-5-
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ SẢN PHẨM DỊCH VỤ CỦA NGÂN HÀNG
THƯƠNG MẠI
1.1 Khái niệm, chức năng và vai trò của ngân hàng thương mại:
1.1.1 Khái niệm về ngân hàng thương mại:
Hiện nay trên thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng có nhiều khái niệm
khác nhau về NHTM, tuy nhiên khái niệm về NHTM tập trung lại ở một số khái
niệm như sau:
- Tại Mỹ, “NHTM là một cơng ty kinh doanh chun cung cấp dịch vụ tài
chính và hoạt động trong ngành cơng nghiệp dịch vụ tài chính”.
- Tại Pháp, theo ðạo luật Ngân hàng của Cộng hòa Pháp năm 1941 thì
“NHTM là những cơ sở mà nghề nghiệp thường xun là nhận tiền bạc của cơng
chúng dưới hình thức ký thác, hoặc dưới các hình thức khác, và sử dụng nguồn lực
đó cho chính họ trong các nghiệp vụ về chiết khấu, tín dụng và tài chính”.
- Theo Pháp lệnh Ngân hàng năm 1990 của Việt Nam “NHTM là một tổ chức
kinh doanh tiền tệ mà nghiệp vụ thường xun và chủ yếu là nhận tiền gửi của
khách hàng với trách nhiệm hồn trả và sử dụng số tiền đó để cho vay, chiết khấu
và làm phương tiện thanh tốn”.
- Theo Luật các TCTD Việt Nam đã được sửa đổi, tại điều 20 khoản 2 và
khoản 7 có khái niệm “Ngân hàng là loại hình TCTD được thực hiện tồn bộ hoạt
động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác có liên quan. Trong đó, hoạt
động ngân hàng là hoạt động kinh doanh tiền tệ và dịch vụ ngân hàng với nội dung
chủ yếu và thường xun là nhận tiền gửi, sử dụng số tiền này để cấp tín dụng, cung
cấp các dịch vụ thanh tốn”.
Như vậy, có thể nói rằng NHTM là một loại hình doanh nghiệp đặc biệt, đóng
vai trò là một trung gian tín dụng và thực hiện hoạt động kinh doanh trên những lĩnh
vực là tiền tệ, tín dụng và dịch vụ ngân hàng.
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
-6-
1.1.2 Chức năng của ngân hàng thương mại:
1.1.2.1 Chức năng trung gian tín dụng:
Chức năng trung gian tín dụng được hình thành ngay từ lúc các NHTM hình
thành. Ngày nay, thơng qua chức năng trung gian tín dụng, NHTM đã và đang thực
hiện chức năng xã hội của mình, làm cho sản phẩm xã hội được tăng lên, vốn đầu tư
được mở rộng và từ đó góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế, cải thiện đời sống
của nhân dân. Như vậy, trung gian tín dụng là chức năng quan trọng và cơ bản nhất
của NHTM, nó khơng những cho thấy bản chất của NHTM mà còn cho thấy nhiệm
vụ chính yếu của NHTM.
Trung gian tín dụng là chức năng cơ bản được hiểu theo 02 khía cạnh sau:
- NHTM chỉ là người trung gian để chuyển vốn tiền tệ từ nơi thừa sang nơi
thiếu. Các chủ thể tham gia gồm những người tiền vào NHTM và những người vay
tiền từ ngân hàng khơng có mối liên hệ kinh tế trực tiếp nào. Họ khơng chịu trách
nhiệm và nghĩa vụ gì cho nhau cả. Tất cả đều thơng qua NHTM, nghĩa là NHTM có
trách nhiệm hồn trả tiền cho người gửi (bất kể người đi vay sử dụng vốn có hiệu
quả hay khơng), còn người đi vay thì phải có nghĩa vụ trả nợ ngân hàng.
- Ngân hàng khơng phải là người trung gian tài chính thuần túy mà là trung
gian tín dụng, nghĩa là việc thực hiện các nhiệm vụ cụ thể của chức năng này phải
theo ngun tắc “Hồn trả” vơ điều kiện.
Thực hiện chức năng trung gian tín dụng, các NHTM thực hiện những nhiệm
vụ cụ thể như sau:
- Nhận tiền gửi khơng kỳ hạn, có kỳ hạn của các đơn vị kinh tế, các tổ chức và
cá nhân bằng đồng tiền trong nước và bằng ngoại tệ.
- Nhận tiền gửi tiết kiệm của tổ chức và cá nhân.
- Phát hành kỳ phiếu, trái phiếu ngân hàng để huy động vốn trong xã hội.
- Cho vay ngắn, trung và dài hạn đối với các đơn vị và cá nhân.
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
-7-
- Chiết khấu thương phiếu, chứng từ có giá đối với các đơn vị và cá nhân.
- Cho vay tiêu dùng, cho vay trả góp và các loại hình tín dụng khác đối với tổ
chức và cá nhân.
1.1.2.2 Chức năng trung gian thanh tốn:
Chức năng làm trung gian thanh tốn của NHTM ngày nay khơng còn mang
tính truyền thống như trước đây, cùng với sự phát triển của nền cơng nghệ hiện đại,
sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật,… đã tạo điều kiện cho các NHTM thanh tồn bù
trừ, thanh tốn điện tử trực tuyến,… với nhau một cách nhanh chóng và chính xác
hơn, tiết kiệm chi phí lưu thơng cho xã hội, thúc đẩy ln chuyển vốn và q trình
lưu thơng hàng hóa ngày càng phát triển.
NHTM đứng ra làm trung gian thanh tốn thực hiện các khoản giao dịch thanh
tốn giữa các khách hàng, giữa người mua và người bán,… nhằm hồn tất các quan
hệ kinh tế thương mại giữa họ với nhau. Với chức năng này thì NHTM thực hiện
những nhiệm vụ sau:
- Mở tài khoản tiền gửi giao dịch cho các tổ chức và cá nhân.
- Quản lý và cung cấp các phương tiện thanh tốn cho khách hàng.
- Tổ chức và kiểm sốt quy trình thanh tốn giữa các khách hàng một cách
nhanh chóng và chính xác, an tồn và tiện lợi.
1.1.2.3 Chức năng cung ứng các dịch vụ ngân hàng:
ðể NHTM có thể thực hiện tốt hai chức năng là trung gian tín dụng và trung
gia thanh tốn mang lại hiệu quả to lớn cho nền kinh tế xã hội thì rất cần sự hỗ trợ
của một chức năng khác, đó là chức năng cung ứng các dịch vụ ngân hàng. Vậy
dịch vụ ngân hàng là gì? Dịch vụ ngân hàng thường được nhắc đến với hai đặc điểm
sau:
- Thứ nhất, đó là các dịch vụ mà chỉ có các ngân hàng với những ưu thế của nó
mới có thể thực hiện được một cách trọn vẹn và đầy đủ. Ưu thế của NHTM được
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
-8-
thể hiện qua một số điểm như: hệ thống mạng lưới rộng khắp, khơng những ở trong
nước mà còn ở các nước; có quan hệ với nhiều cơng ty, xí nghiệp,… do đó nắm bắt
được tình hình kinh doanh, tình hình tài chính của khách hàng một cách cụ thể sâu
sắc cũng như điểm mạnh, điểm yếu của từng khách hàng; có trang bị hệ thống thơng
tin hiện đại, đồng thời thu thập và nắm bắt được nhiều thơng tin về tình hình kinh
tế, tài chính, giá cả, tỷ giá,….
- Thứ hai, đó là các dịch vụ gắn liền với hoạt động ngân hàng khơng những
cho phép NHTM thực hiện tốt u cầu của khách hàng mà còn hỗ trợ tích cực để
NHTM thực hiện tốt hơn chức năng thứ nhất và thứ hai của NHTM.
Mặt khác, NHTM cung cấp dịch vụ cho khách hàng khơng chỉ thuần túy để
hưởng hoa hồng và dịch vụ phí, là yếu tố làm tăng doanh thu và lợi nhuận cho ngân
hàng, mà dịch vụ còn có tác dụng hỗ trợ các mặt hoạt động chính của NHTM, trước
hết là hoạt động tín dụng. ðây cũng là lý do các NHTM chỉ nhận cung ứng các dịch
vụ có liên quan đến hoạt động ngân hàng.
Thực hiện chức năng này, NHTM có các nhiệm vụ cụ thể sau:
- Dịch vụ ngân quỹ và chuyển tiền nhanh quốc nội.
- Dịch vụ kiều hối và chuyển tiền nhanh quốc tế.
- Dịch vụ ủy thác (bảo quản, thu hộ, chi hộ… mua bán hộ,…).
- Dịch vụ tư vấn đầu tư, cung cấp thơng tin,…
- Dịch vụ ngân hàng điện tử.
1.1.3 Vai trò của ngân hàng thương mại trong nền kinh tế thị trường:
NHTM thực hiện các hoạt động kinh doanh ở những lĩnh vực đặc biệt là tiền
tệ, tín dụng và dịch vụ ngân hàng, có liên quan trực tiếp đến các ngành, liên quan
đến mọi mặt của đời sống kinh tế - xã hội, đòi hỏi sự thận trọng trong việc điều
hành hoạt động ngân hàng để tránh những thiệt hại cho nền kinh tế - xã hội. Thêm
vào đó, chất liệu kinh doanh của ngân hàng là tiền tệ, mà tiền tệ là một cơng cụ
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
-9-
được Nhà nước sử dụng để quản lý vĩ mơ nền kinh tế, do đó chất liệu này được Nhà
nước kiểm sốt rất chặt chẽ.
Nhà nước kiểm sốt nền kinh tế thơng qua các chính sách tiền tệ do NHNN
ban hành và có tác động chi phối rất lớn đến hoạt động kinh doanh của các NHTM.
Một NHTM khơng thể mở rộng hoạt động kinh doanh khi NHNN đang áp dụng
chính sách đóng băng tiền tệ, hạn chế lạm phát và ngược lại. Do đó, việc ngân hàng
mở rộng hay thu hẹp hoạt động kinh doanh của mình đều phải chịu sự chi phối bởi
chính sách tiền tệ của NHNN.
Tóm lại, NHTM đóng một vai trò là định chế tài chính trung gian cực kỳ quan
trọng trong nền kinh tế thị trường. Nhờ hệ thống định chế tài chính trung gian này
mà các nguồn tiền nhàn rỗi nằm rải rác trong xã hội sẽ được huy động, tập trung lại
với số lượng đủ lớn để cấp tín dụng cho các tổ chức kinh tế, cá nhân nhằm mục đích
phục vụ phát triển kinh tế - xã hội.
1.2 Các loại sản phẩm dịch vụ của ngân hàng thương mại:
1.2.1 Tiêu chí đánh giá chất lượng sản phẩm dịch vụ:
Các loại sản phẩm dịch vụ tài chính của NHTM mang tính phi vật chất, mang
đến cho khách hàng sự thỏa mãn nhu cầu và sự tin cậy. Hàng hóa của các NHTM
kinh doanh là một loại hàng đặc biệt bao gồm: tiền tệ, vàng bạc, kim loại q, đá
q, chứng khốn,…
Chất lượng sản phẩm dịch vụ ngân hàng được đánh giá thể hiện qua một số
tiêu chí như:
- Các yếu tố hữu hình: phương tiện vật chất, trang thiết bị, con người phục vụ,
giấy tờ tài liệu, bầu khơng khí giao dịch,…
- Mức độ tin cậy: khả năng đảm bảo thực hiện dịch vụ đã hứa hẹn một cách
chắc chắn và chính xác.
- Sẵn sàng đáp ứng: sẵn sàng hỗ trợ và đảm bảo cung ứng dịch vụ mau lẹ.
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
-10-
- Sự đảm bảo: trình độ chun mơn của nhân sự ngân hàng, tính lịch sự dễ
mến, sự tín nhiệm với khách hàng, tính an tồn.
- Sự thấu cảm: dễ gần, thân thiện, quan tâm, lo lắng đến từng khách hàng,
truyền thơng tốt.
- Bản thân dịch vụ sử dụng: là kết quả tốt của q trình cung ứng một dịch vụ
ngân hàng cụ thể, bao gồm 02 thuộc tính:
+ Thuộc tính kỹ thuật: những cấu thành và phương thức vận hành dịch vụ
(các quy định, các thủ tục, yếu tố pháp lý, phí,…).
+ Thuộc tính sử dụng: thỏa mãn đúng một nhu cầu nào đó (như thỏa mãn
nhu cầu cần tài trợ vốn,…).
1.2.2 Các loại sản phẩm dịch vụ của NHTM:
* Dịch vụ huy động vốn: huy động vốn là việc ngân hàng huy động các tài
sản bằng tiền của các tổ chức và cá nhân mà ngân hàng đang tạm thời quản lý và sử
dụng với trách nhiệm hồn trả. Nguồn vốn huy động là nguồn vốn chủ yếu và quan
trọng của bất kỳ một NHTM nào. Vốn huy động trong các NHTM gồm nhiều loại
khác nhau và được phân nhóm thành 04 loại sau:
- Tiền gửi hoạt kỳ (tiền gửi khơng kỳ hạn): là loại tiền gửi mà người gửi tiền
(chủ tài khoản) được sử dụng một cách chủ động và linh hoạt khơng bị ràng buộc về
mặt thời gian. Tiền gửi hoạt kỳ là loại tiền gửi để phục vụ nhu cầu giao dịch, thanh
tốn cho chủ tài khoản như trả tiền hàng hóa, dịch vụ, rút tiền mặt từ máy ATM,
chuyển tiền,… ðây là loại tiền gửi có chi phí sử dụng vốn thấp nên tập trung huy
động nguồn vốn này thì hoạt động kinh doanh của ngân hàng mới có hiệu quả. ðể
thu hút được nguồn vốn này thì ngân hàng phải cung cấp dịch vụ có nhiều tiện ích,
an tồn, nhanh chóng và chính xác. Ngân hàng thường sử dụng nguồn vốn này để
cho vay ngắn hạn.
- Tiền gửi định kỳ: là loại tiền gửi mà người mà người gửi tiền chỉ có thể rút ra
khi đáo hạn, tuy nhiên trong trường hợp bình thường các ngân hàng vẫn cho khách
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
-11-
hàng rút tiền với điều kiện chỉ được hưởng lãi với lãi suất khơng kỳ hạn. Tiền gửi
định kỳ có một số đặc điểm sau:
+ Tiền gửi định kỳ có đặc điểm là sự tương đối ổn định nên thường được
các NHTM sử dụng để cho vay trung và dài hạn.
+ Tiền gửi định kỳ có chi phí sử dụng vốn khá cao. Người gửi tiền thường
bị hấp dẫn bởi mức mức lãi suất cao.
- Phát hành chứng từ có giá: phát hành kỳ phiếu, chứng chỉ tiền gửi có kỳ hạn,
chứng chỉ tiết kiệm và phát hành trái phiếu là những phương pháp hữu hiệu để các
ngân hàng huy động vốn có kỳ hạn. ðây là nguồn vốn ổn định nhất của NHTM, đặc
điểm của loại vốn này là:
+ Tính ổn định chắc chắn: những người mua các loại giấy tờ có giá chỉ
được hồn vốn khi đáo hạn. ðây là đặc điểm nổi bật của nguồn vốn này.
+ Lãi suất thường cao hơn lãi suất tiền gửi định kỳ, do đó hấp dẫn hơn đối
với khách hàng.
+ Loại vốn này khơng được tái lập thời hạn như tiền gửi định kỳ, nhưng bù
lại người sở hữu có thể cầm cố để vay vốn tại ngân hàng.
- Nguồn vốn huy động khác: tiền gửi ký quỹ, tiền gửi đảm bảo thanh tốn, tiền
tạm giữ hoặc đang chuyển, các khoản khác.
* Dịch vụ cho vay: NHTM thực hiện hoạt động cho vay đối với khách hàng là
các tổ chức kinh tế và cá nhân, nhằm đáp ứng nhu cầu tài chính cho các hoạt động
sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, đầu tư phát triển và đời sống xã hội. Hoạt động cho
vay bao gồm cho vay thương mại, cho vay tiêu dùng, cho vay chiết khấu giấy tờ có
giá,… Tùy theo nhu cầu về thời gian vay vốn của khách hàng mà ngân hàng áp
dụng các hình thức cho vay ngắn hạn, trung và dài hạn. Lãi suất cho vay áp dụng
theo nhu cầu trên thị trường hoặc mối quan hệ tín nhiệm lẫn nhau để áp dụng mức
lãi suất cho vay phù hợp với từng đối tượng vay.
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
-12-
* Dịch vụ chiết khấu thương phiếu và giấy tờ có giá: là việc NHTM đứng ra
trả tiền trước cho các thương phiếu hoặc giấy tờ có giá khác chưa đến hạn thanh
tốn theo u cầu của người thụ hưởng (người sở hữu chứng từ) bằng cách khấu trừ
ngay một số tiền nhất định được gọi là chiết khấu. Số tiền chiết khấu được tính theo
trị giá chứng từ, thời hạn chiết khấu, lãi suất và các tỷ lệ chiết khấu khác, số tiền
còn lại thanh tốn cho người thụ hưởng. Người thụ hưởng muốn nhận được số tiền
này thì bắt buộc phải làm thủ tục chuyển nhượng quyền hưởng lợi cho ngân hàng
chiết khấu đối với các chứng từ xin chiết khấu. ðây là hoạt động cho vay gián tiếp
được đảm bảo bằng các tài sản có tính thanh khoản cao, vì vậy vừa tạo ra tài sản có
sinh lời cho ngân hàng, vừa tạo ra một lực lượng dự trữ để sẵn sàng đáp ứng các
nhu cầu thanh tốn. Khả năng thanh tốn của ngân hàng ln được đảm bảo nên các
ngân hàng thường có xu hướng mở rộng hoạt động chiết khấu.
* Dịch vụ thanh tốn: các giao dịch thanh tốn giữa các khách hàng trong
nước và nước ngồi hầu hết đều được thực hiện qua ngân hàng. Nhờ việc nắm giữ
tài khoản của khách hàng và việc kiểm sốt chứng từ thanh tốn nên các ngân hàng
hồn tồn có khả năng thực hiện các dịch vụ thanh tốn theo u cầu của khách
hàng. Hiện nay, các NHTM đang sử dụng các dịch vụ thanh tốn như: thanh tốn
séc, ủy nhiệm thu, ủy nhiệm chi, thư tín dụng, hối phiếu,… ðồng thời, ngân hàng
còn tổ chức hệ thống thanh tốn nội bộ và tham gia thanh tốn liên ngân hàng trong
nước, tham gia các hệ thống thanh tốn quốc tế khi được NHNN chấp thuận.
* Dịch vụ cho vay thấu chi: khách hàng được ngân hàng cho phép chi tiêu
vượt q số dư có trên tài khoản vãng lai, đến một giới hạn nhất định (hạn mức tín
dụng thấu chi) và trong một thời hạn nhất định (q hoặc năm). Mọi nhu cầu chi
tiêu của khách hàng, trong phạm vi hạn mức tín dụng thấu chi còn chưa sử dụng,
đều được ngân hàng đáp ứng kịp thời. Mỗi khi khách hàng có khoản thu được nhập
vào bên có tài khoản này, một khoản dư nợ tương ứng sẽ được triệt tiêu ngay và
khách hàng lại được chi tiêu tiếp tục trong phạm vi hạn mức thấu chi còn chưa
sử dụng.
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
-13-
* Dịch vụ cho th tài chính: các ngân hàng thơng qua cơng ty cho th tài
chính của mình để cung cấp dịch vụ cho th tài chính. Xuất phát từ nhu cầu sử
dụng tài sản của bên đi th, cơng ty cho th tài chính sẽ mua tài sản và chuyển
giao cho bên đi th sử dụng. Tài sản này vẫn do bên cho th đứng tên sở hữu. Bên
th khơng được sử dụng tài sản đang th để làm bất cứ nghĩa vụ tài chính nào
khác. Bên th chịu trách nhiệm bảo trì, đóng bảo hiểm, thuế tài sản và phải trả
khấu hao, tiền lãi vay theo kỳ hạn thỏa thuận trong hợp đồng cho th tài chính. Khi
kết thúc hợp đồng, nếu muốn trở thành người sở hữu tài sản đang th, bên th sẽ
thanh tốn cho cơng ty cho th phần giá trị còn lại của tài sản hoặc có thể tiếp tục
th theo hợp đồng mới.
* Kinh doanh chứng khốn: các ngân hàng muốn tiến hành kinh doanh
chứng khốn phải thực hiện thơng qua mơ hình cơng ty con là cơng ty chứng khốn.
Hiện nay, các ngân hàng lớn đều có thành lập cơng ty chứng khốn để tiến hành các
dịch vụ về chứng khốn cho khách hàng và chính mình. Khách hàng là các cá nhân
hay tổ chức muốn đầu tư chứng khốn kiếm lời, có thể giao dịch với một cơng ty
chứng khốn nào đó, để được cung cấp các dịch vụ có liên quan tới đầu tư chứng
khốn, bao gồm dịch vụ mơi giới mua bán chứng khốn, tư vấn kinh doanh chứng
khốn,…
* Dịch vụ ngân hàng điện tử: với những tiến bộ khoa học kỹ thuật trên thế
giới, đặc biệt là trong lĩnh vực cơng nghệ thơng tin, các ngân hàng thường xun
cập nhật những sản phẩm cơng nghệ ngân hàng mới, nhằm đảm bảo cung cấp
những dịch vụ ngân hàng ngày càng đa dạng, phong phú, hiện đại, với tiện ích tốt
nhất cho khách hàng, cụ thể như: Home – banking, Phone – banking, Mobile –
banking, Internet – banking. Các dịch vụ này đã mang đến cho khách hàng nhiều
tiện ích như truy vấn số dư tài khoản; truy vấn thơng tin ngân hàng về lãi suất, tỷ
giá,…; liệt kê giao dịch của tài khoản;…
* Dịch vụ bảo lãnh: là một hình thức cấp tín dụng được thực hiện thơng qua
sự cam kết bằng văn bản của TCTD với bên có quyền về việc thực hiện nghĩa vụ tài
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
-14-
chính thay cho khách hàng khi khách hàng khơng thực hiện hoặc thực hiện khơng
đúng nghĩa vụ đã cam kết với bên nhận bảo lãnh. Khách hàng phải nhận nợ và hồn
trả cho ngân hàng số tiền đã được trả thay.
* Dịch vụ bao thanh tốn (Factoring): là một hợp đồng được ký kết giữa bên
cung ứng (nhà xuất khẩu) và bên tài trợ (tổ chức Factor), trong đó bên cung ứng
nhượng lại cho tổ chức tài trợ các khoản phải thu phát sinh từ những hợp đồng xuất
khẩu. Như vậy, thực chất của Factoring, xét trên giác độ tài trợ chính là một dạng
tài trợ thơng qua việc mua lại các khoản phải thu ngắn hạn từ nhà xuất khẩu. Thơng
qua dịch vụ này, ngân hàng giúp cho nhà xuất khẩu có thể thu được tiền ngay, thay
vì phải đợi đến thời hạn trả chậm. Nhà xuất khẩu có thể sử dụng khoản phải thu để
đảm bảo một phần (hoặc tồn bộ) khoản ứng trước. ðồng thời, thơng qua dịch vụ
này, nhà xuất khẩu sẽ tiết kiệm được thời gian và chi phí theo dõi thu hồi khoản
phải thu từ người nhập khẩu nước ngồi,…
* Dịch vụ ngoại hối: bao gồm các dịch vụ sau:
- Dịch vụ mua bán ngoại tệ trao ngay (SPOT): là dịch vụ trong đó 2 bên thực
hiện mua bán một số ngoại tệ theo tỷ giá trao ngay tại thời điểm giao dịch và kết
thúc thanh tốn trong vòng 2 ngày làm việc. Khi khách hàng có nhu cầu mua bán
ngoại tệ, với u cầu thực hiện ngay việc trao ngoại tệ (hoặc VNð) đối ứng tại thời
điểm giao dịch, ngân hàng sẽ đáp ứng trên cơ sở dịch vụ mua bán trao ngay, theo tỷ
giá đã được niêm yết tại ngân hàng.
- Dịch vụ mua bán ngoại tệ có kỳ hạn (FORWARD): để phòng ngừa rủi ro hối
đối, khách hàng sẽ được ngân hàng cung cấp dịch vụ mua bán ngoại tệ kỳ hạn,
thơng qua một hợp đồng mua bán ngoại tệ có kỳ hạn. ðây là loại hợp đồng trong đó
quy định việc chuyển giao ngoại tệ được thực hiện ở thời điểm thỏa thuận trong
tương lai, theo tỷ giá đã được xác định ngay ở thời điểm hiện tại, khi ký kết hợp
đồng với ngân hàng.
- Dịch vụ hốn đổi ngoại tệ: là sự kết hợp đồng thời giữa một giao dịch trao
ngay với một giao dịch kỳ hạn. Một đồng tiền được chuyển đổi sang một đồng tiền
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét