nam đẩy mạnh các quan hệ hiểu biết lẫn nhau,
cùng nhau hợp tác,kinh doanh và phát triển với nhân dân Nhật Bản.
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
chơng II
thực trạng đầu t trực tiếp nớc ngoài của nhật bản ở việt
nam
I. vài nét về quan hệ kinh tế Việt Nam và
nhật bản
Ngày 21 tháng 09 năm 1973, Việt Nam và Nhật Bản chính thực
thiết lập quan hệ ngoại giao đánh dấu sự tiếp nối các quan hệ giao lu
vốn có từ lâu đời giữa hai nớc. Từ những thế kỷ trớc, nhiều thơng gia
Nhật Bản đã đến buôn bán và kinh doanh ở Việt Nam. Phố Hiến (Miền
Bắc), Hội An (miền trung) là những địa danh ghi đạm dấu ấn của các
mối quan hệ giao lu đó.
Sau khi Việt Nam hoàn toàn thống nhất, mối quan hệ giữa hai nớc
có cơ hội phát triển toàn diện cả về ngoại giao , chính trị, kinh tế và các
lĩnh vực khác. Trong giai đoạn này mối quan hệ về kinh tế chủ yếu là
trao đổi thơng mại và viện trợ.
Về thơng mại, năm 1976 Nhật là bạn hàng lớn thứ 2 của Việt Nam
sau Liên Xô, Việt Nam đã xuất sang Nhật khối lợng hàng hoá trị giá
44,5 triệu USD, chiếm 40% tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam
sáng khu vực 2. Việt Nam nhập khối lợng bằng 184,5 triệu, 247 triệu và
268 triệu USD (
1
). Thời ký 1979 - 1982, do vấn đề Campuchia và bầu
không khí chiến tranh không thuận lợi ở Đông Nam á, thơng mại giữa
hai nớc giảm từ 267,5 triệu USD năm 1978 còn 128 triệu năm 1982.
Trong thời kỳ này, Việt Nam nhập khẩu từ Nhật bản lớn hơn xuất khẩu
trở lại. Các mặt hàng nhập khẩu lơng thực, nhiên liệu, vải, khoáng sản,
sản phẩm công nghiệp nhẹ, sản phẩm hoá học và kim loại. Việt Nam
xuất sang Nhật lơng thực, thực phẩm, nguyên liêu (gỗ xẻ, cao xu), nhiên
liệu khoáng sản, hàng hoá đã chế biên (vải). Đến 1986, thơng mại giữa
1
Dơng Phú Hiệp - 25 năm Quan hệ Việt Nam - Nhật Bản - TC nghiên cứu Nhật Bản 1 (13) 2/98- Trang 7-
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
Việt Nam và Nhật Bản phát triển trở lại và tăng lên 272,100 triệu USD.
(
2
) Đặc biệt là khi Liên Xô tan rã, Nhật Bản trở thành bạn hàng lớn nhất
củ Việt Nam. Năm 1990 tổng kim ngạch buôn bán hai chiều trị giá 809
triệu USD, các năm liên tiếp sau đều tăng liên tục 1991 - 871 triệu;
1992 -1.321 triệu; 1993 - 1707 triệu; 1994 - gần 2 tỷ; 1995 - đạt 2,6 tỷ
tăng 35% và năm 1996 đã tăng 38,5% so với năm 1995 (
3
). Thời gian
này, hàng hoá Việt Nam chủ yếu xuất nguyên liệu thô, lơng thực, thực
phẩm, khoáng sản và dầu thô là mặt hàng Nhật Bản mua chủ yếu. Phía
Nhật xuất sang Việt Nam phân bón, ô tô, xe máy, máy dệt và nguyên
liệu dệt, máy xây dựng.
Từ 1989 trở lại đây, Việt Nam là nớc xuất siêu sang Nhật với mức
thặng d khá cao đã đóng góp tích cực vào quá trình cân đối cán cân th -
ơng mại nói chung của Việt Nam và Thế Giới. Đây cũng là điều khẳng
định vai trò quan trọng của thị trờng Nhật Bản đối với quá trình phát
triển kinh tế của Việt Nam và ngợc lại.
Về viện trợ, mối quan hệ này đã có từ trớc 1975, trong thời gian
đó, Nhật Bản đã chính thức viện trợ theo chơng trình cho Việt Nam
DCCH. Sau khi Việt Nam thống nhất, tổng số viện trợ của Nhật Bản
trong hai năm 1975 - 1976 là 15 triệu USD. Để tăng cờng thúc đẩy buôn
bán trong hai năm tiếp theo, Nhật Bản đã quyết định cho Việt Nam vay
tiền với lãi suất thấp thông qua các cơ quan hợp tác quốc tế của Nhật
Bản, hứa cung cấp cho Việt Nam một khoản viện trợ không hoàn lại là
16 tỷ yên trong 4 năm và các khoản cho vay khoảng 20 tỷ yên. Việc
Nhật Bản quyết định trì hoãn kế hoạch tài trợ 14 tỷ yên (trong đó có 4 tỷ
yên viện trợ không hoàn lại và cho vay 10 tỷ yên) vào cuối năm 1978
báo hiệu 1 thời kỳ xấu đi trong quan hệ của hai nớc. Thời ký 1979 -
1992 là thời kỳ Nhật Bản thực hiện chủ trơng đông cứng tài trợ kinh
tế nhng không đình chỉ các cuộc tiếp xúc ngoại giao và viện trợ nhân
2
Dơng Phú Hiệp - đã dẫn - Trang 8
3
Đỗ Đức Định - Quan hệ kinh tế Việt Nam - Nhật Bản đang phát triển - Nhà xuất bản KH-XH Hà Nội
1996 - Trang 8
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
đạo đợc thể hiện Nhật Bản tiếp tục viện trợ cho Việt Nam một khoản trị
giá 130.000 USD dới hình thức viện trợ nhân đạo sử dụng mua hàng của
của Nhật nh xe tải hạng nặng, ô tô điện, máy ủi và các loại hàng há
khác cần thiết cho việc xây dựng lại nền kinh tế Việt Nam và cho phép
một cách không chính thức các Công ty Nhật Bản tiếp tục buôn bán với
Việt Nam.
Tới đầu những năm 1990 cuộc chiến tranh lạnh kết thúc, nền kinh
tế Việt Nam từng bớc thoát khỏi khủng hoảng và quan hệ ngoại giao của
Việt Nam với nhiều quốc gia phơng Tây và các tổ chức quốc tế đợc bình
thờng hoá. Vào năm 1992, chính phủ Nhật Bản quyết định nối lại viện
trợ ODA cho Việt Nam với tổng số 281,2 triệu USD, đa nớc này từ vị trí
không số lên hàng số 1 trong số các quốc gia DAC tài trợ cho Việt
Nam. Theo thống kê chính thức của chính phủ Nhật Bản, thời kỳ 1992 -
1994 tổng tài trợ ODA của nớc này cho Việt Nam lên tời 372 triệu USD
trong đó tài trợ không chính thức là 116,5 triệu USD (
4
). Trong những
năm gần đây, Việt Nam tiếp tục nhận đợc 1 khối lợng lớn tài trợ ODA
của Nhật Bản và hiện nay Nhật Bản trở thành nhà tài trợ số 1 cho Việt
Nam.
Nh vậy, thơng mại và viện trợ là hai lĩnh vực đi tiên phong trong
mối quan hệ kinh tế và là tiền đề để phát triển đầu t trực tiếp của Nhật
Bản vào Việt Nam.
II. những yếu tố ảnh hởng đến đầu t trực tiếp của Nhật Bản vào Việt
Nam.
1.Về phía việt nam.
Công cuộc đổi mới của Việt Nam diễn ra đợc vài năm thì trật tự Thế
Giới thay đổi. Cùng với những khó khăn trong nớc, Việt Nam phải đơng đầu
với những khó khăn do sự tan rã của Liên Xô và chế độ XHCN ở Đông Âu
trong đó Liên Xô là nớc cung cấp viện trợ lớn nhất và cũng là bạn hàng của
Việt Nam trong nhiều năm. Liên Xô tan rã kèm theo đó là sự sụp đổ của Thế
4
Dơng Phú Hiệp - đã dẫn trang 7
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
giới 2 cực, chiến tranh lạnh không còn nữa, thay vào đó là xu thế Thế Giới đa
cực hình thành, quan hệ quốc tế chuyển từ đối kháng quân sự sang phát triển
mối quan hệ kinh tế. Đã có rất nhiều sự hợp tác giữa các quốc gia, khu vực,
châu lục đợc hình thành nh liên minh Châu Âu (EU), hiệp định thơng mại tự
do Bắc Mỹ (NAFTA), hợp tác kinh tế châu á - Thái Bình Dơng (APEC).
Cùng với sự hợp tác về kinh tế, xu thế khu vực hoá, toàn cầu hoá đang chi
phối tất cả các hoạt động của đời sống con ngời.
Trải qua một thời gian dài trong chiến tranh, sau chiến thắng
1975, Việt Nam bắt tay vào xây dựng lại đất nớc. Tại Đại hội VI Đảng
cộng sản Việt Nam họp tháng 12/1986 đã đề ra chính sách đổi mới,
trong đó chỉ rõ phải kiên quyết chuyển từ nền kinh tế tập trung quan
liêu bao cấp sang nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, vận động
theo cơ chế thị trờng có sự quản lý vĩ mô của Nhà nớc, theo định hớng
XHCN (
5
)
1.1. yếu tố kinh tế.
Về kinh tế, đề ra các chính sách kinh tế và đổ mới tổ chức quản lý
kinh tế với những nội dung chủ yếu: điều chỉnh cơ cấu kinh tế, khai
thác mọi nguồn vốn đầu t và đổi mới cơ chế quản lý, phát huy vai trò
động lực của khoa học kỹ thuật, đẩy mạnh hoạt động kinh tế đối
ngoại,
Việc chuyển sang nên kinh tế thị trờng làm kích thích sản xuất
hàng hoá, tăng khả năng cành tranh, vốn nà kỹ thật hiên đại, đòi hỏi thị
trờng tiêu thụ rộng lớn. Nền kinh tế thị trờng cũng tạo cho các doanh
nghiệp trong và ngoài nớc thấy một thị trờng mở , đa dạng, chứa đựng
nhiều lợi nhuận. Đây là nhân tố quan trọng để thu hút vốn,
kỹ thuật trong và ngoài nớc.
1.2. yếu tố chính trị.
5
Lê Hồng Phục - Đỗ Đức Định - Một số vấn đề về kinh tế đối ngoại của các nớc đang phát triển ở Châu á
-Viện kinh tế Thế giới - Nhà xuất bản KHXH Hà Nội 1988
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
Về chính trị, ta vẫn thực hiện một Đảng cầm quyền duy nhất và đi
theo đờng lối dẫn dắt của Đảng, mở rộng quan hệ với các nớc không
phân biệt chế độ chính trị. Đây là bớc thay đổi cơ bản của chính phủ
Việt Nam. Trong khi các nớc trong cùng khu vực đã có những bớc nhảy
vọt về kinh tế thì Việt Nam vẫn ở trong tình trạng chậm phát triển do
quan hệ dựa vào chính trị là chính. Vì vậy, để có thể theo kịp các quốc
gia này, Việt Nam cần phải mở rộng quan hệ hơn nữa, không chỉ bó
buộc trong phạm vị khu vực mà trên toàn Thế giới. Tại Đại hội lần thứ
VII, tháng 6/1991, Đảng đề ra khẩu hiệu Việt Nam muốn là bạn với
tất cả các nớc trong cộng đồng thế giới, phấn đấu vì hoà bình, độc lập
và phát triển . Đảng ta đã thay đổi chính sách u tiên Quan hệ quốc tế
xã hội chủ nghĩa, coi trọng quan hệ với các nớc XHCN mà trung tâm
là Liên Xô trớc đây vào thực hiện chính sách ngoại giao đa phơng dựa
vào : Quan hệ quốc tế nói chung, không phân biệt chế độ chính trị xã
hội khác nhau trên cơ sở các nguyên tắc cùng tồn tại hoà bình. Quan hệ
hợp tác quốc tế không chỉ mở rộng về quan hệ kinh tế quốc tế mà còn đảm
bảo cho chúng ta một nền hoà bình ổn định, có hoà bình ổn định thì kinh
tế mới phát triển.
1.3. yếu tố luật pháp.
Về pháp luật, chúng ta ban hành thêm nhiều luật mới trong đó có
luật đầu t nớc ngoài ban hành tháng 12/1987 mở ra một phơng thức mới
trong hoạt động kinh tế đối ngoại, tạo cơ sở pháp lý đa nền kinh tế Việt
Nam vào thị trờng Thế giới theo luật này thì đầu t trực tiếp nớc ngoài là
việc các tổ chức, cá nhân nớc ngoài trực tiếp đa vào Việt Nam vốn bằng
tiền nớc ngoài hoặc bất cứ tài sản nào đợc chính phủ Việt Nam chấp thuận
để hợp tác với Việt Nam hoặc tự mình kinh doanh trên lãnh thổ Việt Nam.
Với luật này, các nhà đầu t nớc ngoài sẽ có cơ hội để phát triển
công việc kinh doanh của mình trên thị trờng mới mẻ nhng đa dạng về
tài nguyên và nguồn lao động dồi dào.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét