giai cấp của những người vô sản là giai cấp lao động trong thế kỷ XIX Giai cấp
vô sản là do cuộc cách mạng công nghiệp sản sinh ra”
.
Phát triển học thuyết của Mác và Ph. Ănghen trong Thời đại Đế quốc chủ
nghĩa và cách mạng vô sản, đặc biệt trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội hiện
thực, trên cơ sở quan niệm đúng và mới về giai cấp, Lênin đã bổ sung thêm những
thuộc tính mới của giai cấp công nhân. Theo Lênin giai cấp công nhân: “là giai
cấp thống trị về chính trị, giai cấp lãnh đạo toàn xã hội trong cuộc đấu tranh lật đổ
ách tư bản, trong sự nghiệp sáng tạo ra xã hội mới, trong toàn bộ cuộc đấu tranh để
thủ tiêu hoàn toàn các giai cấp. Xu hướng phát triển của giai cấp vô sản là đi tới
chỗ tự thủ tiêu mình với tư cách là giai cấp vô sản”.
Hiện nay, ở các nước xã hội chủ nghĩa, hoặc ở các nước đang trên con đường
phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa, khi giai cấp công nhân đã trở thành
giai cấp cầm quyền và là chủ sở hữu đích thực các tư liệu sản xuất chủ yếu của xã
hội, thì khái niệm giai cấp vô sản theo đúng nghĩa đen của từ cũng hoàn toàn không
còn nữa. Tất nhiên, giai cấp công nhân ở các nước này vẫn là một bộ phận của giai
cấp vô sản (giai cấp công nhân) toàn thế giới. Nó xoá bỏ tình cảnh vô sản, nô lệ
trước đây và trở thành giai cấp có địa vị của người làm chủ. Và do đó, ở các nước
tư bản chủ nghĩa cũng như các nước đang phát triển theo con đường tư bản chủ
nghĩa hiện nay, trên thực tế cũng không còn giai cấp vô sản theo nguyên nghĩa ở
thế kỷ XIX nữa, cả về tài sản, mức sống, điều kiện sống, trình độ học vấn và trình
độ văn hoá nói chung. Cùng với sự phát triển của khoa học công nghệ, của kinh tế
tri thức, giai cấp công nhân có xu hướng “trí thức hoá” để trở thành giai cấp công
nhân trí thức.
Ở nước ta, khi bàn về khái niệm giai cấp công nhân, các trung tâm nghiên
cứu, các nhà khoa học cũng đưa ra những định nghĩa khác nhau:
Theo các tác giả trong công trình “Một số vấn đề về chủ nghĩa Mác - Lênin
trong thời đại ngày nay”, Hội đồng trung ương chỉ đạo biên soạn Bộ giáo trình
quốc gia các bộ môn khoa học Mác - Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh, Nxb, CTQG,
H, 1996, định nghĩa: “Giai cấp công nhân là giai cấp những người lao động hoạt
5
động sản xuất trong các ngành công nghiệp thuộc các trình độ kỹ thuật khác nhau,
mà địa vị kinh tế - xã hội thì tùy thuộc vào chế độ xã hội đương thời: ở các nước tư
bản, họ là những người không có hoặc về cơ bản không tư liệu sản xuất phải làm
thuê cho giai cấp tư sản và bị giai cấp tư sản bóc lột giá trị thặng dư; ở các nước xã
hội chủ nghĩa, họ là những người đã cùng nhân dân lao động làm chủ những tư liệu
sản xuất chủ yếu và cùng nhau hợp tác lao động cho mình” .
Theo tập thể các tác giả trong cuốn giáo trình Chủ nghĩa xã hội khoa học,
Hội đồng trung ương chỉ đạo biên soạn Bộ giáo trình quốc gia các bộ môn khoa
học Mác - Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh, Nxb, CTQG, H, 2002, định nghĩa: “Giai
cấp công nhân là một tập đoàn xã hội ổn định, hình thành và phát triển cùng với quá
trình phát triển của nền công nghiệp hiện đại, với nhịp độ phát triển của lực lượng
sản xuất cơ bản tiên tiến, trực tiếp hoặc tham gia vào quá trình sản xuất, tái sản
xuất ra của cải vật chất và cải tạo các quan hệ xã hội; là lực lượng chủ yếu của tiến
trình lịch sử quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội. ở các nước tư bản,
giai cấp công ngân là những người không có hoặc về cơ bản không có tư liệu sản
xuất phải làm thuê cho giai cấp tư sản và bị giai cấp tư sản bóc lột giá trị thặng dư;
ở các nước xã hội chủ nghĩa, họ là người đã cùng nhân dân lao động làm chủ những
tư liệu sản xuất chủ yếu và cùng nhau hợp tác lao động vì lợi ích chung của toàn xã
hội trong đó có lợi ích chính đáng của bản thân họ”
[12]
Hiện nay, thế giới đã bước vào nền văn minh tin học, văn minh trí tuệ, nền
văn minh tin học. Và, trong điều kiện ấy, sứ mệnh giải phóng giai cấp, giải phóng
xã hội, giải phóng triệt để con người tất yếu vẫn thuộc về giai cấp công nhân hiện
đại, tuyệt nhiên không phải vì là giai cấp nghèo khổ, thất học, không có của mà
chính là ở chỗ giai cấp này mang bản chất cách mạng triệt để, tiêu biểu cho lực
lượng sản xuất tiên tiến, hiện đại.
Xuất phát từ sự phân tích trên, GS, TS Dương Xuân Ngọc- Học viện Báo
chí- Tuyên Truyền đưa ra định nghĩa về giai cấp công nhân hiện nay như sau: Giai
cấp công nhân là một tập đoàn những người lao động ra đời và phát triển gắn liền
với nền sản xuất công nghiệp hiện đại, ngày càng xã hội hoá, quốc tế hoá cao và
6
phát cùng với sự phát triển của nền kinh tế công nghiệp và nền kinh tế tri thức; là
lực lượng sản xuất cơ bản và tiên tiến của thời đại hiện nay; là giai cấp thống trị về
chính trị, giai cấp lãnh đạo toàn xã hội trong cuộc đấu tranh lật đổ ách tư bản,
trong sự nghiệp sáng tạo ra xã hội mới, trong toàn bộ cuộc đấu tranh để thủ tiêu
hoàn toàn các giai cấp
Như vậy, định nghĩa về giai cấp công nhân bao hàm những nội dung sau:
Thứ nhất, giai cấp công nhân là tập đoàn những người lao động hình thành
gắn liền với nền sản xuất công nghiệp hiện đại ngày càng xã hội hoá, quốc tế hoá
cao. Là con đẻ của nền đại công nghiệp, cùng với sự phát triển của đại công
nghiệp, giai cấp công nhân luôn có biến động cả về số lương, chất lượng và cơ cấu.
Thứ hai, giai cấp công nhân hiện nay phát triển gắn liền đồng thời với sự
phát triển của nền kinh tế công nghiệp và nền kinh tế tri thức. Nghĩa là, trong thời
đại mới, thời đại của khoa học và công nghệ phát triển như vũ bão và trở thành lực
lượng sản xuất trực tiếp, sự phát triển của giai cấp công nhân không chỉ gắn liền
với sự phát triển của nền kinh tế công nghiệp mà còn gắn liền với sự phát triển của
nền kinh tế trí thức.
Thứ ba, giai cấp công nhân trong nền kinh tế công nghiệp cũng như trong
nền kinh tế tri thức luôn là lực lượng sản xuất cơ bản và tiên tiến, thấm trí, ngày
nay, giai cấp công nhân còn là lực lượng đi đầu, là lực lượng lãnh đạo sự nghiệp
phát triển nền kinh tế tri thức. Sẽ không thể có nền kinh tế tri thức phát triển nếu
không có giai cấp công nhân trí thức phát triển. và ngược lại, không thể có giai cấp
công nhân trí thức nếu không có nền kinh tế tri thức phát triển.
Thứ tư, giai cấp công nhân là giai cấp thống trị về chính trị qui định chiều
hướng phát triển của xã hội loài người - giai cấp công nhân luôn là giai cấp tiên
phong, đại diện cho lực lượng sản xuất tiên tiến, đại diện cho xu hướng tiến bộ, có
vai trò quyết định chiều hướng phát triển hợp qui luật, hợp xu thế của thời đại.
Thứ năm, giai cấp công nhân là giai cấp lãnh đạo toàn xã hội trong cuộc đấu
tranh lật đổ ách tư bản, trong sự nghiệp sáng tạo ra xã hội mới, trong toàn bộ cuộc
đấu tranh để thủ tiêu hoàn toàn các giai cấp.
7
Đã là giai cấp công nhân thì dù trong điều kiện hoàn cảnh nào vẫn là giai cấp
có sứ mệnh lịch sử toàn thế giới: lật đổ ách áp bức tư bản chủ nghĩa, ách áp bức
cuối cùng trong lịch sử, lãnh đạo nhân dân sáng tạo ra xã hội mới, xã hội xã hội chủ
nghĩa và xã hội cộng sản chủ nghĩa, giải phóng triệt để con người.
Từ cách tiếp cận như vậy có thể định nghĩa giai cấp công nhân Việt Nam như
sau: Giai cấp công nhân Việt Nam là giai cấp những người lao động hình thành và
phát triển cùng với sự phát triển của nền sản xuất công nghiệp hiện đại; là lực
lượng sản xuất chủ yếu, là lực lượng đi đầu và lực lượng lãnh đạo sự nghiệp công
nghiệp hoá, hiện đại hoá gắn liền với phát triển kinh tế tri thức vì một nước Việt
Nam dân giàu, nước mạnh xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.
1.2. Hoàn cảnh ra đời của giai cấp công nhân Việt Nam
Ðọc lại Luận cương Chính trị của đảng Cộng sản Ðông Dương năm 1930 ta
gặp những dòng này: "Trong lúc đầu, cuộc cách mạng Ðông Dương sẽ là một cuộc
cách mạng tư sản dân quyền Tư sản dân quyền cách mạng được thắng lợi, chính
phủ công nông đã dựng lên rồi, thì công nghiệp trong nước được phát triển, các tổ
chức vô sản sẽ thêm kiên cố, sức mạnh giai cấp tương đương sẽ nặng về phía vô
sản. Lúc đó sự tranh đấu sẽ thêm sâu, thêm rộng, làm cho cách mạng tư sản dân
quyền tiến lên con đường cách mạng vô sản ".
Tuy nhận thức được rằng chỉ đến khi công nghiệp trong nước phát triển thì
sức mạnh giai cấp tương đương mới sẽ nặng về phía vô sản.
Vậy, giai cấp công nhân là gi? Giai cấp công nhân Việt Nam hình thành từ
bao giờ ? Có đúng là đã có một giai cấp công nhân ở Việt Nam theo định nghĩa của
Mác - Lênin không ? Nếu có thì đến nay nó có còn tồn tại không? Ðây là những
câu hỏi lẽ ra phải được bàn thảo nghiêm túc.
Giáo sư Phan Huy Lê cho rằng ngay từ thời phong kiến ở Việt Nam đã tồn
tại các "cố công nhân", họ là những người làm công phục vụ trong các gia đình.
Những người làm thuê này còn có loại gọi là "dung nhẫm", "đinh phu" mà Quốc
Triều Hình Luật ghi là "đinh phu thợ thuyền" cùng với "dung phu" là những lao
động trong hầm mỏ. Thời Lê mạt, năm 1831, mỏ vàng Chiên Ðàn (Quảng Nam) đã
8
được khai thác với khoảng gần 1000 lao động. Năm 1833, mỏ vàng Tiên Kiều
(Tuyên Quang) tập trung tới 3122 công nhân. Tính đến đầu đời Tự Ðức, từ Quảng
Nam trở ra đã có 124 mỏ được khai thác trong đó có 3 mỏ vàng, 29 mỏ sắt, 14 mỏ
bạc, 9 mỏ đồng, 7 mỏ kẽm, 4 mỏ chì, 1 mỏ thiếc Lao động công nghiệp và thủ
công nghiệp từ Lý - Trần trở đi ngày càng tinh xảo. Từ khi Lý Thái Tổ đời đô ra
Thăng Long, kinh tế - văn hóa phát triển mạnh mẽ. Nhiều lao động công nghiệp,
thủ công nghiệp đã được huy động vào các công việc xây dựng chùa quán, tô
tượng, đúc chuông, làm cầu, đóng thuyền Công nghệ đóng thuyền tàu đi sông đi
biển bấy giờ từng đã được các thương nhân Hà Lan, Bồ Ðào Nha đánh giá cao.
Năm 1820, Ðại tá hải quân Hoa Kỳ J. White sang Việt Nam đã nhận xét: Người
Việt Nam quả là những nhà đóng tàu thành thạo. Họ hoàn thành những công trình
của họ rất mực chính xác.
Giáo sư Trần Văn Giàu cho rằng "Dù số lượng chỉ mới là trên dưới 100.000
người hoàn toàn sống vào nghề bán công nuôi miệng, chúng tôi nhận định rằng
trước khi đại chiến thế giới 1914 - 1918 bùng nổ, giai cấp vô sản Việt Nam đã
thành giai cấp đó là "giai cấp tự mình", chưa phải " giai cấp cho mình ".
Giáo sư Văn Tạo lại cho rằng "Khi Nguyễn Ái Quốc ra đi tìm đường cứu
nước là lúc giai cấp công nhân Việt Nam bắt đầu hình thành "giai cấp tự nó".
Nhưng Ănghen khẳng định : "Giai cấp vô sản là do cuộc cách mạng công nghiệp
sinh ra". Trước Mác và Ănghen, người ta chưa ý niệm về giai cấp vô sản nên
thường cho rằng vô sản là những người lười biếng, hèn kém nên nghèo khổ, bị áp
bức, bóc lột trong các công trường thủ công và trong nền công nghiệp đang phát
triển, bao gồm cả tầng lớp lưu manh, du thủ du thực.
Không biết ở Việt Nam cuộc cách mạng công nghiệp đã diễn ra bao giờ ?
Có được bao nhiêu công nhân làm thuê hiện đại và họ đã tập họp thành giai cấp
như thế nào ? Họ có vì mất các tư liệu sản xuất của bản thân nên buộc phải đi bán
sức lao động để kiếm ăn hay hầu hết đều là những người rời bỏ quê hương ruộng
đồng để đi tìm cuộc sống khả dĩ hơn ở nơi chốn thị thành?
9
Ở Việt Nam, cho đến 1896, Toàn quyền Paul Doumer - một nhà kinh tế -
chính trị - mới được chính phủ Pháp cử sang Ðông Dương triển khai kế hoạch khai
thác thuộc địa. Số lao động được sử dụng để xây cầu Long Biên (1902), cầu Sông
Hương (1900), mở tuyến đường sắt Hà Nội - Lạng Sơn (1902), Ðà Nẵng - Huế
(1906), Sài Gòn - Nha Trang và Hải Phòng- Vân Nam (1910), ước tới hàng chục
vạn người. Phần lớn là nông dân bị trưng tập hay bắt phu theo thời vụ. Trong số
3500 lao động làm đường xe lửa chỉ có khoảng 100 thợ nề chuyên nghiệp. Ðến
năm 1906, cả nước có khoảng 90 nhà máy. Nam kỳ có các xưởng sửa chữa ôtô,
làm xà phòng, chế biến đồ hộp, đóng tàu, xay sát gạo, nhà in Bắc kỳ có các nhà
máy rượu, nhà máy điện, nhà máy dệt, nhà máy xi măng, nhà máy giấy, nhà máy
thuộc da Năm 1929, toàn cõi Ðông Dương, mà chủ yếu là ở Việt Nam, có
220.000 công nhân làm việc trong các doanh nghiệp của tư bản thực dân Pháp
(53.000 công nhân mỏ, 86.000 công nhân công thương nghiệp, 81.000 công nhân
đồn điền). Trong số này, đa số là công nhân áo nâu, tức là lao động tạp dịch đơn
giản, lao động thủ công, văn hóa hết sức thấp, phần đông mù chữ. Công nhân áo
xanh, tức công nhân kỹ thuật rất hiếm. Ðộ tập trung công nhân đã thấp lại luôn
luôn bị phá vỡ do số công nhân lao khổ bị chết nhiều : một số mãn hạn được về
quê, số khác bỏ trốn nên luôn phải bổ sung người mới. Riêng năm 1929 có 4.302
công nhân phá giao kèo, bỏ trốn, 6.907 người được mãn hạn. Số lượng công nhân
ít ỏi, sống và làm việc phân tán rải rác, chất lượng lại kém nên người ta đã phải
bàn đến chuyện ghép cả các công chức và giáo viên vào hàng ngũ công nhân.
Tóm lại: Giai cấp công nhân Việt Nam là sản phẩm trực tiếp của chính sách
khai thác thuộc địa của thực dân Pháp, lớp công nhân đầu tiên xuất hiện gắn liền
với cuộc khai thác thuộc địa lần thứ nhất (1897) và thực sự trở thành giai cấp công
nhân Việt nam từ thời kỳ khai thác thuộc địa của thực dân Pháp lần thứ hai
(1924-1929). Cùng với quá trình phảt triển của cách mạng, quá trình đổi mới, công
nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước gắn với phát triển kinh tế tri thức, giai cấp công
nhân Việt Nam sớm trở thành bộ phận của đội ngũ giai cấp công nhân quốc tế và
10
giai cấp công nhân Việt Nam ngày càng phát triển cả về lượng và chất sau năm
1930.
1.3. Đặc điểm giai cấp công nhân Việt Nam
Giai cấp công nhân Việt Nam sớm trở thành bộ phận của đội ngũ giai cấp
công nhân quốc tế. Cho nên ngoài những đặc điểm chung của giai cấp công nhân
quốc tế như:
- Giai cấp công nhân có vai trò quyết định nhất sự tồn tại và phát triển xã hội.
- Giai cấp công nhân có tinh thần cách mạng triệt để.
- Có hệ tư tưởng riêng của giai cấp mình.
- Tính tổ chức, kỷ luật cao.
- Tính tiên phong (về phương thức sản xuất, về tư tưởng, về Đảng của nó).
Ngoài những đặc điểm chung giai cấp công nhân Việt Nam còn có đặc điểm
riêng:
Thứ nhất, phần lớn xuất thân từ nông dân bần cùng hoá nên họ có quan hệ
chặt chẽ gần gũi với giai cấp nông dân về nhiều mặt.
Thứ hai, phải chịu ba tầng lớp áp bức bóc lột: Đế quốc, phong kiến và tư sản
bản xứ.
Thứ ba, giai cấp công nhân Việt Nam là giai cấp có truyền thống yêu nước và
ý thức tự tôn dân tộc.
Sinh ra và lớn lên trong lòng dân tộc vốn có truyền thống yêu nước và tư tôn
dân tộc, giai cấp công nhân sớm tiếp thu và được thừa hưởng truyền thống qui báu
đó. Mặc dù mới ra đời, còn non trẻ, nhỏ bé, song giai cấp công nhân đã sớm trở
thành giai cấp duy nhất được lịch sử, dân tộc thừa nhận và giao phó sứ mệnh lãnh
đạo cách mạng Việt Nam ngay từ sau các phong trào cứu nước theo lập trường Cần
Vương, lập trường tư sản và tiểu tư sản thất bại.
Trong cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc, thống nhất đất nước, cũng như
trong sự xây dựng và bảo vệ tổ quốc, truyền thống tốt đẹp ấy đã hội thành bản chất
cách mạng của giai cấp công nhân. Yêu nước, tự tôn dân tộc trong thời đại mới là
11
yêu chủ nghĩa xã hội, là đi đầu và lãnh đạo sự n ghiệp đổi mới vì mục tiêu dân giàu,
nước mạnh, xã hội công bằng dân chủ, văn minh.
Thứ tư, giai cấp công nhân Việt Nam luôn có tinh thần và bản chất cách
mạng triệt để.
Ra đời trước giai cấp tư sản dân tộc, vừa mới lớn lên, đã tiếp thu chủ nghĩa
Mác - Lênin, hệ tư tưởng của giai cấp công nhân quốc tế, nhanh chóng trở thành
lực lượng chính trị tự giác và thống nhất, được Chủ tịch Hồ Chí Minh giáo dục, đã
sớm giác ngộ mục tiêu lý tưởng, chân lý của thời đại: độc lập dân tộc gắn liền với
chủ nghĩa xã hội, giai cấp công nhân Viêt Nam luôn có tinh thần và bản chất cách
mạng triệt để.
Thông qua Đảng tiền phong của mình- Đảng Cộng sản Việt Nam, giai cấp
công nhân lãnh đạo toàn dân tộc thực hiện cuộc kháng chiến thần thành hoàn thành
sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất nước nhà và đưa cả nước lên chủ nghĩa
xã hội. Bước vào thời kỳ mới, xây dựng và bảo vệ tổ quốc trong bổi cảnh quốc tế
có những biến đổi to lớn, khoa lường, một lần nữa, tinh thần và bản chất cách mạng
triệt để của giai cấp công nhân Việt Nam là được thể hiện và phát huy trong nghĩa
đi đầu và lãnh đạo sự nghiệp đổi mới toàn diện đát nước theo định hướng xã hội
chủ nghĩa
Thứ năm, giai cấp công nhân Việt Nam là thành viên và lực lượng lãnh đạo
khối liên minh công- nông trí thức thông qua đảng tiền phong của mình.
Xuất thân từ nông dân lao động, bị thực dân phong kiến bóc lột, bần cùng
hóa, giai cấp công nhân có mối quan hệ máu thịt với giai cấp nông dân và các tầng
lớp lao động khác. Qua thử thách của cách mạng, thông qua Đảng tiền phong của
mình, giai cấp công nhân thực hiện sự lãnh đạo sự nghiệp cách mạng, sự nghiệp đổi
mới, đồng thời là hạt nhân của khối liên minh giai cấp: công- nông- trí và khối đại
đoàn kết dân tộc ở nước ta.
Thứ sáu, giai cấp công nhân Việt Nam là lực lượng đi đầu và lãnh đạo sự
nghiệp đổi mới, sự nghiệp đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá gắn liền với
phát triển kinh tế tri thức.
12
Không chỉ là động lực chủ yếu trong cách mạng dân tộc, dân chủ nhân dân,
một giai cấp công nhân thấm nhuần chủ nghĩa Mác- Lênin và tư tưởng Hồ Chí
Minh, giác ngộ về mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, chắc chắn bản
chất cách mạng triệt để sẽ được phát huy mạnh mẽ để trở thành lực lượng đi đầu và
lãnh đạo sự nghiệp đổi mới, sự nghiệp đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá gắn
liền với phát triển kinh tế tri thức.
Thứ bảy, tính quốc tế và tính hiện đại của giai cấp công nghiệp Việt Nam
ngày càng được khẳng định và phát huy
Cùng với quá trình đẩy mạnh CNH, HĐH gắn với phát triển kinh tế tri thức,
nền kinh tế công nghiệp hiện đại và nền kinh tế tri thức sẽ hình thành về cơ bản và
sự hội nhập ngày càng sâu, rộng với nền kinh tế thế giới đã và sẽ mở ra cơ hội cho
sự giao lưu, bắt nhịp với các hoạt động, quá trình đổi mới và phát triển của giai cấp
công nghiệp thế giới, hiện đại. Ngoài việc tiếp thu những tiến bộ khoa học, công
nghệ, giai cấp công nhân nước ta cũng đồng thời tiếp thu cả những phẩm chất tốt
đẹp của giai cấp công nhân hiện đại - tác phong công nghiệp, tính tổ chức, tính kỷ
luật, phong cách lao động khẩn trương, khoa học và năng động của người công
nhân hiện đại. Đặc biệt tiếp xúc và làm việc với kỹ thuật - công nghệ hiện đại,
người công nhân, nếu muốn tiếp tục lao động, buộc phải vươn lên vượt qua những
giới hạn của chính mình, ra sức học hỏi nâng cao trình độ học vấn, chuyên môn
nghiệp vụ, tay nghề, ngoại ngữ
13
PHẦN 2: PHONG TRÀO ĐÁU TRANH CỦA GIAI CẤP CÔNG
NHÂN VIỆT NAM TRƯỚC NĂM 1930
2.1. Phong trào công nhân Việt Nam từ khi ra đời đến năm 1925
Cuộc đấu tranh của giai cấp công nhân Việt Nam xuất hiện ngay từ khi giai
cấp công nhân ra đời. Trước chiến tranh thế giới lần thứ nhất, phong trào đã diễn ra
với hình thức sơ khai như bỏ trốn tập thể, phá giao kèo, đốt lán trại, đánh cai ký,
đưa đơn phản kháng rồi tiến dần lên những hình thức đấu tranh đặc thù của giai cấp
mình như bãi công. Năm 1907, đã nổ ra cuộc bãi công đầu tiên của 200 công nhân
viên chức hãng Liên Hiệp Thương mại Đông Dương (LUCI) ở Hà nội. Năm 1912,
có cuộc bãi công của công nhân Ba Son và cuộc bãi khoá của học sinh trường Bách
Nghệ Sài gòn…Ngoài ra công nhân còn tham gia các phong trào yêu nước khác:
công nhân Mỏ than Đông Triều tham gia đội quân của lãnh binh Pha và lãnh binh
Hy (1892); công nhân làm đường Phủ Lạng Thương- Lạng Sơn tham gia khởi
nghĩa Yên Thế , tập kích đạo quân dọc đường sắt và nhà ga (1894); những bồi bếp
và công nhân làm trong đội quân Pháp tham gia vụ đầu độc binh lính và sĩ quan
Pháp ở Hà nội (1908); công nhân tham gia khởi nghĩa Duy Tân ở Huế (1916); trong
cuộc binh biến ở Thái Nguyên công nhân tham gia trực tiếp chiến đấu, hoặc rèn vũ
khí cho nghĩa quân (1917).
Cũng từ năm 1919, nhiều cuộc bãi công của công nhân đã có tính cách quốc
tế, tính giai cấp nâng cao: Đó là cuộc bãi công của công nhân thuỷ thủ trên tàu
Sácnơ ở Hải Phòng ( cuối năm 1919 ), của công nhân và thuỷ thủ trên 8 tàu thuộc
Hãng Hàng hải Pháp (tháng 3-1920) Khi chính phủ cách mạng của Tôn Dật Tiên
ở Quảng Châu ( Trung Quốc) thực hiện chính sách “ Liên Nga, Liên Cộng, phù trợ
công nông” thì chuyển biến của phong trào công nhân nước ta càng mạnh
Sau chiến tranh thế giới thứ nhất, điều kiện sinh hoạt vật chất của giai cấp
công nhân Việt Nam vẫn hết sức thấp kém, thời gian làm việc thì phải kéo dài từ 9
đến 10 h một ngày, có những nơi lên đến 12h, công nhân không được hưởng bất cứ
một chế độ bảo hiểm thân thể nào. Tiền lương của công nhân thấp. Chẳng hạn như
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét