Thứ Sáu, 21 tháng 2, 2014

Một số giải pháp thực hiện chuyển dịch CCKT tại thị xã Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh giai đoạn 2005-2010

Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
đi nghiên cứu đề tài này, luận văn sẽ đi trọng tâm phân tích, đánh giá cơ cấu ngành kinh
tế và sự chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế trên địa bàn thị xã Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh.
1.1.3.2. Cơ cấu lãnh thổ.
a/ Khái niệm kinh tế lãnh thổ.
Kinh tế lãnh thổ là một tổng thể kinh tế tồn tại và hoạt động trên phạm vi lãnh
thổ không phân biệt thuộc hình thức sở hữu nào, ngành nào và cấp nào quản lý. Kinh tế
lãnh thổ là kinh tế toàn diện (bao gồm các ngành, các lĩnh vực sản xuất, dịch vụ và đời
sống xã hội), là một phần tử của nền kinh tế quốc dân, một khâu trong phân công lao
động xã hội.
b/ Khái niệm cơ cấu lãnh thổ và cơ cấu lãnh thổ hợp lý.
Cơ cấu lãnh thổ là cơ cấu không gian của các yếu tố tài nguyên thiên nhiên, cơ sở
sản xuất, phục vụ sản xuất và mối liên hệ về chất, tỷ lệ về lợng giữa các yếu tố, bảo đảm
sử dụng có hiệu quả các nguồn lực trên lãnh thổ với tốc độ tăng trởng cao, nhằm tăng
khả năng cạnh tranh của các loại hàng hoá và dịch vụ trên một đơn vị lãnh thổ nhất
định. Nh vậy, nếu cơ cấu ngành kinh tế hình thành từ quá trình phân công lao động xã
hội và chuyên môn hóa sản xuất thì cơ cấu kinh tế lãnh thổ lại đợc hình thành chủ yếu
từ việc bố trí sản xuất theo không gian địa lý.
Cơ cấu lãnh thổ hợp lý là cơ cấu có sự phát triển hài hoà, phù hợp giữa yếu tố sản
xuất và tài nguyên thiên nhiên, sản xuất và phát triển kết cấu hạ tầng phục vụ sản xuất,
nhu cầu sản xuất và nhu cầu nâng cao chất lợng nguồn nhân lực cho sản xuất, nhu cầu
nâng cao mức sống của dân c và phát triển kết cấu hạ tầng xã hội phục vụ đời sống dân
c, cân bằng giữa nhu cầu sản xuất và nhu cầu thị trờng
1.1.3.3. Cơ cấu thành phần kinh tế.
Nếu nh phân công lao động xã hội là cơ sở hình thành cơ cấu ngành và cơ cấu
lãnh thổ thì chế độ sở hữu lại là cơ sở hình thành cơ cấu thành phần kinh tế. Trên cơ sở
chế độ sở hữu về t liệu sản xuất, các thành phần kinh tế cơ bản ở nớc ta hiện nay bao
gồm: kinh tế nhà nớc, kinh tế t nhân, kinh tế hợp tác, kinh tế cá thể, kinh tế t bản nhà n-
ớc và kinh tế có vốn đầu t nớc ngoài. Các thành phần kinh tế cùng song song tồn tại, hỗ
trợ lẫn nhau phát triển. Chủ trơng của Đảng và Nhà nớc hiện nay là tập trung xây dựng
một cơ cấu thành phần kinh tế hợp lý. Một cơ cấu thành phần kinh tế hợp lý phải dựa
trên cơ sở hệ thống tổ chức kinh tế với chế độ sở hữu có khả năng thúc đẩy sự phát triển
của lực lợng sản xuất, thúc đẩy phân công lao động xã hội Theo nghĩa đó, cơ cấu
Bùi Thị Hoa Kinh Tế Phát Triển 43B
5
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
thành phần kinh tế cũng là một nhân tố tác động đến cơ cấu ngành kinh tế và cơ cấu
lãnh thổ. Sự tác động đó là một biểu hiện sinh động của mối quan hệ giữa các loại cơ
cấu trong nền kinh tế.
Ba bộ phận cơ bản hợp thành CCKT là cơ cấu ngành kinh tế, cơ cấu thành phần
kinh tế, cơ cấu lãnh thổ có quan hệ chặt chẽ với nhau. Trong đó cơ cấu ngành kinh tế có
vai trò quan trọng hơn cả. Cơ cấu ngành và thành phần kinh tế chỉ có thể đợc chuyển
dịch đúng đắn trên phạm vi không gian lãnh thổ và trên phạm vi cả nớc. Mặt khác, việc
phân bố không gian lãnh thổ một cách hợp lý có ý nghĩa quan trọng thúc đẩy phát triển
các ngành và thành phần kinh tế lãnh thổ.
1.2. Tính chất của CCKT.
1.2.1. Tính hệ thống.
Thời kỳ đầu, khi phân công lao động xã hội và trình độ sản xuất cha phát triển,
tất nhiên là có một sự gắn bó tự nhiên, không tách rời nhau giữa các ngành, các thành
phần kinh tế và các vùng lãnh thổ. Sau đó, khi lực lợng sản xuất dần phát triển, trình độ
của sản xuất đã đạt đến mức cao hơn thì dần dẫn đến sự phân chia nền kinh tế thành các
ngành cụ thể, cơ cấu sở hữu cũng nh cơ cấu lãnh thổ đợc hình thành một cách rõ nét
hơn, nền kinh tế đã bao gồm nhiều bộ phận khác nhau hợp lại. Trong suốt quá trình phát
triển, các bộ phận cấu thành nền kinh tế luôn có sự gắn kết và phụ thuộc vào nhau, bộ
phận này hỗ trợ bộ phận kia, cùng tạo tiền đề cho nhau phát triển. Điều đáng nhấn mạnh
ở đây là các bộ phận cấu thành đó luôn vận động và phát triển trong cùng một hệ thống.
Mọi tác động của con ngời nhằm điều chỉnh xu hớng phát triển cũng nh mối quan hệ tỷ
lệ giữa các bộ phận trong hệ thống đó cũng phải luôn tuân theo những qui tắc nhất định,
đảm bảo cho sự phát triển cân đối và bền vững của hệ thống.
1.2.2. Tính khách quan.
Mọi sự vật, hiện tợng nói chung và nền kinh tế nói riêng đều tồn tại theo những
cấu trúc nhất định, vận động phát triển theo những qui luật khách quan. Vì thế, một
CCKT hợp lý của nền kinh tế phải phản ánh đợc sự vận động của các qui luật khách
quan. Vai trò chủ quan của con ngời trong việc xây dựng, hình thành CCKT hợp lý
chính là phản ánh đúng các qui luật khách quan, phân tích và đánh giá đúng các qui luật
khách quan đó. Mọi ý định nóng vội, chủ quan hay bảo thủ trong việc thay đổi CCKT
đều mang lại tác động xấu đối với sự phát triển kinh tế xã hội của đất nớc.
Bùi Thị Hoa Kinh Tế Phát Triển 43B
6
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
1.2.3. Tính kế thừa.
CCKT bao giờ cũng mang tính lịch sử, kế thừa nhất định. Điều kiện cụ thể về tự
nhiên, kinh tế xã hội, trình độ phát triển của lực lợng sản xuất và quan hệ kinh tế thị tr-
ờng chi phối đến sự chuyển dịch CCKT. Quá trình biến đổi của CCKT ở các nớc khác
nhau về qui mô lãnh thổ, nguồn tài nguyên thiên nhiên và trình độ hoạch định chính
sách của chính phủ, sức mạnh kinh tế của các nớc, tổ chức thực hiện của chính quyền
các cấp. ở mỗi địa phơng có điều kiện tự nhiên, thời tiết khí hậu, tài nguyên thiên
nhiên, phong tục tập quán, văn hoá, xã hội, trình độ phát triển của quan hệ kinh tế thị tr-
ờng khác nhau sẽ tạo ra sự khác nhau về quá trình hình thành và biến đổi của CCKT.
1.2.4. Tính hiệu quả.
Tính hiệu quả của CCKT thể hiện ở chính sự phát triển theo cả bề rộng lẫn bề sâu
của CCKT. Trên các mặt của đời sống kinh tế xã hội, tính hiệu quả của CCKT đợc thể
hiện ở sự tăng trởng kinh tế cao, thu nhập bình quân đầu ngời và hệ thống phúc lợi xã
hội đợc cải thiện, các ngành, các thành phần kinh tế phát triển theo đúng hớng, hợp qui
luật, những tiềm năng, thế mạnh của mỗi vùng đợc khai thác hiệu quả, đảm bảo một sự
phát triển cân đối và bền vững. Có thể nói, tính hiệu quả là một đặc tính rất quan trọng
của CCKT, nếu thiếu nó, CCKT không bao giờ đạt đến sự hợp lý.
1.2.5. Tính định hớng.
CCKT luôn mang trong mình tính khách quan, tự bản thân nó cũng là sự phản
ánh các qui luật khách quan trong quá trình vận động và phát triển. Những tác động chủ
quan từ phía con ngời dựa trên những qui luật khách quan đó sẽ làm cho CCKT phát
triển hợp lý hơn, theo đúng sự định hớng của các chính sách phát triển trong từng thời
kỳ. Một CCKT phát triển không theo đúng những chiến lợc, định hớng đã đợc vạch ra sẽ
phải cần đến những sự điều chỉnh để tránh bị chệch hớng. Mặt khác, tuỳ vào mỗi giai
đoạn phát triển, các mục tiêu kinh tế xã hội đợc đề ra và mọi sự vận động, thay đổi của
CCKT cũng phải hớng tới việc đạt đợc các mục tiêu đó. Bản thân CCKT đã mang tính
định hớng nhng chính CCKT cũng luôn là sự theo đuổi định hớng. Các nhà hoạch định
chính sách luôn cần phải dựa vào CCKT hiện tại để đề ra các sách lợc phát triển cho t-
ơng lai và các chính sách này hoặc sẽ tạo ra một CCKT mới, hoặc sẽ chỉ là sự giữ vững
CCKT hiện có.
1.3. Mối quan hệ giữa CCKT với CNH- HĐH.
Bùi Thị Hoa Kinh Tế Phát Triển 43B
7
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
CNH- HĐH là tất yếu khách quan đối với các nớc có nền kinh tế đang phát triển
nh ở Việt Nam. Đó cũng là một trong những công việc cần thiết trong thời kỳ quá độ mà
Đảng và Nhà nớc đã quán triệt chỉ đạo. Mục tiêu của CNH- HĐH là xây dựng nớc ta
thành một nớc công nghiệp có cơ sở vật chất kỹ thuật hiện đại, CCKT hợp lý. Bản thân
CNH- HĐH cũng đợc coi là một quá trình chuyển dịch CCKT. Chính trong quá trình
này, việc xác lập CCKT hợp lý diễn ra dần dần gắn với các giai đoạn của CNH- HĐH và
mỗi bớc phát triển của cơ sở vật chất kỹ thuật. Đó là sự thay đổi CCKT từ tình trạng lạc
hậu, mất cân đối, hiệu quả kém sang một CCKT hợp lý, đa dạng, cân đối, năng động và
có hiệu quả cao, gắn với từng bớc trởng thành của cơ sở vật chất kỹ thuật do CNH-
HĐH tạo ra.
Sự chuyển dịch CCKT phản ánh sự thay đổi về chất của nền kinh tế theo hớng
CNH- HĐH, tạo tiền đề vật chất cho sự tăng trởng ổn định của nền kinh tế.
2. Chuyển dịch CCKT.
2.1. Khái niệm về chuyển dịch CCKT.
2.1.1. Chuyển dịch CCKT là gì?
CCKT luôn thay đổi theo từng thời kỳ phát triển bởi các yếu tố hợp thành CCKT
không cố định. Đó có thể là sự thay đổi về số lợng của các ngành hoặc sự thay đổi về
quan hệ tỷ lệ giữa các ngành, các vùng, các thành phần do sự xuất hiện hoặc biến mất
của một số ngành và tốc độ tăng trởng giữa các yếu tố cấu thành CCKT là không đồng
đều.
Sự thay đổi của CCKT từ trạng thái này sang trạng thái khác cho phù hợp với môi
trờng phát triển đợc gọi là sự chuyển dịch CCKT.
Đây không phải đơn thuần là sự thay đổi về lợng, mà cả về chất trong nội bộ cơ
cấu. Việc chuyển dịch CCKT phải dựa trên cơ sở một cơ cấu hiện có, do đó nội dung
của chuyển dịch cơ cấu là cải tạo cơ cấu cũ, lạc hậu hoặc cha phù hợp để xây dựng cơ
cấu mới, tiên tiến, hoàn thiện và bổ sung cơ cấu cũ nhằm biến cơ cấu cũ thành cơ cấu
mới hiện đại và phù hợp hơn. Nh vậy, chuyển dịch CCKT về thực chất là sự điều chỉnh
cơ cấu trên 3 mặt biểu hiện của nó, đó là: cơ cấu ngành, cơ cấu vùng và cơ cấu thành
phần kinh tế, nhằm hớng sự phát triển của toàn bộ nền kinh tế theo các mục tiêu kinh tế
xã hội đã xác định cho từng thời kỳ phát triển.
2.1.2 Các tiêu thức đánh giá quá trình chuyển dịch CCKT.
Bùi Thị Hoa Kinh Tế Phát Triển 43B
8
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
_ Mức độ chuyển dịch CCKT:
cos

=
( ) ( )
( ) ( )








= =
=
n
i
n
i
n
i
tSitSi
tSitSi
1 1
1
2
0
2
1
10
.
.
( 0

0
90
)
trong đó: Si(t) là tỷ trọng ngành i tại thời điểm t .

là góc hợp bởi hai véctơ cơ cấu Si
( )
0
t
và Si
( )
1
t
. Nếu góc

càng lớn thì chuyển dịch
cơ cấu càng nhiều và ngợc lại. Khi góc

=0 (cos

=1), hai cơ cấu đồng nhất, không
có sự chuyển dịch. Khi góc

=
0
90
( cos

=0), các vectơ cơ cấu là trực giao với nhau.
Tỷ số n=
0
90

phản ánh tỷ lệ chuyển dịch cơ cấu kinh tế.
_ Tính hợp lý của CCKT: Một CCKT hợp lý là một CCKT phù hợp với quá trình phân
công lao động và hợp tác ở các phạm vi hẹp lẫn phạm vi rộng. Sự hợp lý thể hiện ở mối
quan hệ chặt chẽ giữa quá trình thúc đẩy tăng trởng kinh tế với nâng cao hiệu quả kinh
tế của các ngành, vùng, thành phần và nền kinh tế của mỗi quốc gia, mỗi địa phơng.
_ Tính hiệu quả của CCKT: Một CCJT có tính hiệu quả là một CCKT kết hợp đợc hài
hoà và sử dụng các nguồn lực một cách hiệu quả nhất, làm cho nền kinh tế phát triển
nhanh, nhịp độ tăng trởng cao và ổn định, thu nhập và đời sống của dân c đợc cải thiện.
_ Tính ổn định của CCKT: Quá trình chuyển dịch CCKT sẽ làm biến đổi CCKT hiện có
sang một CCKT mới phù hợp hơn. Sự đánh giá quá trình chuyển dịch có thể đợc xem
xét dới khía cạnh tính ổn định của CCKT đó. Một CCKT ổn định là một CCKT phát
triển cân đối và bền vững, không có những đột biến lớn, đảm bảo đợc sự phù hợp giữa
nguồn lực và các mục tiêu phát triển.
_ Tính mục tiêu của CCKT: Bất kỳ một CCKT nào cũng luôn mang tính mục tiêu trong
từng giai đoạn phát triển nhất định. Sự thành công của quá trình chuyển dịch CCKT
cũng đồng nghĩa với việc xây dựng đợc một CCKT đạt đợc những mục tiêu đã định về
tỷ trọng, về tốc độ phát triển giữa các ngành, vùng và thành phần kinh tế.
2.2. Tính qui luật của quá trình chuyển dịch CCKT. -
Đặc trng của CCKT là luôn luôn vận động và biến đổi. Sự biến đổi ấy rất đa dạng
giữa các nớc, các địa phơng có điều kiện kinh tế xã hội và trình độ khác nhau. Có thể
khái quát quá trình vận động của CCKT ở nớc ta theo một số qui luật phổ biến sau:
Bùi Thị Hoa Kinh Tế Phát Triển 43B
9
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
Thứ nhất, đó là sự vận động từ một nền kinh tế tự cấp, tự túc sang nền kinh tế
hàng hoá.
Thứ hai là sự vận động theo hớng tỷ trọng công nghiệp ngày càng tăng, tỷ trọng
nông nghiệp giảm tơng đối (nhng tăng tuyệt đối), phần dịch vụ tăng nhanh hơn trong tỷ
trọng tổng sản phẩm quốc dân.
Thứ ba là cơ cấu sản xuất thay đổi theo hớng chuyển từ ngành sản xuất các sản
phẩm sử dụng nhiều lao động sang ngành sản xuất sản phẩm chứa hàm lợng cao về vốn
và khoa học công nghệ.
Thứ t là cơ cấu sản phẩm thay đổi theo hớng sản phẩm chế biến tăng, sản phẩm
thô giảm.
Thứ năm, CCKT chuyển dịch theo hớng CNH- HĐH.
Thứ sáu, xu hớng biến đổi từ CCKT khép kín trong phạm vi quốc gia, thậm chí
trong từng từng địa phơng sang CCKT mở trong phạm vi quốc tế và trong cả nớc.
2.3. Các nhân tố cơ bản ảnh hởng đến quá trình chuyển dịch CCKT.
2.3.1. Nhóm nhân tố khách quan.
2.3.1.1. Các nhân tố về điều kiện tự nhiên.
Các nhân tố về điều kiện tự nhiên có thể kể đến đó là: dự trữ tài nguyên, khoáng
sản, nguồn nớc, đất đai, nguồn năng lợng, khí hậu và địa hình Thiên nhiên vừa là điều
kiện chung của sản xuất xã hội, vừa là t liệu sản xuất và t liệu tiêu dùng. ảnh hởng của
điều kiện tự nhiên đối với việc hình thành CCKT mang tính trực tiếp. Tuy nhiên, trong
điều kiện KHKT phát triển hiện nay, việc đánh giá vai trò các nhân tố điều kiện tự nhiên
cần tránh cả hai khuynh hớng đối lập nhau: hoặc là qúa lệ thuộc vào điều kiện tự nhiên
hoặc xem nhẹ vai trò của nó. Cả hai khuynh hớng đó đều không đúng đắn. Dới sự thống
trị của khoa học công nghệ hiện đại, tài nguyên thiên nhiên không phải là điều kiện tiên
quyết cho sự phát triển. Ngợc lại, nếu xem nhẹ yếu tố thiên nhiên sẽ không khai thác
đầy đủ lợi thế so sánh để thúc đẩy phát triển kinh tế hoặc khai thác tài nguyên thiên
nhiên một cách lãng phí, phá hoại môi trờng phát triển kinh tế lâu dài.
2.3.1.2. Các nhân tố kinh tế xã hội.
a/ Thị trờng và trình độ phát triển của kinh tế thị trờng.
Sự ra đời và phát triển các mô hình kinh tế mà nhân loại đã trải qua cho đến nay
đã khẳng định: kinh tế thị trờng có tác động to lớn đối với sự phát triển khoa học công
Bùi Thị Hoa Kinh Tế Phát Triển 43B
10
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
nghệ, đối với sự thay đổi cơ cấu ngành, vùng kinh tế, đối với việc tăng năng suất lao
động xã hội, đối với việc phát triển lực lợng sản xuất xã hội.
Trong nền kinh tế hàng hoá, thị trờng là khâu trung gian giữa sản xuất và tiêu
dùng, là điểm tập kết của quan hệ hàng hoá đảm bảo sự vận động không ngừng của quá
trình tái sản xuất xã hội. Do đó, thị trờng luôn là yếu tố quyết định sự phát triển kinh tế
và đặc biệt nó ảnh hởng mạnh mẽ đến sự hình thành và biến đổi CCKT. Mặt khác, nói
đến thị trờng là nói đến nhu cầu của con ngời cần đợc thoả mãn thông qua thị trờng. Độ
thoả mãn nhu cầu của con ngời lại phụ thuộc vào việc nền kinh tế xây dựng CCKT và
chuyển dịch CCKT nh thế nào, cho phép trả lời đợc và đúng những câu hỏi mà nhu cầu
thị trờng đặt ra: sản xuất cho ai? sản xuất cái gì? và sản xuất bằng công nghệ gì? Trình
độ phát triển của kinh tế thị trờng tỷ lệ thuận với trình độ phát triển và chuyển dịch
CCKT theo hớng CNH- HĐH của nền kinh tế quốc dân.
b/ Vốn và đầu t.
Nhiều nghiên cứu đã đi đến kết luận rằng vốn là nhân tố quan trọng nhất đối với
tăng trởng. Vốn là một yếu tố sản xuất trong quá trình sản xuất. Vốn đóng góp vào tăng
trởng sản lợng không chỉ một cách trực tiếp nh một yếu tố đầu vào mà còn gián tiếp
thông qua sự cải tiến kỹ thuật. Thông qua sự cải tiến kỹ thuật thì đầu t sẽ giúp nâng cao
kỹ năng của ngời lao động và điều này đến lợt nó sẽ làm tăng năng suất lao động, giúp
cho quá trình sản xuất trở nên hiệu qủa hơn và cuối cùng là làm tăng trởng kinh tế. Nh
vậy, vốn là một yếu tố có vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy chuyển dịch CCKT.
Nhờ có vốn, cơ cấu sản xuất thay đổi theo hớng tăng sản lợng, chất lợng những sản
phẩm có hàm lợng vốn và kỹ thuật cao, tăng năng suất lao động của các ngành, làm cho
sự chuyển dịch cơ cấu ngành diễn ra một cách tích cực, kéo theo sự chuyển dịch của cơ
cấu vùng và cơ cấu thành phần trong quá trình phát triển.
c/ Lao động và vốn nhân lực.
Sự tác động của dân số và lao động lên qúa trình hình thành và chuyển dịch
CCKT đợc xem xét trên các mặt chủ yếu sau:
Thứ nhất, kết cấu dân c và trình độ dân trí, khả năng tiếp thu khoa học kỹ thuật
mới là cơ sở quan trọng để phát triển các ngành công nghiệp kỹ thuật cao và nâng cao
hiệu quả sản xuất kinh doanh trong các ngành đang hoạt động, là nhân tố thúc đẩy tiến
bộ KHKT trong sản xuất của các ngành kinh tế quốc dân.
Bùi Thị Hoa Kinh Tế Phát Triển 43B
11
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
Thứ hai, qui mô dân số, kết cấu dân c và thu nhập của họ có ảnh hởng lớn đến qui
mô và cơ cấu của nhu cầu thị trờng. Đó là cơ sở để phát triển các ngành công nghiệp và
các ngành phục vụ tiêu dùng.
Thứ ba, sự phát triển các ngành nghề truyền thống trong công nghiệp cũng nh
trong các ngành kinh tế khác thờng gắn liền với tập quán, truyền thống, phong tục của
một địa phơng, một cộng đồng ngời. Sự phát triển và chuyển hoá các ngành nghề này
gắn chặt với đội ngũ các nghệ nhân. Sản phẩm của các ngành nghề này hầu hết là các
sản phẩm độc đáo, có u thế và đợc a chuộng trên thị trờng quốc tế. Trong lĩnh vực này,
vai trò của các nghệ nhân, những lao động có chuyên môn sâu và nhiều kinh nghiệm, là
rất lớn trong việc phát triển những ngành nghề thủ công truyền thống đòi hỏi kỹ thuật
tinh tế và tay nghề cao.
Việt Nam có một nguồn dân số và lao động trẻ, dồi dào song nền kinh tế có một
điểm xuất phát thấp (sản xuất nhỏ là chủ yếu), phải chịu nhiều ảnh hởng của chiến
tranh, của cơ chế cũ nên những yếu tố đó tác dụng cả hai mặt thuận lợi và trở ngại trong
quá trình hình thành và chuyển dịch CCKT.
d/ Tiến bộ khoa học- công nghệ.
Tiến bộ khoa học, kỹ thuật và công nghệ diễn ra trên thế giới và trong nớc có ảnh
hởng mạnh mẽ đến sự biến đổi CCKT. Trớc hết nó làm thay đổi vị trí của các ngành
trong nền kinh tế quốc dân, nó cũng làm thay đổi vị trí của nguyên liệu trong quá trình
lao động. Tiến bộ khoa học công nghệ (KHCN) không những chỉ tạo ra những khả năng
sản xuất mới, đẩy nhanh tốc độ phát triển một số ngành làm tăng tỷ trọng của chúng
trong tổng thể nền kinh tế (làm chuyển dịch CCKT) mà còn tạo ra những nhu cầu mới,
đòi hỏi sự xuất hiện của một số ngành công nghệ non trẻ, công nghệ tiên tiến, do đó có
triển vọng phát triển mạnh trong tơng lai.
Trong điều kiện mở cửa và hội nhập, tiến bộ KHCN cho phép tạo ra các sản phẩm
mới chất lợng cao, chi phí kinh doanh hạ, do đó có sức cạnh tranh mạnh trên thị trờng
trong nớc và quốc tế. Kết quả là làm chuyển dịch CCKT nói chung theo hớng xuất khẩu,
thay thế nhập khẩu và hội nhập vào đời sống kinh tế khu vực và thế giới.
2.3.2. Nhóm nhân tố chủ quan.
Bùi Thị Hoa Kinh Tế Phát Triển 43B
12
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
Đó có thể là các đờng lối, chính sách của Đảng và Nhà nớc, cơ chế quản lý, chiến
lợc phát triển kinh tế xã hội trong từng thời kỳ. Có thể kể đến một nhân tố chủ quan có
tác động không nhỏ đến sự chuyển dịch CCKT là môi trờng thể chế. Môi trờng thể chế
là yếu tố cơ sở cho quá trình xác định và chuyển dịch CCKT. Môi trờng thể chế gắn bó
chặt chẽ với thể chế chính trị và đờng lối xây dựng kinh tế. Nói cách khác, quan điểm,
đờng lối chính trị nào sẽ có môi trờng thể chế đó, đến lợt nó, môi trờng thể chế lại ớc
định các hớng chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế nói chung cũng nh cơ cấu nội bộ từng
ngành, từng vùng và thành phần kinh tế. Môi trờng thể chế là biểu hiện cụ thể của
những quan điểm, ý tởng và hành vi của Nhà nớc can thiệp và định hớng sự phát triển
tổng thể cũng nh sự phát triển của các bộ phận cấu thành của nền kinh tế. Nh vậy sự
đồng bộ và tính ổn định của môi trờng thể chế có ý nghĩa quan trọng đối với quá trình
hình thành và chuyển dịch CCKT. Việt Nam có một môi trờng thể chế chính trị và đờng
lối đối ngoại rõ ràng và rộng mở, đa phơng hoá, đa dạng hoá các mối quan hệ là một
lợi thế quan trọng trong quá trình chuyển dịch CCKT của nớc ta.
II. Một số Lý thuyết về chuyển dịch CCKT.
1. Mối quan hệ giữa chuyển dịch CCKT với quá trình phát triển kinh
tế.
Nói đến quá trình phát triển kinh tế, ngời ta thờng quan tâm đến hiệu quả sử dụng
các nguồn lực hiện có, sự gia tăng các nguồn lực sản xuất theo thời gian và cách thức
phân phối sản phẩm và thu nhập cho các nhân tố sản xuất. Còn khi nói đến cơ cấu của
một nền kinh tế, ta thờng quan tâm đến các thành phần có ý nghĩa cơ bản, tồn tại lâu
dài, làm cơ sở cho những biến động có tính chất thờng xuyên trong đời sống kinh tế.
Cho tới nay, cha có một lý thuyết hoàn hảo nào có thể mô tả những mối liên hệ
giữa quá trình phát triển và quá trình thay đổi cơ cấu. Tuy nhiên, nhiều công trình
nghiên cứu đã đa ra bằng chứng chắc chắn là có những qui luật phản ánh phơng thức
thay đổi của CCKT khi thu nhập bình quân đầu ngời tăng lên. Nh vậy, cơ sở giúp ta thấy
đợc mối liên hệ giữa quá trình phát triển kinh tế và thay đổi cơ cấu là cách thức tính
toán GDP theo các biến số kinh tế vĩ mô.
1.1. Xét về phía cung.
Chúng ta phải phân tích cơ cấu sản xuất đợc tính theo các ngành sản xuất. Một
kết quả quan sát cho thấy, khi thu nhập bình quân đầu ngời tăng lên thì tỷ trọng trong
Bùi Thị Hoa Kinh Tế Phát Triển 43B
13
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
GDP của ngành nông nghiệp giảm cùng với số lao động sử dụng và tỷ trọng của ngành
công nghiệp, trong đó chủ yếu là ngành khai khoáng và chế biến tăng lên cùng với số
lao động sử dụng. Ngành chế biến ban đầu có xu hớng tập trung vào sản xuất các mặt
hàng tiêu dùng giản đơn nh lơng thực, thực phẩm, quần áo, sau này chuyển dần sang sản
xuất các mặt hàng t liệu sản xuất thuộc ngành công nghiệp nặng và sau cùng là sản xuất
các sản phẩm vi điện tử và các sản phẩm có công nghệ cao. Vai trò của ngành dịch vụ
có xu hớng tăng lên tơng đối rõ rệt. Hàm sản xuất:
y=(L,K, ) với
L
y


>0,
K
y


>0.
Một khi thu nhập bình quân đầu ngời tăng lên, tỷ trọng của công nghiệp trong
GDP sẽ tăng và lao động sử dụng cũng tăng, từ đó tác động trở lại hàm sản xuất tiếp tục
làm tăng tổng sản lợng, thúc đẩy quá trình phát triển kinh tế. Tuy nhiên, ta cần phải chú
ý đặc biệt tới một mảng có tác động không nhỏ đến CCKT là hệ thống tài chính. Nhà
kinh tế Goldsmith đã thiết lập đợc mối liên hệ hình chữ U ngợc giữa các quá trình phát
triển của nền kinh tế và hệ thống tài chính. Trong những giai đoạn đầu của phát triển
kinh tế hệ thống tài chính phát triển nhanh hơn nhiều so với tốc độ tăng trởng của GDP
và của cải, sau đó chững lại ở mức tơng đơng rồi giảm dần xuống chậm hơn khi đất nớc
đạt đợc một mức thu nhập bình quân đầu ngời nhất định. Điều này có nghĩa là khu vực
tài chính cũng trải qua một quá trình đa dạng hoá sản phẩm giống nh các bộ phận khác
của cơ cấu sản xuất.
Ngoài các yếu tố trên, ta cũng cần xét thêm một vài khía cạnh khác làm thay đổi
CCKT. Chẳng hạn, khi một nền kinh tế phát triển đến một mức nào đó, nhu cầu về vốn
cũng thay đổi cả về kỹ thuật công nghệ cũng nh công nhân lành nghề, tất yếu dẫn đến
thay đổi cơ cấu.
1.2. Xét về phía cầu.
Xuất phát từ công thức: AD=C+ I+G+ (X- M). Khi mức thu nhập bình quân đầu
ngời thấp, ngời dân chi dùng hầu nh toàn bộ thu nhập, tiết kiệm hầu nh không có, toàn
bộ nguồn đầu t hầu nh dựa vào vốn nớc ngoài, CCKT phụ thuộc nên việc chủ động ra
các chính sách nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế bị hạn chế nhiều. Một khi thu nhập bình
quân đầu ngời tăng lên, tỷ trọng thu nhập dùng cho ăn uống giảm dần và tỷ lệ tiết kiệm
tăng lên, mức chênh lệch giữa tiết kiệm và đầu t giảm đi, việc chủ động vạch ra những
chính sách thay đổi cơ cấu sản xuất của nền kinh tế nhằm mục tiêu tăng trởng đã dần
dần có hiệu lực. Các qui luật trên đây cho thấy rằng khi các loại nhu cầu biến đổi, tơng
Bùi Thị Hoa Kinh Tế Phát Triển 43B
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét