-5-
dụng vốn, các nhà đầu tư có thể chủ động hơn trong việc sử dụng theo tiến độ xây
dựng, sản xuất kinh doanh, vốn chưa sử dụng chưa phải chịu lãi vay, có thể trả nợ
trước hạn và thậm chí không phải bị phạt, có thể thương lượng lại các điều khoản
một cách trực tiếp với người cho vay.
+ Thời hạn của các khoản vay dự án thường ngắn hơn thời hạn của các trái
phiếu, do đó có thể có lợi cho doanh nghiệp ở những thời kỳ lãi suất cao.
+ Đối với vay đầu tư dự án người đi vay không phải tốn chi phí đăng ký,
chi phí bảo lãnh và chi phí bán chứng khoán ra thị trường. Vì vậy trong một số
trường hợp chọn con đường đi vay sẽ có chi phí thấp hơn phát hành trái phiếu.
1.2.2. Vai trò của thẩm định tín dụng dự án đầu tư
Hoạt động tín dụng đa dạng nhưng rủi ro của nó cũng được thể hiện ở nhiều
mặt với nhiều mức độ khác nhau. Riêng về lĩnh vực cho vay đối với các tổ chức
kinh tế được chia thành các khâu liên kết trong dây chuyền tín dụng, từ khâu quyết
định cho vay, giải ngân đến khâu thu nợ. Chất lượng của các khoản tín dụng được
đảm bảo khi quyết định cho vay là đúng đắn, mà một quyết định là đúng đắn khi các
yếu tố liên quan đã được thẩm định đầy đủ rõ ràng.Vì thế thẩm định tín dụng không
chỉ là một khâu trong quá trình hoạt động tín dụng mà còn là điều kiện tiên quyết,
một yếu tố không thể thiếu tính cân nhắc của ngân hàng.
a. Khái niệm
Thẩm định tín dụng dự án đầu tư là việc tổ chức thu thập và xử lý thông tin
một cách khách quan, toàn diện các nội dung cơ bản ảnh hưởng trực tiếp đến tính
khả thi của dự án đầu tư làm căn cứ để quyết định cho vay.
b. Vai trò của thẩm định tín dụng dự án đầu tư
Thẩm định tín dụng dự án đầu tư có ý nghĩa quan trọng, được coi là giai
đoạn khởi đầu cho quá trình đầu tư tín dụng. Qua thẩm định có thể đánh giá một
cách khách quan về sự cần thiết, tính khả thi và hiệu quả của dự án, nhờ đó có biện
pháp để quản lý tốt quá trình cho vay, thu nợ nhằm hạn chế các rủi ro, nâng cao
hiệu quả đầu tư tín dụng. Mặt khác, thông qua thẩm định có thể tư vấn cho đơn vị
-6-
vay vốn có phương hướng và biện pháp xử lý các vấn đề liên quan đến dự án một
cách tốt nhất. Giúp các cơ quan quản lý Nhà nước đánh giá được sự cần thiết và tính
phù hợp của dự án đối với quy hoạch phát triển chung của ngành, xác định được
những lợi ích và thiệt hại của dự án khi đi vào hoạt động dựa trên các khía cạnh
công nghệ, vốn, ô nhiễm môi trường và các lợi ích xã hội khác.
c. Mục đích thẩm định tín dụng dự án đầu tư
Đối với doanh nghiệp hay chủ đầu tư, mục đích của việc thẩm định dự án
đầu tư là nhằm đánh giá dự án có khả thi hay không để quyết định đầu tư và huy
động nguồn tài trợ. Còn đối với ngân hàng hay nhà tài trợ thì mục đích của việc
thẩm định tín dụng đầu tư theo dự án là sử dụng các công cụ và kỹ thuật phân tích
nhằm kiểm tra đánh giá mức độ tin cậy và rủi ro của dự án mà khách hàng đề nghị
vay vốn, nhằm phục vụ cho việc ra quyết định tín dụng.
Khác với lập dự án đầu tư, thẩm định tín dụng cố gắng phân tích và hiểu
được tính chất khả thi thực sự của dự án về mặt kinh tế đứng trên góc độ của ngân
hàng. Khi lập dự án, khách hàng do mong muốn được vay vốn, có thể đã thổi phồng
và dẫn đến ước lượng quá lạc quan về hiệu quả kinh tế của dự án. Do vậy, thẩm
định tín dụng cần phải xem xét đánh giá đúng thực chất của dự án. Tuy nhiên không
phải vì thế mà tín dụng ước lượng dự án một cách quá bi quan khiến cho hiệu quả
dự án bị giảm sút đến nỗi quyết định không cho vay.
Mục đích của thẩm định tín dụng là thu thập thông tin và đánh giá lại dự án
nhằm phục vụ cho quyết định cho vay. Do vậy thẩm định tín dụng cần phải đạt
được các mục tiêu sau:
- Đánh giá mức độ tin cậy của dự án đầu tư mà khách hàng đã lập và nộp
cho ngân hàng khi làm thủ tục vay vốn.
- Phân tích và đánh giá được mức độ rủi ro của dự án khi quyết định cho vay.
- Giảm xác suất của hai loại sai lầm khi quyết định cho vay: (1) cho vay
một dự án tồi và (2) từ chối cho vay một dự án tốt.
- Góp phần nâng cao chất lượng tín dụng và giữ cho nợ quá hạn trong
vòng kiểm soát.
-7-
1.2.3. Các quan điểm khi thẩm định dự án đầu tư
Một dự án đầu tư phải được thẩm định đầy đủ các phương diện: Thị trường -
Kỹ thuật - Nhân sự và quản lý - Tài chính - Kinh tế - Xã hội. Từ các phương diện
thẩm định này có thể phân chi thành các quan điểm thẩm định như: Quan điểm tài
chính - Quan điểm kinh tế - Quan điểm phân phối thu nhập và Quan điểm nhu cầu
cơ bản.
Ngoài việc phân chia theo các quan điểm thẩm định như trên, dự án còn có
thể được thẩm định theo các quan điểm của các cá nhân và tổ chức như : Chủ đầu
tư, ngân hàng và các định chế tài chính khác, cơ quan quản lý ngân sách hay quốc gia.
Việc thẩm định dự án theo các quan điểm khác nhau là rất quan trọng vì
chúng cho phép các nhà thẩm định xác định xem các thành viên có liên quan tới dự
án thấy có đáng tài trợ, đáng tham gia hay thực hiện dự án hay không. Nếu kết quả
dự án là hấp dẫn đối với chủ đầu tư nhưng không hấp dẫn đối với các tổ chức tài
chính hay các cơ quan quản lý ngân sách của chính quyền thì dự án có thể gặp khó
khăn trong khâu xét duyệt hoặc tìm nguồn tài trợ. Ngược lại, nếu dự án là có lợi
theo quan điểm của ngân hàng hay của cơ quan quản lý ngân sách nhưng không có
lợi cho chủ đầu tư thì dự án có thể gặp nhiều khó khăn trong quá trình thực hiện.
Nói tóm lại, để đảm bảo cho việc phê chuẩn và thực hiện thành công một dự án cần
hấp dẫn đối với tất cả các nhà đầu tư và các tổ chức có liên quan tới dự án.
Dưới đây là bảng biểu diễn các quan điểm thẩm định của các chủ thể tham
gia vào dự án:
Quan điểm thẩm định Tài chánh
Kinh tế
xã hội
Phân phối
thu nhập
Nhu cầu cơ
bản
Ngân hàng + - + -
Chủ sở hữu + - + -
Cơ quan ngân sách + - + -
Quốc gia - + + +
-8-
Từ các quan điểm thẩm định trên đây cho thấy, thẩm định kinh tế, phân phối
thu nhập và nhu cầu cơ bản là thẩm định theo quan điểm của quốc gia nên các quan
điểm thẩm định này không được chủ đầu tư và ngân hàng quan tầm nhiều lắm.
Ngược lại, chủ đầu tư, ngân hàng và cơ quan quản lý ngân sách quan tâm đến thẩm
định theo quan điểm tài chính. Sau đây ta xem xét cụ thể từng quan điểm thẩm định
nêu trên.
- Quan điểm tổng đầu tư (TIPV – Total Investment Point of View):
Theo quan điểm của tổng đầu tư (mà đại diện là quan điểm của ngân hàng),
xem xét một dự án là nhằm đánh giá sự an toàn của số vốn vay mà dự án có thể cần.
Do đó quan điểm tổng đầu tư là nhằm xác định hiệu quả sinh ra từ toàn bộ số vốn
đầu tư ban đầu thông qua xem xét tới tổng dòng ngân lưu chi cho dự án (kể cả phần
đóng thuế) và tổng dòng ngân lưu thu về (kể cả phần trợ cấp trợ giá). Từ sự phân
tích này các ngân hàng (nhà tài trợ) sẽ xác định được tính khả thi về mặt tài chính,
nhu cầu vay vốn cũng như khả năng trả nợ của dự án. Nói cách khác, quan điểm
tổng đầu tư còn được xem là đại diện cho bất cứ thành viên nào muốn tham gia vào
dự án. Một cách tổng quát, quan điểm tổng đầu tư có thể được diễn tả như sau:
A = Lợi ích tài chính trực tiếp – Chi phí tài chính trực tiếp – Chi phí cơ hội
- Quan điểm của chủ đầu tư (EPV - Equity Investment Point of View):
Theo quan điểm của chủ sở hữu (còn gọi là quan điểm của chủ đầu tư hay
quan điểm của cổ đông), mục đích là xem xét giá trị thu nhập ròng còn lại của dự án
so với những gì họ có được trong trường hợp không thực hiện dự án, hay nói cách
khác là xem xét dòng tiền còn lại có đủ bù đắp được chi phí cơ hội của vốn chủ sở
hữu hay không. Khác với quan điểm tổng đầu tư, quan điểm phân tích của chủ sở
hữu khi tính toán dòng ngân lưu phải tính đến, tức là phải cộng vốn vay ngân hàng
cho dòng ngân lưu vào và khoản trả lãi vay và nợ gốc cho dòng ngân lưu ra. Tổng
quát, dòng tiền theo quan điểm chủ sở hữu có thể diễn tả như sau:
B = A + Vay - Trả nợ gốc và lãi vay
-9-
- Quan điểm của cơ quan quản lý ngân sách (Government Budget Point of
View):
Đối với cơ quan quản lý ngân sách, một dự án ra đời có thể cần được ngân
sách trợ giá hay trợ cấp đối với các sản pẩhm đầu ra hay sử dụng yếu tố đầu vào của
dự án và ngân sách cũng có thể thu được từ dự án các khoản phí và thuế trực tiếp
hay gián tiếp. Do đó, dòng tiền theo quan điểm này có thể diễn tả như sau:
C = Phí, thuế trực tiếp và gián tiếp - Trợ giá, trợ cấp trực tiếp và gián tiếp
- Quan điểm của nền kinh tế (Economic Point of View):
Khi sử dụng phân tích kinh tế để tính toán mức sinh lợi của dự án theo quan
điểm của toàn quốc gia, các nhà phân tích sử dụng “giá cả kinh tế” để xác định giá
trị thực của các yếu tố nhập lượng và xuất lượng của dự án. Những giá cả kinh tế
này có tính đến thuế và trợ cấp. Ngoài ra còn phải tính đến các ngoại tác tích cực và
tiêu cực mà dự án gây ra. Một số dự án thuộc lĩnh vực công như: bệnh viện, trường
học, công viên, cơ sở hạ tầng, đường giao thông miễn phí…, thẩm định dự án về
mặt tài chính có rất ít hoặc không có ý nghĩa mà chủ yếu là thẩm định về mặt kinh
tế. Lợi ích ròng của dự án theo quan điểm nền kinh tế có thể diễn tả như sau:
D = Tổng lợi ích kinh tế - Tổng chi phí kinh tế
- Quan điểm phân phối thu nhập (Social Distribution Point of View):
Theo quan điểm này, nhà thẩm định tính toán lợi ích tài chính ròng mà dự án
mang lại cho những nhóm đối tượng khác nhau khi họ bị ảnh hưởng trực tiếp hoặc
gián tiếp bởi dự án sau khi đã trừ chi phí cơ hội của họ.
Thẩm định phân phối thu nhập được xây dựng trên cơ sở của thẩm định kinh
tế và tài chính có tính đến các ngoại tác do dự án mang lại làm thay đổi thu nhập
của các đối tượng khác nhau trong xã hội.
- Quan điểm nhu cầu cơ bản (Basic Needs Point of View):
Theo quan điểm này, các nhà thẩm định quy ra một lợi ích ngoại tác khi dự
án tạo ra được một sản phẩm hàng hóa hay dịch vụ đáng khuyến khích như giáo
dục, y tế hay dinh dưỡng và trong trường hợp đó, nhà thẩm định sẽ cộng thêm một
-10-
khoản tiền thưởng cho mỗi giá trị hàng hóa gia tăng đáp ứng nhu cầu cơ bản của xã
hội. Ngược lại, nếu dự án tạo ra một sản phẩm hay dịch vụ đáng trách cho xã hội
chẳng hạn như thuốc lá thì sẽ quy ra một khoản tiền phạt cho mỗi đơn vị giá trị
hàng hóa gia tăng gây hại cho xã hội.
1.2.4. Các nội dung của thẩm định tín dụng dự án đầu tư
Thẩm định tín dụng nói chung và thẩm định tín dụng đầu tư theo dự án nói
riêng được khái quát qua các nội dung sau:
- Thẩm định tính pháp lý, tư cách của đơn vị vay vốn. Căn cứ thẩm định là
dựa trên cơ sở hồ sơ pháp lý do khách hàng cung cấp, thông qua phỏng vấn, hồ sơ
lưu trữ… Đây là yếu tố mang tính tiền đề khi ra quyết định tín dụng.
- Thẩm định tình hình sản xuất kinh doanh và tình hình tài chính của đơn
vị vay vốn. Cơ sở thẩm định là tình hình sản xuất kinh doanh hiện tại của doanh
nghiệp, phân tích tình hình tài chính dựa trên các báo cáo tài chính gồm các nhóm
chỉ tiêu: nhóm chỉ tiêu thanh toán; nhóm chỉ tiêu hiệu quả sử dụng vốn; nhóm chỉ
tiêu lợi nhuận; nhóm chỉ tiêu cơ cấu tài chính. Đây là yếu tố mang tính tham khảo
khi ra quyết định tín dụng.
- Thẩm định dự án đầu tư. Đây là yếu tố mang tính quyết định khi ra quyết
định tín dụng.
- Thẩm định tài sản đảm bảo. Đây là yếu tố mang tính dự phòng khi ra
quyết định tín dụng.
1.3. Thẩm định rủi ro tài chính dự án đầu tư
1.3.1. Các tiêu chuẩn đánh giá hiệu quả tài chính dự án đầu tư
Một dự án đầu tư được đánh giá là rất tốt khi dự án đó phải tạo ra được mức
lợi nhuận tuyệt đối - tức khối lượng của cải ròng lớn nhất; có tỷ suất sinh lời cao – ít
nhất phải cao hơn lãi suất vay hoặc tỷ suất sinh lời mong muốn hoặc tỷ suất chiết
khấu bình quân ngành hoặc thị trường; khối lượng và doanh thu hòa vốn thấp và dự
án phải nhanh chóng thu hồi vốn - để hạn chế những rủi ro bất trắc.
-11-
Xuất phát từ suy nghĩ đơn giản và thông thường đó, người ta có những tiêu
chuẩn tương ứng dùng để thẩm định tính hiệu quả của dự án. Có nhiều tiêu chuẩn
khác nhau được dùng để đánh giá kết quả dự kiến của các dự án đầu tư nhưng trên
thực tế có ba chỉ tiêu được sử dụng nhiều nhất trong thẩm định dự án đầu tư đại
diện cho các tiêu chuẩn hiệu quả về mặt tuyệt đối, tương đối và thời gian, đó là các
tiêu chuẩn: hiện giá ròng - NPV; tiêu chuẩn tỷ suất sinh lời nội bộ - IRR và tiêu
chuẩn thời gian hoàn vốn đầu tư.
a. Tiêu chuẩn hiện giá ròng – NPV
- Đây là chỉ tiêu cơ bản dùng để đánh giá hiệu quả của một dự án đầu tư vì
nó thể hiện giá trị tăng thêm mà dự án mang lại cho công ty. NPV là tổng hiện giá
ngân lưu ròng của dự án với suất chiết khấu thích hợp. NPV được sử dụng rộng rãi
trong thẩm định hiệu quả tài chính dự án.
∑
=
+
=
n
t
t
t
r
NCF
NPV
0
)1(
Trong đó:
NCF
t
là ngân lưu ròng năm thứ t;
r là suất chiết khấu của dự án;
n là tuổi thọ của dự án;
- Ý nghĩa của NPV:
+ Với cùng một suất chiết khấu, dự án nào có NPV lớn chứng tỏ dự án đó
có hiệu quả hơn vì nó tạo ra giá trị lớn hơn cho công ty.
+ Một dự án có NPV>0 có nghĩa là dự án có suất sinh lời cao hơn chi phí
cơ hội của vốn (suất sinh lời của dự án cao hơn suất chiết khấu).
+ Một dự án có NPV=0 có nghĩa là dự án có suất sinh lời bằng chi phí cơ
hội của vốn (suất sinh lời của dự án bằng suất chiết khấu).
+ Một dự án có NPV<0 có nghĩa là dự án có suất sinh lời thấp hơn chi phí
cơ hội của vốn (suất sinh lời của dự án nhỏ hơn suất chiết khấu).
Nói chung dự án chỉ đáng đầu tư khi nào có NPV>0 và chỉ khi ấy thu nhập từ
dự án mới đủ trang trải chi phí và mang lại lợi nhuận tăng thêm cho nhà đầu tư.
-12-
Sử dụng chỉ tiêu NPV để quyết định có nên đầu tư dự án hay không nói
chung có các ưu điểm sau: Có tính đến thời giá của tiền tệ; xem xét toàn bộ ngân
lưu của dự án; đơn giản và có tính chất cộng: NPV(A+B) = NPV(A) + NPV(B); có
thể so sánh giữa các dự án có quy mô khác nhau. Tuy nhiên, chỉ tiêu NPV cũng có
nhược điểm là việc tính toán xác định chỉ tiêu này phụ thuộc vào suất chiết khấu, do
đó đòi hỏi phải quyết định tỷ suất chiết khấu phù hợp mới áp dụng tiêu chuẩn này được.
b. Tiêu chuẩn tỷ suất sinh lời nội bộ - IRR
Tỷ suất sinh lời nội bộ là tỷ lệ chiết khấu tại đó giá trị hiện tại của dòng tiền
vào tương đương với dòng tiền ra. Nói cách khác, nó là tỷ lệ chiết khấu sao cho giá
trị hiện tại của thu nhập từ dự án tương đương với giá trị hiện tại của đầu tư và
NPV=0.
∑
=
=
+
=
n
t
t
t
IRR
NCF
NPV
0
0
)1(
IRR chính là tỷ suất sinh lời thực tế của dự án đầu tư. Vì vậy một dự án được
chấp nhận khi tỷ suất sinh lời thực tế của nó (IRR) bằng hoặc cao hơn tỷ suất sinh
lời yêu cầu (suất chiết khấu).
Sử dụng chỉ tiêu IRR để quyết định có nên đầu tư dự án hay không nói chung
có ưu điểm là có tính đến thời giá tiền tệ, có thể tính IRR mà không cần biết suất
chiết khấu, tính đến toàn bộ ngân lưu. Tuy vậy, phương pháp này có nhược điểm là
có thể một dự án có nhiều IRR khi dòng ngân lưu đổi dấu nhiều lần.
Cùng với NPV, chỉ tiêu IRR được sử dụng rộng rãi trong đánh giá hiệu quả
tài chính dự án đầu tư.
c. Tiêu chuẩn thời gian hoàn vốn – PP – Payback Period
Thời gian hoàn vốn là thời gian để ngân lưu tạo ra từ dự án đủ bù đắp chi phí
đầu tư ban đầu. Cơ sở để chấp nhận dự án dựa trên tiêu chuẩn thời gian hoàn vốn là
thời gian hoàn vốn phải thấp hơn hoặc bằng thời gian hoàn vốn yêu cầu hay còn gọi
là ngưỡng thời gian hoàn vốn.
-13-
Có hai phương pháp tính thời gian hoàn vốn là thời gian hoàn vốn không
chiết khấu và thời gian hoàn vốn có chiết khấu.
- Phương pháp thời gian hoàn vốn không chiết khấu.
1
0
+
=
∑
+=
n
n
t
t
NCF
NCF
nPP
Trong đó: n là số năm để ngân lưu tích lũy của dự án <0, nhưng ngân lưu
tích lũy sẽ dương khi đến năm thứ n+1. Ưu điểm của phương pháp này là đơn giản
nhưng nó không xét đến dòng ngân lưu sau thời gian hoàn vốn và không quan tâm
đến giá trị tiền tệ theo thời gian.
Để khắc phục được nhược điểm này người ta thường dùng phương pháp thời
gian hoàn vốn có chiết khấu (DPP – Discount Payback Period). Việc tính toán thời
gian hoàn vốn có chiết khấu cũng giống như phương pháp tính thời gian hoàn vốn
không chiết khấu nhưng dựa trên dòng ngân lưu có chiết khấu.
Một dự án được chọn là dự án mang lại lợi nhuận tuyệt đối - tức khối lượng
của cải ròng lớn nhất (NPV lớn nhất). Tuy nhiên nguồn lực nói chung theo quy luật
ngày một khan hiếm, vì vậy phải xem xét dự án tạo ra lợi nhuận lớn nhất ấy đã phải
sử dụng mức vốn đầu tư là bao nhiêu. Hiệu quả mà dự án mang lại có thật thỏa đáng
hay không khi so sánh với cùng mức vốn đầu tư như vậy nếu đầu tư vào một dự án
khác. Để giải quyết các câu hỏi trên người ta sử dụng chỉ tiêu so sánh tương đối:
Chỉ số lợi nhuận - PI.
d. Chỉ số lợi nhuận (PI – Profibility Index)
Chỉ số lợi nhuận hay còn gọi là tỷ số lợi ích - chi phí (B/C – Benefit-Cost
Ratio) là tỷ số giữa tổng hiện giá của lợi ích ròng chi cho tổng hiện giá của chi phí
đầu tư ròng của dự án.
I
PV
PI =
Chỉ tiêu PI cũng có những ưu nhược điểm như chỉ tiêu NPV. Tuy nhiên chỉ
tiêu NPV là số đo tuyệt đối của lợi nhuận hay của cải gia tăng từ dự án, trong khi PI
là số đo tương đối biểu thị lợi nhuận tạo ra trên một đồng vốn đầu tư.
-14-
1.3.2. Rủi ro tài chính và sự cần thiết phải phân tích rủi ro tài chính trong
tín dụng dự án đầu tư
a. Rủi ro tài chính trong tín dụng dự án đầu tư
Rủi ro là một sự không chắc chắn hay một tình trạng bất ổn và được định
nghĩa như là sự khác biệt giữa giá trị thực tế và giá trị kỳ vọng khi đánh giá một chỉ
tiêu nào đó. Giá trị kỳ vọng chính là giá trị trung bình có trọng số của một biến nào
đó, chính là xác suất xảy ra giá trị của biến đó. Nói đến rủi ro tức là nói đến quan hệ
giữa giá trị của một biến nào đó so với kỳ vọng của nó.
Như vậy, rủi ro đối với các chỉ tiêu của dự án đầu tư (như là NPV, IRR )
chính là sự sai biệt của giá trị thực tế so với giá trị kỳ vọng của các chỉ tiêu này. Với
cách tiếp cận đó chúng ta có thể thấy rằng việc thẩm định rủi ro các chỉ tiêu tài
chính của dự án đầu tư cần thiết phải tính đến sự biến động của các biến rủi ro ảnh
hưởng dẫn đến sự sai biệt giữa giá trị kỳ vọng và giá trị thực tế của các chỉ tiêu tài
chính của dự án. Đây chính là mấu chốt của việc đánh giá mức độ rủi ro tài chính
của dự án.
Có nhiều biến rủi ro ảnh hưởng ảnh hưởng đến hiệu quả tài chính của dự án,
trong đó các biến thường tác động nhiều nhất là sự thay đổi của giá bán, sản lượng
tiêu thụ, thay đổi giá cả nguyên vật liệu, yếu tố lạm phát, tỷ giá hối đoái, công suất
hoạt động
b. Sự cần thiết phải thẩm định rủi ro tài chính dự án đầu tư
Người ta thường nói: “có một điều chắc chắn là không có gì chắc chắn cả”.
Mặc dù trước khi ra quyết định cho vay, ngân hàng đã tiến hành thẩm định các yếu
tố kỹ càng và khoa học, nhưng khả năng thu hồi vốn của dự án còn phụ thuộc vào
nhiều yếu tố khác nữa và chẳng ai biết chắc được chuyện gì sẽ xảy ra cho đến khi
nó thực sự xảy ra. Vì thế quyết định tín dụng dự án đầu tư là một quyết định rủi ro.
Chúng ta không thể loại bỏ được rủi ro nhưng có thể phân tích, đánh giá mức độ rủi
ro nhằm kiểm soát và hạn chế được rủi ro.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét