Thứ Tư, 26 tháng 2, 2014

Mối quan hệ giữa lãi suất tiền vay, tỷ suất lợi nhuận vốn đầu tư và qui mô vốn đầu tư. Vận dụng để giải thích tình hình đầu tư hiện nay ở Việt Nam

Mối quan hệ giữa lãi suất tiền vay, tỷ suất lợi nhuận vốn đầu tư và qui mô vốn đầu tư. Vận dụng
để giải thích tình hình đầu tư ở Việt Nam hiện nay.
Chương I . Lý luận chung về mối quan hệ giữa lãi suất tiền vay, tỷ
suất lợi nhuận và qui mô vốn đầu tư.
A. Lý luận chung về lãi suất tiền vay, tỷ suất lợi nhuận và qui mô vốn đầu tư
I. Lãi suất
1. Khái niệm và vai trò của lãi suất
1.1. Khái niệm
Lãi suất được hiểu theo nghĩa chung nhất là giá cả của vốn – giá cả của quan hệ vay
mượn hoặc cho thuê những dịch vụ về vốn dưới hình thức tiền tệ hoặc các dạng thức tài sản
khác nhau. Khi đến hạn, người đi vay sẽ phải trả cho người cho vay một khoản tiền dôi ra
ngoài số tiền vốn gọi là tiền lãi. Tỷ lệ phần trăm của số tiền lãi trên số vốn gọi là lãi suất.
1.2. Vai trò của lãi suất
Ở tầm kinh tế vi mô, lãi suất là cơ sở để cho các cá nhân cũng như các doanh
nghiệp đưa ra các quyết định kinh tế của mình như: chi tiêu hay để dành gửi tiết kiệm, đầu
tư số vốn tích lũy được vào danh mục đầu tư khác,…
Ở tầm kinh tế vĩ mô, lãi suất lại là một công cụ điều tiết cho vay kinh tế rất nhạy
bén và hiệu quả: thông qua việc thay đổi mức và cơ cấu lãi suất trong từng thời kỳ nhất
định, chính phủ có thể tác động đến quy mô và tỷ trọng các loại vốn đầu tư, do vậy mà có
thể tác động đến quá trình điều chỉnh cơ cấu, đến tốc độ tăng trưởng, sản lượng, tỷ lệ thất
nghiệp và tình trạng lạm phát trong nước.
Hơn thế nữa, trong những điều kiện nhất định của nền kinh tế mở, chính sách lãi
suất còn được sử dụng như là một công cụ góp phần điều tiết đối với các luồng vốn đi vào
hay đi ra đối với một nước, tác động đến tỷ giá và điều tiết sự ổn định của tỷ giá. Điều này
không những tác động trực tiếp đến đầu tư phát triển kinh tế mà còn tác động đến cán cân
thanh toán và các quan hệ thương mại quốc tế của nước đó đối với nước ngoài.
2. Phân loại lãi suất
2.1.Phân loại theo nguồn sử dụng
- Lãi suất huy động: là loại lãi suất quy định tỉ lệ lãi phải trả cho các hình thức nhận tiền
gửi của khách hàng.
- Lãi suất cho vay: là loại lãi suất quy định tỷ lệ lãi mà người đi vay phải trả cho người
cho vay. Về mặt lý thuyết, các mức lãi suất cho vay khác nhau được căn cứ vào tỷ suất lợi
nhuận bình quân của đối tượng đầu tư và thời hạn cho vay. Tuy nhiên với ý nghĩa là một
Nhóm 9 - Kinh tế Đầu tư 48A 5
Mối quan hệ giữa lãi suất tiền vay, tỷ suất lợi nhuận vốn đầu tư và qui mô vốn đầu tư. Vận dụng
để giải thích tình hình đầu tư ở Việt Nam hiện nay.
công cụ điều tiêt vĩ mô nền kinh tế, điều đó không phải bao giờ cũng đúng, vì nó còn tùy
thuộc vào mục tiêu chính trị, xã hội của mỗi quốc gia trong từng thời kỳ.
Thông thường, lãi suất cho vay và lãi suất huy động có mối quan hệ được xác định
như sau:
Lãi suất Lãi suất Rủi ro
cho vay = huy động + Chi phí + tối thiểu + Lợi nhuận
Trong nội dung đề tài này, chúng tôi xin đề cập đến lãi suất dưới góc độ lãi suất cho
vay đặt trong mối quan hệ với tỷ suất lợi nhuận vốn đầu tư và qui mô vốn đầu tư.
3.2.Phân loại theo giá trị thực:
- Lãi suất danh nghĩa: là loại lãi suất được xác định cho mỗi kỳ hạn gửi hoặc vay, thể hiện
trên quy ước giấy tờ được thoả thuận trước.
- Lãi suất thực: là loại lãi suất xác định giá trị thực của các khoản lãi được trả hoặc thu
được.
Lãi suất Lãi suất Tỷ lệ
thực = danh nghĩa - lạm phát
Sự phân biệt giữa lãi suất thực và lãi suất danh nghĩa có ý nghĩa rất quan trọng, đối
với người có tiền, nhờ đoán biết được lãi suất thực mà họ quyết định nên gửi tiền vào ngân
hàng hay mang đi kinh doanh trực tiếp. Đối với người cần vốn, nếu dự đoán được tương lai
có lạm phát và trong suốt thời gian đó lãi suất cho vay không đổi hoặc có tăng nhưng tốc độ
tăng không bằng lạm phát tăng thì họ có thể yên tâm vay để kinh doanh mà không sợ lỗ vì
trượt giá khi trả nợ.
2.3.Phân loại theo phương pháp tính lãi
- Lãi suất đơn: là tỷ lệ theo năm, tháng, ngày của số tiền lãi so với số tiền vay ban đầu
không gộp lãi vào tiền vay ban đầu để tính lãi thời hạn kế tiếp.
Lãi suất đơn = số tiền lãi / số tiền gốc * 100%
- Lãi suất kép: là tỷ lệ theo năm, tháng, ngày của số tiền lãi so với số tiền vay, số tiền vay
này tăng lên do có gộp lãi qua từng thời kỳ cho vay (lãi mẹ đẻ lãi con).
Công thức:
I = ( 1+i)^1/t – 1
I : lãi suất tại thời điểm t
i: lãi suất đơn hàng năm
t: chu kỳ tính lãi suất
Nhóm 9 - Kinh tế Đầu tư 48A 6
Mối quan hệ giữa lãi suất tiền vay, tỷ suất lợi nhuận vốn đầu tư và qui mô vốn đầu tư. Vận dụng
để giải thích tình hình đầu tư ở Việt Nam hiện nay.
2.4.Phân loại theo loại tiền
- Lãi suất nội tệ: là loại lãi suất áp dụng để tính toán cho đồng nội tệ (kể cả lãi suất huy
động và lãi suất cho vay).
- Lãi suất ngoại tệ: là lãi suất tính toán áp dụng cho đồng ngoại tệ.
2.5.Phân loại theo độ dài thời gian:
- Lãi suất ngắn hạn: là loại lãi suất áp dụng cho các khoản huy động và khoản vay ngắn
hạn, có thời hạn dưới 1 năm.
- Lãi suất trung hạn: là loại lãi suất áp dụng cho các khoản huy động và khoản vay có thời
hạn từ 1 năm đến 5 năm.
- Lãi suất dài hạn: là loại lãi suất áp dụng cho các khoản huy động và khoản cho vay có
thời hạn trên 5 năm.
3.Các yếu tố ảnh hưởng đến lãi suất
3.1. Cung cầu các quĩ cho vay
Lãi suất là giá cả của tín dụng, do vậy, bất kì sự thay đổi nào của cung cầu quĩ cho
vay không cùng một tỷ lệ đều sẽ làm thay đổi lãi suất trên thị trường.
Tuy nhiên, mức độ biến động của lãi suất ít nhiều còn phụ thuộc vào các quyết định
của chính phủ và NHTW. Điều đó cho thấy, chúng ta có thể tác động vào cung hay cầu vốn
để thay đổi lãi suất trong nền kinh tế cho phù hợp với mục tiêu chiến lược từng thời kì.
3.2.Lạm phát kì vọng
Khi lạm phát tăng, dù ở từng mức lãi suất riêng lẻ hay ở tất cả mọi lãi suất, yếu tố
kích thích làm tăng cung quỹ cho vay gần như triệt tiêu bởi giá trị thực tế của vốn gốc và
tiền lời thu được đã bị hao mòn do tác động của lạm phát.Theo Friedman, ông cho rằng
trong mọi trường hợp tỷ lệ lạm phát của một nước là cực kỳ cao trong bất cứ thời kỳ kéo
dài nào, thì tỷ lệ tăng trưởng của cung ứng tiền tệ là cực kỳ cao.
Nhóm 9 - Kinh tế Đầu tư 48A 7
Mối quan hệ giữa lãi suất tiền vay, tỷ suất lợi nhuận vốn đầu tư và qui mô vốn đầu tư. Vận dụng
để giải thích tình hình đầu tư ở Việt Nam hiện nay.
Hình 1: Ảnh hưởng của lạm phát đến lãi suất
Tóm lại, khi lạm phát dự tính tăng, lãi suất tăng. Điều này có một ý nghĩa quan
trọng trong việc dự đoán lãi suất khi nền kinh tế có xu hướng lạm phát tăng.Trên cơ sở đó,
có một chính sách lãi suất hợp lý. Khi lạm phát cao, nhà nước cần phải nâng lãi suất danh
nghĩa, đảm bảo cho lãi suất thực dương, hoặc nhà nước tung vàng, ngoại tệ ra bán để kiềm
chế lạm phát. Nhiều nhà kinh tế đã khuyến nghị rằng cuộc chiến chống lạm phát nhất định
sẽ thất bại nếu chúng ta muốn hạ thấp lãi suất.
3.3. Bội chi ngân sách
Bội chi ngân sách của NHTW sẽ trực tiếp làm cho cầu của quĩ cho vay tăng làm
tăng lãi suất.
Bội chi ngân sách cũng tác động đến tâm lý dân chúng về mức gia tăng lạm phát
gây ra áp lực làm tăng lạm phát.
Về phía Chính phủ, khi bội chi NSNN thì Chính phủ thường gia tăng phát hành trái
phiếy làm cung trái phiếu trên thị trường tăng, giá trị trái phiếu có xu hướng giảm xuống.
Chính điều này đã làm cho lãi suất trên thị trường tăng lên.
Về phía các NHTM, tài sản có của họ tăng ở mục trái phiếu Chính phủ, dự trữ vượt
quá của họ bị giảm. Do đó, lãi suất ngân hàng tăng lên.
3.4. Những thay đổi về thuế
Thuế thu nhập cá nhân và thuế lợi tức công ty luôn tác động đến lãi suất giống như
khi thuế tác động đến giá cả hàng hóa.
Đối với các doanh nghiệp, thuế thu nhập cá nhân và thuế thu nhập doanh nghiệp
luôn tác động đến lợi nhuận của họ. Cho nên nếu các hình thức thuế này tăng lên cũng có
Nhóm 9 - Kinh tế Đầu tư 48A 8
Mối quan hệ giữa lãi suất tiền vay, tỷ suất lợi nhuận vốn đầu tư và qui mô vốn đầu tư. Vận dụng
để giải thích tình hình đầu tư ở Việt Nam hiện nay.
nghĩa là nó sẽ điều tiết bớt một phần thu nhập của cá nhân doanh nghiệp làm nhiệm vụ kinh
doanh tiền tệ, kinh doanh chứng khóan tức là các NHTM và các công ty Chứng khóan.
Thông thường, ai cũng quan tâm đến thu nhập thực tế hơn thu nhập danh nghĩa thì
đương nhiên các tổ chức kinh doanh chứng khóan phải cộng thêm vào lãi suất cho vay
những sự thay đổi về thuế làm lãi suất tăng lên.
3.5. Những thay đổi trong đời sống xã hội
Ngoài những yếu tố kể trên, sự thay đổi của lãi suất còn chịu tác động của những sự
thay đổi trong đời sống xã hội. Ví dụ như sự phát triển của thị trường tài chính với các công
cụ tài chính đa dạng.
Thêm nữa, tình hình về kinh tế, chính trị của cũng như những biến động tài chính
quốc tế như các cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ trên thế giới, các luồng vốn đầu tư ra
vào đối các nước đều ít nhiều tác động đến sự thay đổi lãi suất của các nước khác.
Tất cả các vấn đề này đều gợi ý cho tất cả những nghiên cứu, soạn thảo và điều
hành về chính sách lãi suất phải có sự nhìn nhận và đánh giá một cách tổng thể trước khi
đưa ra bất kì kết luận hoặc quyết định nào đến lãi suất.
II.Tỷ suất lợi nhuận vốn đầu tư ( RR- RATE OF RETURN)
1.Khái niệm, phân loại
1.1. Lợi nhuận thuần.
Xét trên góc độ đầu tư, chỉ tiêu lợi nhuận thuần ( W – Worth) được tính cho từng
năm hay cho cả đời dự án và bình quân năm của đời dự án.
Lợi nhuận thuần từng năm ( W
i
) được xác định như sau:
W
i
= O
i
- C
i
Trong đó:
O
i
: Doanh thu thuần năm i.
C
i
: Các chi phí năm i bao gồm tất cả các khoản phí có liên quan tới sản xuất, kinh doanh
năm i: chi phí sản xuất, chi phí tiêu thụ sản phẩm, chi phí khấu hao, chi phí thuê tài sản,
thuế thu nhập doanh nghiệp….
Lợi nhuận giữ 1 vị trí quan trọng trong hoạt động tài chính doanh nghiệp, nó quyết
định sống còn của bất kỳ doanh nghiệp nào. Vì vậy mà lợi nhuận là một trong những chỉ tiêu
quan trọng nhất để đánh giá chất lượng hoạt động kinh doanh. Trước tiên nó là cái mà bất
Nhóm 9 - Kinh tế Đầu tư 48A 9
Mối quan hệ giữa lãi suất tiền vay, tỷ suất lợi nhuận vốn đầu tư và qui mô vốn đầu tư. Vận dụng
để giải thích tình hình đầu tư ở Việt Nam hiện nay.
kỳ ông chủ doanh nghiệp nào cũng quan tâm, ẩn sau đó là động cơ để bất kỳ nhà đầu tư nào
bỏ tiền đầu tư.
Tuy vậy không thể coi lợi nhuận là chỉ tiêu duy nhất để đánh giá chất lượng hoạt
động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp khác nhau vì:
- Do điều kiện sản xuất kinh doanh, điều kiện vận chuyển, thị trường tiêu thụ cùa các
doanh nghiệp khác nhau dẫn đến lợi nhuận cũng khác nhau.
- Các doanh nghiệp cùng loại nếu quy mô sản xuất khác nhau thì lợi nhuận thu được cũng
khác nhau. Ở những doanh nghiệp lớn được đầu tư lớn hơn nhưng do hoạt động sản xuất,
quản lý kém, nhưng số lợi nhuận thu được vẫn có thể lớn hơn những doanh nghiệp quy mô
nhỏ dù hoạt động tốt. Cho nên để đánh giá một cách đúng đắn chất lượng hoạt động sản
xuất kinh doanh của doanh nghiệp ngoài chỉ tiêu lợi nhuận tuyệt đối người ta còn sử dụng
chỉ tiêu tương đối là tỷ suất lợi nhuận.
1.2 . Tỷ suất lợi nhuận
Có nhiều cách xác định tỷ suất lợi nhuận, mỗi loại lại có nội dung khác nhau, sau
đây là một số cách phân loại và tính tỷ suất lợi nhuận:
- Tỷ suất lợi nhuận trên vốn : là quan hệ tỷ lệ giữa số lợi nhuận (trước thuế hoặc sau thuế)
thu được từ hoạt động sản xuất kinh doanh, hoạt động tài chính, các hoạt động khác với số
vốn sử dụng bình quân trong kỳ ( thường là 1 năm).
Chỉ tiêu này phản ánh lợi nhuận thu được hàng năm tính trên 1 đồng vốn bỏ ra.
Trong đó ta đặc biệt quan tâm tới tỷ suất lợi nhuận vốn đầu tư, phần này sẽ được trình bày
cụ thể ở sau.
- Tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu: là quan hệ tỷ lệ giữa lợi nhuận (trước thuế hoặc sau
thuế) thu được từ hoạt động sản xuất kinh doanh, hoạt động tài chính, các hoạt động khác
với tổng doanh thu thuần thu về.
Chỉ tiêu này phản ánh: mức lợi nhuận thu được trên 1 đồng doanh thu.
- Tỷ suất lợi nhuận trên giá thành: là quan hệ tỷ lệ giữa lợi nhuận trước thuế hoặc sau thuế
của sản phẩm tiêu thụ so với giá thành của toàn bộ sản phẩm hàng hóa tiêu thụ.
- Ngoài ra còn có 1 số chỉ tiêu khác như:
+Tỷ suất lợi nhuận trên tài sản ngắn hạn
+Tỷ suất lợi nhuận trên tài sản dài hạn
+Tỷ suất lợi nhuận trên tổng tài sản
+Tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu.
Nhóm 9 - Kinh tế Đầu tư 48A 10
Mối quan hệ giữa lãi suất tiền vay, tỷ suất lợi nhuận vốn đầu tư và qui mô vốn đầu tư. Vận dụng
để giải thích tình hình đầu tư ở Việt Nam hiện nay.
2. Tỷ suất lợi nhuận vốn đầu tư (RR – Rate Of Return)
Chỉ tiêu này phản ánh mức lợi nhuận thuần tính cho từng năm hoặc tính cho cả đời
dự án thu được từ 1 đơn vị vốn đầu tư phát huy tác dụng.
* Nếu tính cho từng năm:
W
ipv
RR
i
=
I
VO
Trong đó:
RR
i
: Tỷ suất lợi nhuận vốn đầu tư năm i.
W
ipv
: lợi nhuận thuần năm i tính đến thời điểm dự án bắt đầu đi vào hoạt động
I
VO
: Vốn đầu tư tính tại thời điểm dự án đi vào hoạt động.
Dựa vào RR
i
từng năm mà ta co thể so sánh giữa các năm và thấy được sự khác biệt
này ở các dự án khác nhau.
* Nếu tính bình quân năm của cả đời dự án:
W
RR =
I
VO
Trong đó:
W : Lợi nhuận thuần bình quân năm của đời dự án theo mặt bằng hiện tại.
Tuy nhiên trong thực tế để cho dễ tính ta có thể lấy lợi nhuận thuần của 1 năm hoạt động ở
mức trung bình trong đời dự án thay cho lợi nhuận thuần bình quân năm của đời dự án.
* Khi tính cho cả đời dự án, chỉ tiêu này lại phản ánh mức thu nhập thuần tính trên 1 đơn vị
vốn đầu tư.
Tỷ suất lợi nhuận vốn đầu tư là một trong những chỉ tiêu hết sức quan trọng để nhà
đầu tư đưa ra lựa chọn quyết định đầu tư vào dự án nào. Nó phản ánh tốc độ thu hồi vốn,
nếu tỷ suất lợi nhuận càng cao càng chứng tỏ khả năng thu hồi vốn càng nhanh và sau đó là
lợi nhuận dư ra càng cao. Nếu cùng vốn đầu tư như nhau thì những dự án có tỷ suất lợi
nhuận càng lớn càng thu hút được sự quan tâm của nhà đầu tư, bởi nó hàm chứa lợi nhuận
càng cao - đó là mục đích cuối cùng của nhà đầu tư.
Tuy nhiên chỉ dựa vào tỷ suất lợi nhuận thôi chưa đủ, nhà đầu tư quyết định đầu tư
dựa trên hiệu quả biên của vốn ( tỷ suất lợi nhuận biên vốn đầu tư).
Nhóm 9 - Kinh tế Đầu tư 48A 11
Mối quan hệ giữa lãi suất tiền vay, tỷ suất lợi nhuận vốn đầu tư và qui mô vốn đầu tư. Vận dụng
để giải thích tình hình đầu tư ở Việt Nam hiện nay.
Tỷ suất lợi nhuận biên vốn đầu tư phản ánh lợi nhuận tăng thêm khi gia tăng thêm
1 đơn vị vốn đầu tư. Điều đáng nói ở đây là tỷ suất lợi nhuận biên vốn đầu tư giảm dần theo
quy mô vốn đầu tư.
Dễ thấy để có được 1 đơn vị vốn đầu tư gia tăng đó nhà đầu tư phải đi vay, phải trả
lãi suất cho vay (nếu bản thân vốn tự có thì đó là chi phí cơ hội của đồng vốn đó) và nó
chính là giá của vốn vay. Do vậy nhà đầu tư sẽ tiếp tục đầu tư thêm vốn tới khi hiệu quả
biên của vốn còn lớn hơn giá của vốn vay.
3.Các nhân tố ảnh hưởng đến tỷ suất lợi nhuận
3.1.Lợi nhuận thuần
Dựa vào công thức dễ dàng nhận thấy ảnh hưởng của lợi nhuận thuần tới tỷ suất lợi
nhuận. Với cùng một số vốn đầu tư như nhau, dự án nào càng thu về nhiều lợi nhuận thuần
càng chứng tỏ tỷ suất lợi nhuận cao, và dự án càng trở nên hấp dẫn.
Lợi nhuận thuần là một chỉ tiêu phản ánh kết quả hoạt động kinh doanh, ngoài sự
hoạt động tốt hay xấu, doanh thu thu được nhiều hay ít, lợi nhuận thuần bị phụ thuộc không
nhỏ vào các yếu tố khác như: lãi suất, chính sách thuế, đặc biệt là thuế thu nhập doanh
nghiệp, các khoản hỗ trợ…
Trong đó ta đặc biệt nghiên cứu ảnh hưởng của lãi suất tiền vay: với bất kỳ khoản
vay nào đều phải trả chi phí của nó đó là lãi suất cho vay, do đó khi tăng lãi suất cho vay
đồng nghĩa với chi phí về vốn tăng dẫn đến lợi nhuận thuần giảm, và ngược lại.
+ Khi lãi suất tăng, chi phí vốn lớn. Điều này sẽ làm lợi nhuận thuần giảm.
+ Khi lãi suất giảm, chi phí vốn giảm. Điều này sẽ làm lợi nhuận thuần tăng.
3.2.Vốn đầu tư
Vốn đầu tư tác động đến tỷ suất lợi nhuận vốn đầu tư không chỉ đơn thuần theo
công thức đã trình bày ở trên mà nó còn thể hiện ở chỗ:
Khi gia tăng quy mô vốn đầu tư, đồng nghĩa với cầu vốn đầu tư tăng, tất yếu dẫn
đến lãi suất cho vay hay chi phí vốn vay tăng ( do dịch chuyển đường cầu) do đó lợi nhuận
thuần thu được sẽ giảm, tất yếu tỷ suất lợi nhuận giảm. Chúng ta sẽ xem xét cụ thể vấn đề
này ở phần sau.
III.Qui mô vốn đầu tư
1.Khái niệm vốn đầu tư
- Vốn đầu tư
Nhóm 9 - Kinh tế Đầu tư 48A 12
Mối quan hệ giữa lãi suất tiền vay, tỷ suất lợi nhuận vốn đầu tư và qui mô vốn đầu tư. Vận dụng
để giải thích tình hình đầu tư ở Việt Nam hiện nay.
"Capital - vốn ( tư bản): một từ dùng để chỉ một yếu tố sản xuất do hệ thống kinh
tế tạo ra. Hàng hoá tư liệu vốn là hàng hoá được sản xuất để sử dụng như yếu tố đầu vào
cho quá trình sản xuất sau. Vì vậy, tư bản này có thể phân biệt được với đất đai và sức lao
động, những thứ không được coi là do hệ thống kinh tế tạo ra. Do bản chất không đồng
nhất của nó mà sự đo lường tư bản trở thành nguyên nhân của nhiều cuộc tranh cãi trong lý
thuyết kinh tế." (Từ điển kinh tế học hiện đại, NXB Chính trị quốc gia - Hà Nội, 1999, Tr.
129).
Theo cấu trúc giá trị của hàng hoá:
Vốn đầu tư phát triển là một bộ phận cơ bản của vốn nói chung. Trên phương diện
nền kinh tế, vốn đầu tư phát triển là biểu hiện bằng tiền toàn bộ những chi phí đã chi ra để
tạo ra năng lực sản xuất (tăng thêm tài sản cố định và tài sản lưu động).
Theo Luật Đầu tư năm 2005, vốn đầu tư là tiền và các tài sản hợp pháp khác để thực hiện
các hoạt động đầu tư theo hình thức đầu tư trực tiếp hoặc đầu tư gián tiếp.
- Qui mô vốn đầu tư
Trong hoạt động kinh tế, quy mô vốn đầu tư là một chỉ tiêu phản ánh tốc độ tăng
trưởng và sức mạnh của từng doanh nghiệp và của cả nền kinh tế.
Qui mô vốn đầu tư trong một thời kì nhất định được biểu hiện bằng đơn vị giá trị
thông qua lượng tiền đầu tư vào hoạt động sản xuất kinh doanh ( bao gồm tài sản cố định
và lưu động ).
2. Đặc trưng của vốn đầu tư
- Vốn đại diện cho một lượng giá trị tài sản. Vốn được biểu hiện bằng giá trị của những tài
sản hữu hình và vô hình.
- Vốn phải vận động sinh lời. Để biến tiền thành vốn thì tiền phải thay đổi hình thái biểu
hiện, vận động và có khả năng sinh lời.
- Vốn cần được tích tụ và tập trung đến một mức nhất định mới có thể phát huy tác dụng.
- Vốn phải gắn với chủ sở hữu. Khi xác định rõ chủ sở hữu, đồng vốn sẽ được sử dụng
hiệu quả.
- Vốn có giá trị về mặt thời gian. Vốn luôn vận động sinh lời và giá trị của vốn biến động
theo thời gian.
3. Nội dung cơ bản của vốn đầu tư phát triển
Nội dung cơ bản của vốn đầu tư phát triển trên phạm vi nền kinh tế bao gồm:
3.1. Vốn đầu tư xây dựng cơ bản
Nhóm 9 - Kinh tế Đầu tư 48A 13
Mối quan hệ giữa lãi suất tiền vay, tỷ suất lợi nhuận vốn đầu tư và qui mô vốn đầu tư. Vận dụng
để giải thích tình hình đầu tư ở Việt Nam hiện nay.
Vốn đầu tư xây dựng cơ bản là những chi phí bằng tiền để xây dựng mới, mở rộng,
xây dựng lại hoặc khôi phục năng lực sản xuất của tài sản cố định trong nền kinh tế quốc
dân.
Về thực chất vốn đầu tư xây dựng cơ bản chỉ bao gồm những chi phí làm tăng thêm
giá trị tài sản cố định. Như vậy, vốn đầu tư xây dựng cơ bản gồm 2 bộ phận hợp thành: vốn
đầu tư để mua sắm hoặc xây dựng mới TSCĐ mà ta quen gọi là vốn đầu tư xây dựng cơ
bản và chi phí cho sửa chữa lớn TSCĐ.
Về nội dung chỉ tiêu: vốn đầu tư xây dựng cơ bản và chi phí cho sửa chữa lớn
TSCĐ bao gồm: Chi phí cho việc thăm dò, khảo sát và quy hoạch xây dựng chuẩn bị cho
việc đầu tư; chi phí thiết kế công trình; chi phí xây dựng; chi phí mua sắm, lắp đặt máy
móc, thiết bị và những chi phí khác thuộc nguồn vốn đầu tư XDCB; chi phí cho việc sửa
chữa lớn nhà cửa, vật kiến trúc và máy móc thiết bị, sửa chữa lớn các TSCĐ khác.
Vốn đầu tư xây dựng cơ bản là một bộ phận của vốn đầu tư cơ bản được sử dụng để
xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật như đã nêu trên.
3.2. Vốn lưu động bổ sung
Vốn lưu động bổ sung bao gồm những khoản đầu tư làm tăng thêm tài sản lưu động
trong kỳ nghiên cứu của toàn xã hội. Đây là một nội dung phức tạp rất khó khăn trong việc
thu thập thông tin. Bởi lẽ, đối với khu vực kinh tế tư nhân người ta thường không ghi chép
những khoản đầu tư bổ sung cho vốn lưu động. Vì thế việc đánh giá mức độ đầu tư phát
triển hàng năm của từng địa phương và toàn quốc gặp rất nhiều khó khăn và tất nhiên
không thể tránh khỏi sai sót. Ngành Thống kê đã tiến hành điều tra mẫu để suy rộng cho
từng thành phần kinh tế. Song việc thu thập thông tin rất phức tạp, độ chính xác còn hạn
chế, nhất là khu vực kinh tế tư nhân mà đặc biệt là kinh tế hộ gia đình.
3.3. Vốn đầu tư phát triển khác
Vốn đầu tư phát triển khác bao gồm tất cả các khoản đầu tư của xã hội nhằm tăng
năng lực phát triển của xã hội. Sự phát triển của xã hội ngoài yếu tố làm tăng TSCĐ, TSLĐ
còn phải làm tăng nguồn lực khác như: nâng cao dân trí; hoàn thiện môi trường xã hội; cải
thiện môi trường sinh thái; hỗ trợ cho các chương trình phòng chống tệ nạn xã hội và các
chương trình phát triển khác. Như vậy, nội dung của "vốn đầu tư phát triển khác" rất phong
phú. Nó bao gồm tất cả các khoản đầu tư tăng thêm cho: vốn chi cho thăm dò, khảo sát,
thiết kế, qui hoạch ngành,qui hoạch lãnh thổ ;vốn chi cho việc thực hiện các chương trình
Nhóm 9 - Kinh tế Đầu tư 48A 14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét