Thứ Bảy, 22 tháng 2, 2014

Lý luận hình thái kinh tế xã hội trong việc xây dựng nguồn nhân lực

TiÓu luËn triÕt häc
Bản chất của con người là tổng hoà của các quan hệ xã hội: không có
con người trừu tượng, thoát ly mọi điều kiện hoàn cảnh lịch sử nhất định.
Con người luôn luôn cụ thể nhất định sống trong một thời đại nhất định.
Trong điều kiện lịch sử đó, bằng hoạt động thực tiễn của mình con người tạo
ra các giá trị vật chất và tinh thần để tồn tại và phát triển cả thể lực cũng như
trí tuệ. Sống trong điều kiện của mình con người chịu tác động của các
chuẩn mực xã hội nhất định qua đó bộc lộ bản chất xã hội của mình.
Con người là chủ thể và là sản phẩm của lịch sử: xã hội của con người
sống trong đó giúp ta phân biệt được con người với các loài vật khác. Do xã
hội loài người mang tính lịch sử nên con người cũng là sản phẩm của lịch sử.
Tuy nhiên, mối quan hệ trên lại mang tính chất hai chiều, ngược lại con
người cũng là chủ thể sáng tạo ra lịch sử. Với những giai đoạn phát triển
nhất định của mình ( cụ thể là lực lượng sản xuất mà con người đóng vai trò
quyết định) thì con người dần xác lập ra các xã hội khác nhau tự mình viết
lên các giai đoạn lịch sử nối tiếp để phát triển xã hội loài người.
Chủ nghĩa Mác đã nói lên một cách khái quát nhất, toàn diện nhất về
con người. Mỗi cá nhân đều là sản phẩm của tự nhiên và xã hội nhưng với
năng lực của mình con người đều có thể biến đổi tự nhiên và xã hội.
1.2. Khái niệm về nguồn lực con người.
Nguồn lực con người là tổng thể những tiềm năng, năng lực và khả năng
của mỗi cá nhân, của mỗi cộng đồng người và toàn xã hội, đã, đang và sẽ tạo
ra sức mạnh cho quá trình phát triển, được thể hiện qua hàng loạt các yếu tố
như: trình độ học vấn, chuyên môn kỹ năng lao động, văn hoá lao động kỹ
thuật, lao động, mức sống, sức khoẻ tư tưởng tình cảm, tính cách… trong đó
ba yếu tố quan trọng nhất là : trí tuệ, thể lực, nhân cách.
2. Đặc điểm và vai trò của nguồn lực con người.
2.1. Đặc điểm của nguồn lực con người.
TiÓu luËn triÕt häc
Trong các nguồn lực mà con người đang khai thác thì nguồn lực nào
cũng dần cạn kiệt và mất đi chỉ duy nhất nguồn lực con người là ngày càng
phát triển. Do cấu tạo đặc biệt của trí não con người trong khi lao động con
người dần hình thành những kỹ năng và phản xạ nhất định nên hiệu quả của
công việc ngày càng được nâng cao. Mặt khác, sau quá trình lao động nếu
con người được đáp ứng đầy đủ nhu cầu về vật chất, tinh thần thì quá trình
tái tạo sức lao động sẽ diễn ra nhanh chóng khả năng lao động lại được phục
hồi như cũ. Hơn thế nữa, với tinh thần ham hiểu biết tính cần cù trong lao
động con người ngày càng đi sâu vào tìm hiểu tự nhiên, nắm bắt được quy
luật tự nhiên ứng dụng vào trong quá trình sản xuất.
Ở thời đại ngày nay, với tri thức và công nghệ sẵn có con người ngày
càng sáng tạo ra các công cụ lao động mới tiên tiến hơn có hiệu quả hơn. Do
vậy đầu tư vào con người là quá trình đầu tư mang lại lợi nhuận cao nhất và
dễ dàng nhất. Chính giá trị thặng dư trong lao động do con người tạo ra ngày
càng tích luỹ trong xã hội làm cho sản phẩm ngày càng nhiều, cuộc sống đầy
đủ hơn.
2.2. Vai trò của nguồn lực con người.
2.2.1. Trong lĩnh vực kinh tế
Đây là một trong các nguồn lực của quá trình sản xuất xã hội nhưng
nguồn lực con người lại có vai trò quyết định. Nếu không có nguồn lực con
người thì các nguồn lực khác không thể phát huy được tính năng của nó.
Không có con người các nguồn lực khác mãi đơn thuần chỉ là các thực thể tự
nhiên tồn tại mà không mang lại lợi ích gì. Tuy nhiên khi có bàn tay con
người tác động vào các vật thể tự nhiên lần lượt bộc lộ bản chất của mình và
ngày càng phục vụ đắc lực cho cuộc sống con người.
Trong quá trình lao động sản xuất với kỹ năng và kinh nghiệm của mình
con người đang nâng cao năng suất của sản xuất. Ngày càng có nhiều phát
TiÓu luËn triÕt häc
minh mới của con người được ứng dụng vào quá trình sản xuất, ngày càng
sản xuất ra nhiều sản phẩm mới hơn cho xã hội. Với trình độ phát triển của
khoa học kỹ thuật năng suất lao động ngày càng được nâng cao con người ít
sử dụng tài nguyên thiên nhiên hơn mà ngày đi vào các ngành sản xuất sử
dụng ít nguyên liệu, với kỹ thuật tiên tiến hơn sản phẩm ngày càng nhiều
phong phú và đa dạng về chủng loại.
2.2.2. Trong lĩnh vực chính trị.
Các thể chế chính trị các hình thức nhà nước đều được sinh ra để phục
vụ cho con người, chí ít là một nhóm người. Trong tiến trình phát triển của
xã hội loài người con người không ngừng xây dựng và hoàn thiện các thể
chế chính trị để điều hoà các quan hệ xã hội. Sự khác biệt của thể chế chính
trị này với thể chế chính trị khác đều do con người tiến hành. Một khi mâu
thuẫn trong xã hội không được giải quyết nó sẽ bị đẩy lên đến đỉnh điểm và
lực lượng xã hội nào đại diện cho xu hướng tiến bộ hơn phục vu cho lợi ích
của đông đảo người hơn sẽ tiến hành cách mạng để thay thế xã hội cũ bằng
xã hội mới tiên tiến hơn.
2.2.3. Trong lĩnh vực văn hoá.
Con người chính là chủ thể sáng tạo ra các hình thức quy chuẩn về văn
hoá. Dưới mỗi thời kỳ lịch sử nhất định tuỳ thuộc theo các thể chế khác nhau
mà con người có các hình thái văn hoá khác nhau. Văn hoá là một phần
không thể thiếu trong đời sống của con người. Ngoài ý thức về chính trị tư
tưởng thì con người cũng dùng các sắc thái văn hoá để biểu lộ suy nghĩ tư
tưởng của mình. Các giá trị văn hoá do con người tạo ra ngày càng đa dạng
và phong phú. Chúng được con người tạo ra nhưng ngược lại từ các tiêu
chuẩn văn hoá đó dần hình thành các hành vi nếp sống của con người trong
từng thời kỳ lịch sử.
TiÓu luËn triÕt häc
Có thể nói, con người luôn có vai trò chủ đạo trong mọi mặt của đời
sống xã hội. Nguồn lực con người là nhân tố quyết định thúc đẩy các nguồn
lực khác tạo ra hiệu quả kinh tế ngày càng cao. Con người cũng tạo ra các
thể chế chính trị và văn hoá để xã hội loài người ngày càng tốt đẹp hơn.
3.Đặc điểm của nguồn lực con người Việt Nam.
3.1. Điểm mạnh của nguồn lực con người Việt Nam.
3.1.1. Dân số đông.
Với số lượng hơn 80 triệu dân thì đây là lợi thế của Việt Nam bởi nó
tạo ra lực lượng lao động dồi dào với giá thành rẻ và tạo ra lợi thế cạnh tranh
so với các nước khác. Tuy nhiên, nếu không có sự quản lý hiệu quả và sử
dụng hợp lý vô tình nó có thể trở thành gánh nặng cho xã hội.
3.1.2. Cơ cấu dân cư trẻ.
Số người trên độ tuổi lao động chiếm khoảng 10%, trong độ tuổi lao
động chiếm 56%, dưới độ tuổi lao động chiếm 34%. Như vậy, dân số Việt
Nam tập trung chủ yếu vào lứa tuổi lao động và dưới độ tuổi lao động điều
này rất có lợi trong nền kinh tế với lực lượng lao động dồi dào sẽ tạo ra
nhiều sản phẩm hơn và gánh nặng giữa người đang lao động và những người
không lao động sẽ ít hơn.
3.1.3. Phẩm chất tính cách con người Việt Nam.
Con người Việt Nam có truyền thống yêu nước, đoàn kết, gắn bó, có
tinh thần tự tôn dân tộc, tinh thần nhân ái “lá lành đùm lá rách”. Đây là
truyền thống rất tốt đẹp nếu chúng ta có biện pháp phát huy hiệu quả sẽ huy
động được tối đa nguồn lực con người để tập trung cho các mục tiêu lớn hơn
của đất nước. Bên cạnh đó, con người Việt Nam còn có bản tính thông minh,
chịu khó, giỏi chịu đựng… đây là các bản tính rất tốt trong thời đại hiện nay,
nó là một lợi thế trong quá trình thu hút vốn đầu tư của nước ngoài cũng như
việc xuất khẩu lao động đi các nước khác trên thế giới.
TiÓu luËn triÕt häc
3.1.4. Trình độ dân trí của Việt Nam hiện nay là khá cao
Tỷ lệ biết đọc biết viết của người lớn ở mức trên 96%. Tỷ lệ nhập
trường của học sinh cấp III liên tục tăng nhất là phổ cập giáo dục tiểu học đã
hoàn thành trên toàn quốc. Điều này, cộng với sự thông minh và ham hiểu
biết sẽ góp phần làm cho lực lượng lao động Việt Nam nắm bắt nhanh nhạy
với khoa học công nghệ và tiến bộ kỹ thuật.
3.2. Những hạn chế nguồn lực của con người Việt Nam.
Trình độ chuyên môn, kỹ năng lao động còn thấp kém (20% lực lượng
lao động được đào tạo về chuyên môn tay nghề), lượng lao động chủ yếu ở
nước ta hiện nay là lao động chân tay lao động chủ yếu trong nông nghiệp
mà ít có những lao động trong các ngành kỹ thuật cao.
Văn hoá lao động, kỷ luật lao động công nghiệp còn rất hạn chế. Đây là
bản tính cố hữu của người Việt Nam, ý thức tự giác trong công việc rất thấp.
Có thể là do nguồn lao động của chúng ta chủ yếu xuất phát từ lao động
trong nông nghiệp, quá trình đào tạo thiếu bài bản, quá trình phát triển về
nhận thức chưa bắt kịp so với quá trình phát triển của nền kinh tế.
Mức sống thấp, thể lực nhỏ bé, sức khoẻ hạn chế: Con người Việt Nam
có thể trạng không được tốt như các dân tộc khác lại sống trong hoàn cảnh
kinh tế khó khăn, chế độ dinh dưỡng chăm sóc về y tế không đầy đủ tất yếu
dẫn đến bất lợi cho người lao động hiện nay.
Tư tưởng, tâm ý tiểu nông nặng nề, coi trọng danh vị, ngôi thứ, trọng
tình hơn lý, trọng lệ hơn luật, trọng kinh nghiệm hơn cơ sở khoa học, óc gia
trưởng, tính bảo thủ đố kị, tuỳ tiện , hẹp hòi…đây là những hạn chế tàn dư
của xã hội cũ phần nào nó đã ăn sâu vào suy nghĩ và một phần không nhỏ
của lao động Việt Nam. Những điều trên không thích hợp với thời đại ngày
nay vô tình nó đã là rào cản cho quá trình lao động.
TiÓu luËn triÕt häc
Tính năng động tích cực trong lao động còn thấp, tâm lý thụ động, trông
chờ, thói bình quân chủ nghĩa còn khá rõ rệt. Do đất nước ta trải qua một
thời gian dài của nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung bao cấp nên tư tưởng đó
đã ăn sâu vào một bộ phận người lao động rất khó thay đổi.
Chủ nghĩa thực dụng cá nhân ích kỷ, lối sống phi giá trị truyền thống
dân tộc của bộ phận nhân dân đang có xu hướng gia tăng. Trong quá trình
đổi mới đất nước, chúng ta tiến hành mở cửa đổi mới đất nước, một dòng
văn hoá phương tây đã du nhập vào nước ta. Tính ích kỷ, lợi ích cá nhân đã
lên ngôi làm tha hoá người dân kém hiểu biết. Đây là một lối suy nghĩ rất có
hại nếu như chúng ta không chấn chỉnh kịp thời.
Có thể nói, vốn nhân lực là điểm mạnh của nước ta trong thời điểm hiện
nay. Nếu chúng ta biết cách sử dụng và phát huy một cách hợp lý, điều đó sẽ
mang lại lợi ích rất lớn cho quá trình phát triển kinh tế.
TiÓu luËn triÕt häc
II. THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP CỦA VẤN ĐỀ PHÁT TRIỂN
NGUỒN NHÂN LỰC Ở NỨƠC TA HIỆN NAY.
1. Thực trạng.
1.1. Sơ lược về tình hình kinh tế – xã hội Việt Nam hiện nay.
Sau khi nước ta giành được chính quyền, chúng ta đã đi vào công cuộc
xây dựng và kiến thiết lại nước nhà. Sau một thời gian dài vấp phải một số
sai lầm trong đường lối phát triển kinh tế chúng ta đã tiến hành đổi mới
(1986) và đã thu được một số thành tựu nhất định:
Tốc độ tăng trưởng kinh tế luôn ở mức cao và được duy trì ổn định qua
nhiều năm (hàng năm tốc độ đều trên 7%), tỷ lệ lạm phát luôn được duy trì ở
mức một con số.
Khối lượng GDP không ngừng được gia tăng, cơ cấu GDP ngày càng đa
dạng và hoàn thiện. Trong các ngành luôn có sự đầu tư mạnh mẽ để hướng
đến xuất khẩu.
Tình hình thu hút vốn đầu tư nước ngoài đang được xúc tiến mạnh mẽ,
các cơ quan của chính phủ cũng như các địa phương ngày càng hoàn thiện
về chính sách, pháp luật, cơ chế ưu đãi để thu hút vốn đầu tư về địa phương
mình. Đầu tư nước ngoài đang chiếm một tỷ trọng khá cao trong cơ cấu
GDP, nó góp phần giải quyết việc làm trong nước đồng thời đưa các tiến bộ
khoa học kỹ thuật mới vào nước ta.
Do thành tựu của công cuộc phát triển kinh tế mang lại, đời sống nhân
dân ta ngày càng được cải thiện, sức khoẻ, trí tuệ của người lao động ngày
càng được nâng cao đáp ứng đầy đủ nhu cầu về vật chất, tinh thần.
1.2. Thực trạng của quá trình sử dụng và phát triển nguồn nhân lực của nước
ta hiện nay.
TiÓu luËn triÕt häc
1.2.1. Tình hình phát triển dân số hiện nay.
Nước ta là một nước có cơ cấu dân số trẻ (số người trong độ tuổi lao
động chiếm 56%, dưới độ tuổi lao động là 34%). Với mức kết cấu lao động
như vậy nước ta hàng năm đều có nguồn nhân lực dồi dào tuy nhiên trình độ
và chất lượng của nguồn nhân lực trên lại không cao, chỉ có 20% lao động
đã được qua đào tạo.
Ngoài chất lượng lao động còn thấp, chúng ta còn vấp phải sự gia tăng
dân số tương đối cao. Do tư duy cũ chậm đổi mới, trọng nam khinh nữ mà
vấn đề sinh đẻ theo kế hoạch vẫn bị xem nhẹ. Vào những năm đầu của thập
niên 90 chính sách hạn chế gia tăng dân số bước đầu đã mang lại một số kết
quả nhất định, tuy nhiên những năm gần đây do có một số sai lầm trong
chính sách mà tình hình tăng trưởng dân số lại quay trở lại ở mức cao (trên
10%). Đi liền với vấn đề gia tăng dân số là gánh nặng về dân số. Do tốc độ
gia tăng của dân số thường vượt quá tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế nên
vô tình dân số lại là gánh nặng cho phát triển kinh tế. Nước ta còn 10% hộ
gia đình thuộc dạng đói nghèo mà chủ yếu là do đông con từ đó dẫn tới sự
quá tải trong việc sử dụng các dịch vụ y tế, công cộng, giáo dục không đáp
ứng đủ nhu cầu. Qua đó đã gây ra một số hậu quả không tốt cho quá trình
xây dựng và phát triển một bộ phận người lao động.
1.2.2. Chất lượng nguồn lao động của nước ta hiện nay.
Tuy số lượng dân số nước ta dồi dào nhưng chất lượng dân số của nước
ta đang ở mức đáng lo ngại.
Từ những kết quả bước đầu của quá trình đổi mới kinh tế chất lượng
cuộc sống của nhân dân ta ngày càng được cải thiện. Trẻ em được chăm sóc
ngay từ ban đầu với các ưu đãi về dịch vụ y tế như dinh dưỡng, tiêm chủng
miễn phí… nhằm có được một thế hệ tương lai khoẻ mạnh.
TiÓu luËn triÕt häc
Ngay từ khi giành được độc lập năm 1945, Bác đã coi giặc đói và giặc
dốt là hai thứ giặc nguy hiểm cần phải tiêu diệt, tiếp bước các phong trào
bình dân học vụ, xoá nạn mù chữ, phổ cập tiểu học. Dân số nước ta có tới
96% là biết đọc biết viết, tỷ lệ tốt nghiệp trung học phổ thông, trung học
chuyên nghiệp, cao đẳng và đại học ngày càng gia tăng.
Tuy chất lượng của nguồn nhân lực đã được cải thiện rõ rệt so với các
thời kỳ trước nhưng nếu so với yêu cầu của đất nước hiện nay thì điều đó
vẫn chưa đáp ứng đúng nhu cầu: thể trạng của người Việt Nam đã được nâng
cao nhưng so với mặt bằng chung của thế giới và khu vực ta vẫn chưa đáp
ứng được. Theo các báo cáo, chúng ta đã hoàn thành phổ cập ở bậc tiểu học
tuy nhiên ở một số bộ phận điều đó chỉ là tình trạng chạy theo thành tích vấn
đề tái mù chữ vẫn tiếp tục gia tăng. Cơ cấu đào tạo nghề vẫn còn nhiều bất
cập, tỷ lệ tốt nghiệp đại học còn dưới mức 0,1%. Tình trạng học đại học theo
ngành có thu nhập cao đang có xu hướng gia tăng không ngừng, các trường
đại học được mở tràn lan, người người đua nhau vào đại học, trong khi đó
vấn đề đào tạo nghề, đạo tạo người công nhân lại không được coi trọng. Từ
đó dẫn tới tình trạng thừa thày, thiếu thợ vẫn còn phổ biến.
1.2.3. Tình hình sử dụng nguồn nhân lực ở nước ta hiện nay.
Trong quá trình đổi mới đất nước cơ cấu ngành nước ta ngày càng đa
dạng và hoàn thiện. Nhiều ngành mới được mọc lên đáp ứng được phần nào
nhu cầu của người lao động.
Tuy nhiên cơ cấu lao động trong các ngành lại không hợp lý: tỷ trọng
lao động trong ngành nông nghiệp chiếm tới 80%, trong các ngành công
nghiệp và dịch vụ chưa tới 20%. Tình trạng lao động nhàn rỗi theo thời vụ
vẫn còn phổ biến, hiệu quả công việc ở nước ta còn rất thấp nhất là trong
nông nghiệp và tong khối kinh tế nhà nước, hành chính sự nghiệp.
TiÓu luËn triÕt häc
Trong lĩnh vực công nghiệp, lao động nước ta chủ yếu còn là lao động
giản đơn, lao động chân tay là chính, thiếu những lao động kỹ thuật cao. Các
khu vực đầu tư nước ngoài, xuất khẩu lao động chủ yếu tập trung vào các
ngành đòi hỏi nhiều lao động chân tay để sử dụng chế biến các nguyên liệu
thô sơ chế, ít đi vào những ngành có hàm lượng chất xám cao.
1.2.4. Các chính sách nhà nước về phát triển nguồn nhân lực hiện nay.
Nhà nước ta rất chú trọng đến các chính sách đào tạo và phát triển
nguồn nhân lực hiện tại. Ngay từ buổi ban đầu khi còn là trẻ sơ sinh đã được
hưởng các dịch vụ y tế công cộng để đảm bảo sức khỏe, phổ cập giáo dục
được tiến hành rộng rãi. Những nơi gặp khó khăn về lao động có trình độ
nhà nước thường tài trợ cho người bản xứ đi học tập để về phục vụ địa
phương. Một số ngành nghề mang tính chất mũi nhọn luôn được nhà nước
khuyến khích đầu tư trên diện rộng. Song song với quá trình đào tạo nguồn
nhân lực là quá trình đào tạo việc làm. Nhiều công ty nhà nước được mở ra,
nhiều loại hình sản xuất kinh doanh được nhà nước khuyến khích phát triển
chỉ nhằm mục tiêu duy nhất là công ăn việc làm cho nhân dân.
Tuy các chính sách đào tạo và phát triển nguồn nhân lực liên tục được
ban ra giúp ích cho xã hội thì nó vẫn bao hàm nhiều bất cập. Chính sách đầu
tư rất dàn trải, đôi khi những người thực hiện thiếu hiểu biết, tinh thần trách
nhiệm thường đem lại kết quả không như mong muốn. Chúng ta thường có
các chính sách mang tính chất “bóc ngắn cắn dài”, thiếu hẳn quá trình đồng
bộ đi theo chiều sâu để có một chiến lược toàn diện, lâu dài và bền vững.
1.2.5. Thực trạng của quá trình giáo dục và đào tạo nghề hiện nay.
Xét trên bình diện về chiều rộng hiện nay thì nền giáo dục nước ta đã
có những kết quả hết sức to lớn. Bậc tiểu học đã được phổ cập hầu hết trong
cả nước, chúng ta đang tiếp tục hướng tới phổ cập trung học cơ sở và phổ
thông trung học. Cả nứơc hiện nay có 200 trường đại học và cao đẳng, 436

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét