- Hoàn thiện hơn các quy định về trình tự thủ tục trong hoạt động cấp
giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Điều này chúng ta có thể nhận thấy quá
trình triển khai công tác cấp GCNQSD đất ở nước ta từ khi có Luật Đất đai
đến nay. Qua một thời gian dài Nhà nước tiến hành cấp GCNQSD đất cho
các chủ sử dụng trên các địa phương trong cả nước, thực tế đã cho thấy có
rất nhiều các trường hợp, tình tiết ngoài thực tế phức tạp hoặc không được
đề cập trong các quy định của các văn bản pháp luật về đất đai. Do vậy đã
gây cho các địa phương nhiều khó khăn trong việc xác định căn cứ pháp lý
về đất đai cho các chủ sử dụng. Sau khi có Luật đất đai năm 2003 thì các
quy định về công tác cấp GCNQSD đất đai được hoàn thiện, cụ thể hơn,
tính pháp lý của các quy định hướng dẫn về thủ tục, trình tự cấp GCNQSD
đất được luật hóa ở mức cao hơn. Cụ thể chúng ta có thể ví dụ tại Điều 87
Luật đất đai năm 2003 về các trường hợp được công nhận cấp GCNQSD đất
và hiện nay để tháo gỡ những vướng mắc trong công tác cấp GCNQSD đất
Chính phủ đã ban hành Nghị định 84/CP ngày 25/5/2007. Có thể nói đây là
một văn bản đã phần nào tháo gỡ những khó khăn, bất cập của các địa
phương trong hoạt động kê khai cấp GCNQSD đất, tạo điều kiện thuận lợi
về thủ tục hồ sơ để các địa phương có thể đẩy nhanh tiến độ cấp GCNQSD
đất.
- Đối với công tác điều tra, đo đạc thì kết quả điều tra, đo đạc là cơ sở
kỹ thuật cho việc xác định vị trí, hình thể kích thước, diện tích, loại đất và
tên chủ sử dụng đất để phục vụ yêu cầu tổ chức kê khai xét duyệt đăng ký
đất đai.
- Đối với công tác quy hoạch kế hoạch sử dụng đất đó sẽ là căn cứ
định hướng cho việc giao đất để đảm bảo việc sử dụng quỹ đất một cách ổn
định, hợp lý có hiệu quả. Do vậy thông qua việc giao đất, quy hoạch và kế
hoạch sử dụng đất có tác động gián tiếp đến công tác đăng ký đất để đảm
bảo cho việc thiết lập nên hệ thống hồ sơ địa chính ban đầu ổn định. Quy
hoạch kế hoạch cũng trực tiếp ảnh hưởng đến đăng ký đất vì thiếu quy
hoạch sử dụng đất cũng sẽ không thể giải quyết triệt để các trường hợp sử
dụng đất có nguồn gốc không rõ ràng, bất hợp pháp, do vậy sẽ không thể
hoàn thành nhanh gọn, dứt điểm nhiệm vụ đăng ký đất đai ban đầu.
5
- Trong công tác phân hạng và định giá đất đó là cơ sở cho việc xác
định trách nhiệm tài chính của người sử dụng đất trước và sau khi đăng ký
cấp GCNQSDĐ: đồng thời là cơ sở để xác định trách nhiệm của người sử
dụng đất trong quá trình sử dụng như việc nộp thuế sử dụng đất và các loại
thuế khác khi chuyển quyền sử dụng đất.
- Là cơ sở để thực hiện công tác thanh tra và giải quyết tranh chấp đất
đai. Bởi vì khi các mâu thuẫn đất đai xẩy ra thì để giải quyết các mâu thuẫn
này thì trước hết phải dựa vào các thông tin về đất đai mà cơ quan Nhà nước
đã quản lý trong hệ thống hồ sơ địa chính. Mặt khác trong quá trình thực
hiện đăng ký đất ban đầu, công tác thanh tra và giải quyết tranh chấp đất đai
có vai trò quan trọng giúp xác định đúng đối tượng được đăng ký, xử lý triệt
để những tồn tại của lịch sử trong quan hệ sử dụng đất, chấm dứt tình trạng
sử dụng đất ngoài sổ sách, ngoài sự quản lý của Nhà nước.
- Là cơ sở để tiến hành thống kê đất đai và kiểm kê đất đai.
- Đăng ký cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là cơ sở để quyền
sử dụng đất được tham gia thị trường bất động sản một cách thuận lợi. Đây
là điều kiện cần và đủ để QSD đất - một loại hàng hóa đặc biệt được lưu
thông trên thị trường. Đặc biệt trong điều kiện nền kinh tế ở nước ta hiện
nay - QSD đất có vai trò rất to lớn trong việc thúc đẩy các thành phần kinh
tế phát triển. Bởi vì khi QSD đất được xác nhận, đảm bảo về mặt pháp lý nó
có tác dụng trên nhiều phương diện. Cụ thể:
- Tạo điều kiện cho người sử dụng đất yên tâm đầu tư khai thác các
thuộc tính có ích của đất đai theo đúng mục đích đã được xác nhận;
- Tham gia vào thị trường hàng hóa theo nhiều góc độ khác nhau như:
thế chấp để tạo vốn cho sản xuất, kinh doanh; góp đất để mở rộng sản xuất
hàng hóa; đáp ứng nhu cầu sử dụng đất của các thành phần xã hội theo hình
thức chuyển QSD đất được thuận lợi dễ dàng,
+ Đăng ký cấp GCNQSDĐ cũng là cơ sở để cơ quan nhà nước có thẩm
quyền giám sát tình hình quản lý và sử dụng đất của các chủ sử dụng đất,
bên cạnh đó đăng ký cấp GCNQSDĐ là cơ sở để Nhà nước có các chính
sách hợp lý, phù hợp đối với từng mục đích kê khai của từng đối tượng sử
dụng. (Nguyễn Thị Lợi ,2007)[5]
2.1.2. Cơ sở pháp lý
6
2.1.2.1. Những văn bản pháp lý
Nhận thức được tầm quan trọng của đất đai đối với đời sống xã hội và
phát triển kinh tế nên ngay từ khi giành được độc lập Đảng và Nhà nước ta
luôn quan tâm đến vấn đề đất đai. Tháng 1/1953 Trung ương Đảng họp hội
nghị lần thứ IV quyết đinh triệt tiêu chế độ sở hữu ruộng đất của các nước
xâm lược, xoá bỏ chế độ sở hữu ruộng đất của giai cấp phong kiến Việt
Nam và thực hiện chia lại ruộng đất cho Nhân dân.
Ngày 04/02/1954 Quốc hội Việt Nam dân chủ cộng hoà thông qua luật
cải cách ruộng đất và ngày 19/12/1953 Chủ tịch Hồ Chí Minh ký sắc lệnh
ban hành luật cải cách ruộng đất.
Đến năm 1960 Hiến pháp ra đời và đã quy định 3 hình thức sở hữu ruộng
đất đó là: Sở hữu toàn dân, sở hữu tập thể và sở hữu tư nhân. Sự ra đời của
hiến pháp này đã giúp nhân dân miền Bắc yên tâm tập trung sản xuất, nâng
cao năng suất sản xuất nông nghiệp đảm bảo nhu cầu lương thực cho cả
nước.
Sau khi miền nam hoàn toàn giải phóng, đất nước hoàn toàn độc lập Đảng
và Nhà nước đã ban hành nhiều chính sách đất đai cho phù hợp với điều
kiện mới của đất nước. Ngày 20/6/1977 Chính phủ đã ban hành quy định
169/CP với nội dung thống kê đất đai trong cả nước.
Năm 1980 Hiến pháp ra đời đã quy định hình thức sở hữu duy nhất đối
với đất đai. Đó là hình thức sở hữu toàn dân do nhà nước thống nhất quản
lý.
Điều 19 của Hiến pháp năm 1980 quy định: “Đất đai, núi rừng, sông hồ,
hầm mỏ, tài nguyên thiên nhiên trong lòng đất ở vùng biển và thềm lục địa
cùng các tài sản khác mà pháp luật quy định là của Nhà nước đều thuộc
quyền sở hữu của toàn dân”.
Điều 20 của Hiến pháp năm 1980 cũng quy định: “Nhà nước thống nhất
quản lý đất đai theo quy định chung”.
Để thực hiện tốt hiến pháp năm 1980 và công tác quản lý đất đai, Chính
phủ đã ban hành các văn bản liên quan đến công tác này như: Ngày
01/07/1980 Chính phủ ra quyết định số 201/CP về thống nhất tăng cường
7
công tác quản lý ruộng đất trong cả nước. Trong đó quy định vấn đề cấp
GCNQSDĐ là một nội dung quản lý Nhà nước về đất đai.
Tiếp theo Quyết định 201/CP ngày 10/11/1980 Thủ tướng Chính phủ ra
chỉ thị 299/TTG về công tác đo đạc phân hạng và đăng ký thống kê ruộng
đất trong cả nước với mục đích là nắm lại toàn bộ quỹ đất toàn quốc, đáp
ứng yêu cầu quản lý và sử dụng đất đai trong giai đoạn mới.
Ngày 05/11/1981 Quyết định 56/ĐK-TK ra đời nhằm tăng cường thực
hiện. Chức năng nhiệm vụ quản lý, quy định thủ tục đăng ký thống kê ruộng
đất và biểu mẫu lập hồ sơ địa chính. Sau khi ra đời, Quyết định 56/ ĐK-TK
đó được triển khai rộng khắp trong cả nước. Có thể nói, đây là hệ thống hồ
sơ đầu tiên được ban hành. Nó đã có tác dụng rất lớn trong công tác đăng ký
đất đai ở giai đoạn này.
Ngày 14/07/1987 tổng cục quản lý ruộng đất đã ban hành quyết định số
201/QĐ-DKTT về ban hành cấp GCNQSDĐ và thông tư 02/TT-DKTK đảm
bảo cho người dân yên tâm sản xuất.
Ngày 8/1/1988 Luật Đất đai đầu tiên được ban hành, do vậy việc quản lý
đất đai đã được chú trọng hơn và dần đi vào nề nếp.
Những năm tiếp theo đó nước ta đã có sự chuyển biến mạnh mẽ về mọi
phương diện, đặc biệt là kinh tế chuyển theo hướng sản xuất hàng hoá và
vận động theo cơ chế thị trường. Điều đó đã tác động rất lớn đến công tác
quản lý đất đai cũng như việc sử dụng đất đai. Vì vậy chỉ sau 5 năm thực
hiện, Luật Đất đai năm1988 đã bộc lộ một số nhược điểm và không còn
phù hợp với thực tiễn do vậy đòi hỏi cần có sự thay đổi cho phù hợp hơn.
Ngày 15/10/1993 Luật Đất đai sửa đổi được ban hành. Trên cơ sở Hiến
pháp 1992 và sửa đổi , bổ sung một số điều của Luật Đất đai 1988.
Điều 1 của luật này quy định: “Đất đai sử dụng do Nhà nước quản lý”;
Điều 13 của luật này nêu lên 7 nội dung về quản lý Nhà nước về đất đai.
Một số văn bản được Nhà nước ban hành trong một vài năm gần đây liên
quan đến công tác này là:
- Nghị định 60/CP ngày 05/07/1994 của Chính phủ về việc cấp giấy chứng
nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở đô thị.
8
- Công văn 647/CV-ĐC ngày 31/05/1995 của Tổng cục Địa chính (nay là
Bộ Tài nguyên & Môi trường) về việc hướng dẫn xử lý một số vấn đề về đất
đai.
- Ngày 20/2/1998 Thủ tướng Chính phủ ra chỉ thị số 10/CT-TTG về một số
biện pháp đẩy nhanh và hoàn thiện công tác giao đất, ĐKĐĐ, cấp
GCNQSDĐ.
- Công văn 1725/LB-QLB ngày 17/12/1998 của bộ xây dựng và tổng cục
Địa chính (nay là Bộ Tài nguyên & Môi trường) về việc hướng dẫn một số
biện pháp đẩy nhanh việc cấp giấy chứng nhận sở hữu nhà và sử dụng đất.
- Chỉ thị 18/1999/CT-TTG ra ngày 1/7/1999 của Thủ tướng Chính phủ việc
đẩy nhanh và hoàn thiện việc cấp GCNQSDĐ, sở hữu nhà và sử dụng đất
nông nghiệp, lâm nghiệp, đất ở nông thôn vào năm 2000.
- Công văn 776/CV-Cp ngày28/7/1999 của Chính phủ về cấp GCNQSDĐ
và sở hữu nhà ở đô thị.
- Thông tư 464/1998/TT-TCĐC về hướng dẫn thủ tục ĐKĐĐ và cấp
GCNQSDĐ, lập hồ sơ địa chính.
- Thông tư liên tịch số 1442/1999/TTLT-TCĐC-BTC ngày 21/09/1999 của
liên Bộ tài chính và Tổng cục địa chính (nay là Bộ Tài nguyên và Môi
trường) hướng dẫn cấp giấy chứng nhận theo chỉ thị 18/1999/CT-TTg.
- Thông tư 1990/TT-TCĐC ngày 30/11/2001 của Tổng cục Địa chính (nay
là Bộ Tài nguyên & Môi trường) về việc hướng dẫn ĐKĐĐ và cấp
GCNQSDĐ.
Ngày 26/11/2003 Luật Đất đai năm 2003 được thông qua và có hiệu lực từ
ngày 1/7/2004.
Tại Khoản 1 Điều 5 Luật Đất đai năm 2003 quy định “Đất đai thuộc sở
hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu”.
Bên cạnh đó ĐKĐĐ và cấp GCNQSDĐ là một trong 13 nội dung của quản
lý Nhà nước về đất đai. (Nguyễn Khắc Thái Sơn, 2007)[8]
Tại Khoản 2 Điều 6 Luật Đất đai năm 2003 quy định: “Nội dung quản lý
nhà nước về đất đai bao gồm:
- Nội dung 1: Ban hành những văn bản pháp luật về quản lý và sử dụng đất
đai và tổ chức thực hiện;
9
- Nội dung 2: Xác định địa giới hành chính, lập và quản lý hồ sơ địa giới
hành chính, lập bản đồ địa giới hành chính;
- Nội dung 3: Khảo sát, đo đạc, đánh giá, phân hạng đất, chuyển mục đích
sử dụng đất;
- Nội dung 4: Quản lý quy hoạch sử dụng đất, kế hoạch sử dụng đất;
- Nội dung 5: Quản lý việc giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất, chuyển mục
đích sử dụng;
- Nội dung 6: Đăng ký quyền sử dụng đất, lập và quản lý hồ sơ địa chính,
cấp GCNQSDĐ;
- Nội dung 7: Thống kê kiểm kê đất đai;
- Nội dung 8: Quản lý tài chính về đất đai;
- Nội dung 9: Quản lý và phát triển thị trường quyền sử dụng đất trong thị
trường bất động sản;
- Nội dung 10: Quản lý, giám sát việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của
người sử dụng đất;
- Nội dung 11: Thanh tra, kiểm tra việc chấp hành các quy định của pháp
luật về đất đai và xử lý các vi phạm về pháp luật đất đai;
- Nội dung 12 : Giải quyết tranh chấp về đất đai; giải quyết khiếu nại, tố
cáo các vi phạm trong quản lý và sử dụng đất đai;
- Nội dung 13: Quản lý các dịch vụ công về đất đai.
Cùng với luật các văn bản hướng dẫn thi hành Luật Đất đai:
- Nghị định 181/2004/NĐ-CP ra đời ngày 29/10/2004 với nội dung hướng
dẫn việc thực hiện luật đất đai 2003. Điều 5 có quy định cụ thể việc ĐKĐĐ
và cấp GCNQSDĐ.
Nghị định 84/2007/NĐ- CP ngày 25/5/2007 của Chính phủ quy định bổ
sung về việc cấp GCNQSDĐ, trình tự, thủ tục bồi thường, hỗ trợ tái định
cư, khi nhà nước thu hồi đất và giải quyết khiếu nại về đất đai.
- Quyết định 2/2004/QĐ-BTN&MT ra đời ngày 1/11/2004 quy định về cấp
GCNQSDĐ. Đồng thời ra thông tư 29/TT-BTN&MT về việc chỉnh lý hồ sơ
địa chính.
2.1.2.2. Những quy định về công tác cấp GCNQSDĐ trong Luật Đất đai
2003
10
Sự ra đời của Luật Đất đai năm 2003 đã đánh giấu sự hoàn thiện hơn về
chính sách và pháp luật đất đai ở nước ta trong giai đoạn đổi mới: Giai đoạn
của phát triển và hội nhập nhất là sau khi Việt Nam đã trở thành thành viên
của tổ chức thương mại thế giới WTO. Nó đã thể hiện được quan điểm về
việc quản lý đất đai của Đảng, Nhà nước ta trong giai đoạn đổi mới. Đây sẽ
là tiền đề, động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế và nó sẽ là những tiền đề,
động lực để thúc đẩy sự phát triển kinh tế và nó sẽ có những đóng góp
không nhỏ vào công cuộc kiến thiết đất nước.
Những quy định về công tác cấp giấy GCNQSDĐ trong Luật Đất đai
2003 gồm:
Điều kiện được cấp GCNQSDĐ:
Theo điều 50 Luật Đất đai năm 2003 thì điều kiện để được cấp
GCNQSDĐ là:
- Hộ gia đình cá nhân đang sử dụng đất ổn định được uỷ ban nhân dân
(viết tắt là UBND) xã (phường, thị trấn) xác nhận là không có tranh chấp
và phải có một trong số các giấy tờ sau thì được cấp giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất và không phải nộp tiền sử dụng đất:
+ Những giấy tờ về quyền được sử dụng đất đai trước ngày 15 tháng 10
năm 1993 do cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp trong quá trình thực
hiện chính sách đất đai của nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hoà, Chính
phủ Cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam và Nhà nước
Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam;
+ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tạm thời được cơ quan Nhà nước
có thẩm quyền cấp hoặc có tên trong sổ đăng ký ruộng đất, sổ địa chính;
+ Giấy hợp pháp về thừa kế, tặng cho quyền sử dụng đất hoặc tài sản gắn
liền với đất; giấy tờ giao đất tình nghĩa gắn liền với đất;
+ Giấy tờ chuyển nhượng quyền sử dụng đất, mua bán nhà ở gắn liền với
đất ở trước ngày 15 tháng 10 năm1993;
+ Giấy tờ về thanh lý, hoá giá nhà ở gắn liền với đất ở theo quy định của
pháp luật;
+ Giấy tờ do cơ quan có thẩm quyền thuộc chế độ cũ cấp cho người sử
dụng đất.
11
- Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất có một trong các loại giấy tờ quy
định tại khoản trên có ghi tên người khác kèm theo giấy chuyển nhượng
quyến sử dụng đất.
- Hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất có hộ khẩu thường trú tại địa phương và
trực tiếp sản xuất nông lâm nghiệp, nuôi trồng thuỷ sản tại vùng có điều
kiện kinh tế khó khăn thì được cấp GCNQSDĐ và không phải nộp tiền sử
dụng đất.
- Hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất theo bản án hoặc quyết định của toà án
nhân dân…được cấp GCNQSDĐ sau khi thực hiện nghĩa vụ tài chính.
- Hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất không có một trong các loại giấy tờ quy
định tại khoản 1, sử dụng đất sau ngày 15/10/1993 được cấp GCNQSDĐ và
phải nộp tiền theo quy định của Chính phủ.
- Hộ gia đình, cá nhân được nhà nước giao, cho thuê đất từ ngày
15/10/1993 đến ngày Luật Đất đai 2003 có hiệu lực mà chưa được cấp
GCNQSDĐ thì được cấp. Nếu chưa thực hiện nghĩa vụ tài chính thì phải
thực hiện.
- Cộng đồng dân cư đang sử dụng các công trình là: Đình, chùa, miếu, am,
từ đường, nhà thờ họ được cấp GCNQSDĐ khi được xác nhận là không có
tranh chấp.
- Tại điều 51 Luật Đất đai 2003 cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho
tổ chức, cơ sở tôn giáo đang sử dụng đất.
- Tổ chức đang sử dụng đất được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
đối với phần diện tích sử dụng đất đúng mục đích, có hiệu quả.
- Phần diện tích đất mà tổ chức đang sử dụng nhưng không được cấp giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất được giải quyết như sau:
+ Nhà nước thu hồi phần diện tích đất không sử dụng, sử dụng không đúng
mục đích, sử dụng không hiệu quả;
+ Tổ chức phải bàn giao phần diện tích đó sử dụng làm đất ở cho UBND
huyện , quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh để quản lý;
- Đối với tổ chức kinh tế lựa chọn hình thức thuê đất thì cơ quan quản lý
đất đai của tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương làm thủ tục ký hợp đồng
thuê đất trước khi cấp GCNQSDĐ.
12
- Cơ sở tôn giáo đang sử dụng đất được cấp GCNQSDĐ khi có các điều
kiện sau đây:
+ Cơ sở tôn giáo được Nhà nước cho phép hoạt động;
+ Có đề nghị bằng văn bản của tổ chức tôn giaó có cơ sở tôn giáo đó;
+ Có xác nhận của UBND xã, phường, thị trấn nơi cú đất về nhu cầu sử
dụng đất của cơ sở tôn giáo đó.
Nguyên tắc cấp GCNQSDĐ.
Nguyên tắc cấp GCNQSDĐ được quy định tại điều 48 có nội dung sau:
- GCNQSDĐ được cấp cho người sử dụng đất theo một mẫu thống nhất
trong cả nước đối với mọi loại đất.
- GCNQSDĐ do Bộ Tài nguyên và Môi trường phát hành.
- GCNQSDĐ được cấp theo từng thửa đất.
Trường hợp quyền sử dụng đất là tài sản chung của vợ và chồng thì
GCNQSDĐ phải ghi cả họ tên vợ và họ tên chồng.
Trường hợp thửa đất có nhiều cá nhân, hộ gia đình, tổ chức cùng sử dụng
thì GCNQSDĐ được cấp cho từng cá nhân, từng hộ gia đình, từng tổ chức
đồng quyền sử dụng.
Trường hợp hợp quyền sử dụng đất thuộc cộng đồng thì cấp chung cho cả
cộng đồng và trao cho từng người đại diện.
Trường hợp là cơ sở tôn giáo thì GCNQSDĐ được cấp chung cho cơ sở
tôn giáo và trao cho người đại diện.
Trường hợp người sử dụng đó được cấp GCNQSDĐ thì không phải đổi
GCNQSDĐ theo quy định của luật này. Nếu chuyển quyền sử dụng đất thì
người nhận quyền sử dụng đất sẽ được cấp theo quy định của luật này.
2.1.2.3 Các quy định về trình tự thủ tục tiến hành cấp GCNQSDĐ trong
các văn bản dưới luật
Để đảm bảo công tác đăng ký đất đai và cấp GCNQSDĐ được thực hiện
một cách khoa học đảm bảo đúng luật. Ngày 30/11/2001. Tổng cục Địa
chính ra thông tư số 1990/TT-TCĐC quy định về quy trình đăng ký đất đai
và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất gồm các bước sau:
Bước 1: Công tác chuẩn bị
Bao gồm các công việc sau:
13
- Thành lập hội đồng đăng ký đất đai cấp xã có từ 5-7 thành viên bao gồm
các thành viên bắt buộc sau:
+ Chủ tịch hoặc phó chủ tịch UBND cấp xã: Chủ tịch hội đồng.
+ Cán bộ phụ trách tư pháp: Phó chủ tịch hội đồng.
+ Cán bộ địa chính cấp xã: Thư ký hội đồng.
+ Chủ tịch hội đồng nhân dân: Uỷ viên hội đồng.
+ Trưởng thôn, bản, ấp, tổ trưởng dân phố: Uỷ viên hội đồng.
Những thành viên này chỉ tham gia xét duyệt đơn đối với các đối tượng
thuộc phạm vi quản lý.
Ngoài các thành viên bắt buộc nói trên, tuỳ tình hình cụ thể của mỗi địa
phương mà UBND quận, huyện, thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh có thể
quyết định bổ sung thêm những thành viên cần thiết khác hoặc khi cần thiết
hội đồng được phép mời thêm những người am hiểu về tình hình địa
phương, nhưng có hiểu biết về chính sách pháp luật. Các thành viên trong
hội đồng đăng ký đất đai cấp xã phải được sự nhất trí phê duyệt của UBND
cấp huyện.
Thành lập tổ chuyên môn giúp việc (gọi tắt là tổ đăng ký đất đai). Nhiệm
vụ của tổ đăng ký đất đai là trực tiếp giúp UBND cấp xã triển khai thực hiện
toàn bộ công việc chuyên môn trong quá trình tổ chức kê khai đăng ký đất
đai, lập hồ sơ địa chính, chuẩn bị hồ sơ để trình lên cấp có thẩm quyền xét
cấp GCNQSDĐ
Tổ đăng ký đất đai gồm các thành viên sau:
+ Cán bộ địa chính cấp xã : Tổ trưởng.
+ Các thành viên khác trong tổ gồm các cán bộ của UBND am hiểu tình
hình đất đai như: cán bộ kế hoạch, các biểu thống kê, cán bộ thuế, chủ
nhiệm HTX, trưởng thôn, bản, ấp, tổ trưởng dân phố,.v.v. số lượng người
tuỳ thuộc vào quy mô của địa bàn kê khai đăng ký.
Xây dựng phương án, kế hoạch tổ chức kê khai đăng ký đất đai.
Thu thập các tài liệu có liên quan phục vụ cho công tác kê khai đăng ký
đất đai và tổ chức xét duyệt hồ sơ.
Chuẩn bị vật tư, kỹ thuật, biểu mẫu sổ sách, văn phòng phẩm cần thiết.
Tập huấn nghiệp vụ chuyên môn cho cán bộ tham gia.
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét