Thứ Ba, 25 tháng 2, 2014

NHỮNG NÉT CHUNG VỀ NGƯỜI NÙNG

Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
- Văn hóa là cách sống.
1.2. Văn hóa là sự lựa chọn
1.3. “Con người là cái có sau tự nhiên. Văn hóa là cái có sau rốt”
2. Định nghĩa: (Nguyễn Từ Tri)
- Trần Ngọc Thêm trrong “Cơ sở văn hóa Việt Nam” có định nghĩa “Văn hóa
là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và
tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn trong sự tương tác giữa con người với
môi trường tự nhiên và xã hội”.
- “Văn hóa hôm nay có thể coi là tổng thể những nét riêng biệt tinh thần và
vật chất, trí tuệ và xúc cảm quyết định trách nhiệm của một xã hội hay của một
nhóm người trong xã hội. Văn hóa bao gồm nghệ thuật và văn chương, những lối
sống, những quyền cơ bản của con người, những hệ thống các giá trị, những tập tục
và những tín ngưỡng. Văn hóa đem lại cho con người khả năng suy xét về bản thân.
Chính văn hóa làm cho chúng ta trở thành những sinh vật đặc biệt nhân bản, có lí
tính, có óc phê phán và dẫn thân một cách đạo lý. Chính nhờ văn hóa mà con người
tự thể hiện, tự ý thức được bản thân, tự biết mình là một phương án chưa hoàn
thành đặt ra để xem xét những thành tựu của bản thân, tìm tòi không biết mệt mỏi ý
nghĩa mới mẻ và sáng tạo nên những công trình vượt trội lên bản thân.” (Định
nghĩa của Unesco).
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
PHẦN NỘI DUNG
I. Nhà ở
Nhà ở là công trình văn hoá, đồng thời là nơi hội tụ của gia đình và
đồng thời là nơi hội tụ của văn hoá dân tộc.
Vấn đề đầu tiên của đồng bào dân tộc quan tâm khi làm nhà là xem
tuổi làm nhà. Tuổi được làm nhà tốt nhất là tuổi của chồng hoặc trong những
đứa con của chủ nhà, thì cũng có thể làm nhà được. Người được tuổi làm nhà
phải đứng tên và có mặt trong thủ tục cần thiết và liên quan đến việc làm nhà
và những khâu quan trọng trong quá trình làm nhà như động thổ ( san nền ),
đặt móng (dựng cột ), đổ trần ( đặt thương lượng, lợp nhà ); Nếu vợ hoặc
chồng không được tuổi làm nhà thì những giờ động thổ, đặt móng và đổ trần,
người đó cần lánh mặt, đi làm việc khác.
Vấn đề chọn hướng nhà là vấn đề được quan tâm sau khi chọn được
tuổi làm nhà. Đồng bào có câu: “Đảy kin dòm mồ mả”, nghĩa là được ăn là
nhờ mồ mả, được yên ổn là nhờ đất làm nhà. Khi chọn hướng nhà, đồng bào
thường đặt thế nhà đó trong toàn cảnh thế đất và cảnh xung quanh, bao gồm
hướng phía trước nhà và thế đất ở hai bên sườn nhà, “điểm tựa” phía sau
nhà. Hướng nhà tốt là phải nhìn được xa ,phải có một đỉnh núi cao ở tầm xa
làm đích.
Ngôi nhà truyền thống tiêu biểu cho dân tộc là ngôi nhà sàn, lợp ngói
máng, dưới gầm sàn là chuồng gia cầm, thậm chí có cả gia súc.
Nguyên liệu để làm nhà là gỗ, tre,ngói, là những thứ mà có sẵn tại chỗ.
Trong ngôi nhà là cột, xà, kèo, hoành, cầu phong ly tô, đều là gỗ bị mọt ăn.
Cột, kèo, xà được làm bằng nhóm một. Phổ biến nhất là gỗ nghiến ,gỗ
đinh Bộ khung này được coi là “vĩnh cửu”- không mối, không mọt, không
mục, không ải. Hoành, cầu phong ly tô Nếu được gỗ nhóm một là lý tưởng
nhất, nhưng nhiều khi cũng phải chấp nhận gỗ nhóm ba, nhóm bốn, thậm chí
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
đến nhóm sáu, miễn là chúng không bị mối, mọt ăn.Tre làm nhà là tre già,
đảm bảo độ bền hàng chục năm.
Đồng bào Nùng không chỉ chú ý chọn gỗ, mà còn chọn thời điểm chặt
gỗ dể làm nhà. Theo quy luật sinh học, vào mùa thu, đông, tiết trời khô, các
loại cây đều có nhịp độ phát triển chậm, thân cây chứa ít nước, cây gỗ có độ
cứng tốt, độ dẻo cao. Hạ cây gỗ, tre vào mùa khô sẽ tránh được rất nhiều các
hiện tượng mối mọt Do tri thức được quy luật sinh học này đồng bào
thường hạ cây làm nhà vào mùa thu đông. Cần nói thêm rằng ,đây cũng là
mùa nông nhàn, mùa khô ráo, tiện cho việc đi rừng, không ảnh hưởng đến
sản xuất. Những cây gỗ to, hạ bằng búa, rìu,cưa to (“mạc tuồn”) , đôi khi
dùng cả lửa đốt cháy gốc. Sau khi hạ được một năm trở lên ,tức là đủ thời
gian cho cây khô nước, cho gỗ ổn định, chủ nhân mới tiến hành gia công
thành cột ,xà hay kèo Những thành phẩm này được chuyển về nhà bằng xe
trâu kéo .Những cây gỗ nhỏ hơn có thể dùng người khiêng vác hoặc mang về
nhà. Ngói được đồng bào sản xuất tại chỗ .
Kỹ thuật làm nhà của đồng bào Nùng là kỹ thuật thủ công, thông qua
các phương pháp cưa cắt, bào, đục lỗ, ghép mộng, chốt đinh gỗ và cột nhà kê
trên đá tảng.Dụng cụ để thi công là búa, rùi, dao cưa, đục, tràng, bào, khoan.
Về thiết kế mặt bằng, nhà đồng bào Nùng có chiều sâu lớn hơn chiều
rộng, theo công thức thông thường là 4x3 (tức là 4 sâu, 3 rộng). Về giá trị sử
dụng, nhà sàn người Nùng có 3 tầng sử dụng :
Tầng 1- Gầm sàn dành cho gia cầm, công cụ sản xuất, gia súc .
Tầng 2- Sàn dành cho người ở cùng các đồ dùng sinh hoạt .
Tầng 3- Gác, làm kho chứa lương thực và các thứ khác cần được bảo
quản nơi khô ráo .
Tầng1 là mặt đất,dưới gầm sàn người ở. Ở đây có chuồng gà, vịt, ngan,
ngỗng, có chuồng lợn và có thể có cả trâu bò ngựa. Có một số vùng, chuồng
gia súc và chuồng lợn được ở ngoài gầm sàn, cạnh nhà ở. Ngoài ra, tầng 1
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
cũng là nơi để các công cụ sản xuất như cày, bừa, cuốc, xẻng, thuổng,
“xoỏng”
Tầng 2 là sàn người ở. Sàn ở có thể được lát bằng ván tốt đối với nhà
khá giả, hoặc nát bằng tre đối với nhà nghèo. Nhà bình thường có 4 gian, có
hai cửa ra vào, cửa chính ở phía trước, cửa phụ ở phía sau, mở ở một góc
nhà. Cũng từ vị trí mở, nên đồng bào quen gọi là cửa trước, cửa sau.
Trên sàn nhà ở được chia thành những khu vực sinh hoạt khác nhau :
Ngăn 1/4 hai gian giữa ở phía bếp sau làm bếp nấu ăn và bếp nấu cám
lợn .
Một gian bên cạnh để thông suốt từ phía trước đến phía sau. Cửa sau
được mở ở gian này.Tính từ phía trước nhà đến phía sau nhà, gian này
thường có giường ngủ của chủ nhà, giường ngủ của con trai, tiếp nữa là cối
xay, cối giã gạo, cầu thang lên xuống gầm sàn và có thể để ít củi đun hàng
ngày .
Gian bên cạnh kia, cũng từ phía trước đến ngang với liếp làm ngăn
bếp. Ở gian giữa thường được bố trí như sau: Buồng đầu tiên là buồng để
bàn thờ, buồng thứ hai là buồng ngủ của vợ chủ nhà, buồng thứ ba là buồng
ngủ của con gái. Còn một khoảng trống ngang liếp ngăn bếp đến vách sau
của gian này là các thứ dụng cụ của nhà bếp .
Khu vực này liếp ngăn bếp đến cửa trước là nơi sinh hoạt chung của
gia đình, nơi tiếp khách, gia đình ăn cơm Vào những ngày mùa khẩn
trương, đây là nơi tập kết thóc, ngô, hồi để chở đem phơi khô sau đó đưa
lên bảo quản ở trên gác ( tầng 3) .
Tầng 3 là gác để lương thực thức ăn cả năm, để đỗ, lạc, đường phèn
Ngay trên gác bếp nấu ăn và bếp nấu cám lợn, đồng bào treo một gác
nhỏ bằng nan tre với diện tích khoảng 2m2. Trên gác bếp, đồng bào để các
thứ dùng hàng ngày và một số thứ cần hong khô thường xuyên như bao
diêm, đóm, măng khô, mộc nhĩ
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
Phía trước nhà ở là sàn để phơi. Sàn phơi thấp hơn sàn ở một chút và
được làm bên ngoài giọt gianh của mái nhà. Sàn ở được nối với sàn phơi
bằng một cầu rộng khoảng 2m .
Sàn phơi được nối bằng một thang rộng . Người vào nhà đi cửa trước,
phải lên thang sàn phơi rồi mới vào nhà .
Sàn phơi được sử dụng để phơi thóc, ngô, hồi, các loại đậu, đỗ
Những buổi chiều sàn là nơi nghỉ ngơi, hóng mát. Những ngày nắng mùa
đông, sàn là nơi chị em ngồi sưởi nắng ấm, tập may vá.
Phía sau nhà liền với cửa ra vào, là sàn để nước. Người nhà, khách
quen đi lên nhà thường đi cửa sau, qua sàn nước để còn rửa sạch chân trước
khi bước vào nhà .
Một vấn đề rất có ý nghĩa liên quan đến nhà ở là tập quán vào nhà mới
của đồng bào Nùng.
Theo tập quán, vật được mang vào nhà đầu tiên là ngọn lửa. Đến khi
vào nhà mới, chủ nhà (người được tuổi làm nhà ) cầm cây củi than và bước
lên cầu thang nhà, đi thẳng vào bếp, chụm củi, đốt lửa cháy to thành ngọn
Tiếp đó chủ nhà đặt ấm nước lên nồi rồi đem hai bát hương đặt lên bàn thờ .
Nước sôi, pha chè , thắp hương lên rồi khấn: “Vằn nảy vằn đay, khảu lườn
mấu, lục lan mùng pảu pú pảo hử mọi cần mì lèng, hét lên thú đảy, vảy lăng
tú pìn ”. Nghĩa là, hôm nay ngày lành tháng tốt, con cháu vào nhà mới.
Con cháu cầu mong các cụ phù hộ, mọi người được mạnh khoẻ, làm gì cũng
được, ước gì cũng thấy .
Một tràng pháo nổ ran lên báo hiệu với dân làng, với tổ tiên về sự việc
rất vui mừng này.
Ngọn lửa được chủ nhà đốt lên sưởi ấm cả ngôi nhà, là tượng trưng
cho ấm no, ngọn lửa đó sẽ tham gia chuẩn bị cho mâm cỗ ngày hôm đó .
Trong quá trình chuẩn bị gỗ, ngói và cả quá trình làm nhà, anh em
trong họ nội ngoại góp công, góp sức, cho vay rượu, gạo, gỗ, ngói Đến lúc
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
vào nhà mới họ có mặt cùng chung vui, cùng chăm lo cho việc tổ chức ăn
uống, tiếp khách cho chu đáo.
Khách mừng nhà mới có thể chia thành hai loại :
Con, cháu gái đã đi lấy chồng và bên ngoại nói chung, theo tục lệ có
con lợn quay đến mừng .
Khách có quà đến mừng thường đốt một bánh pháo khi mới đến cổng
nhà. Tiếng pháo thay cho tiếng chào đầu tiên. Chủ nhà nghe tiếng pháo, cũng
đốt một tràng pháo đáp lễ , thay lời mời người khách vào nhà .
Khách tới dự cơm thân mật cùng gia đình thường có phong bì cho chủ,
tuỳ lòng hảo tâm .
Sau những lời khách chào chủ, chủ cảm ơn khách trước khi ra về, một
tràng pháo cáo từ của khách lại nổi lên và tràng pháo của chủ đáp lại, thay
cho mọi lời chúc tụng cuối cùng .
Ngay sát ngôi nhà của dân tộc Nùng thường có một mảnh vườn. Tuỳ
điều kiện thế đất, vườn có thể rộng hẹp khác nhau. Trong vườn thường có
các loại rau xảnh theo mùa và các loại cây ăn quả và các loại cây đặc sản của
địa phương như mận, đào, lê, hồng, vải Trong vườn luôn có vài khóm
chuối xanh tươi quanh năm.
II. Thức ăn, uống, hút
Nghề nghiệp chính của đồng bào Nùng là trồng lúa, ngô, khoai, sắn
Do nguồn lương thực chính của họ là gạo tẻ, gạo nếp. Ngoài ra, những lúc
đói kém, ngày ba, tháng tám, đồng bào dùng ngô thay cho gạo. Thực phẩm
chính của đồng bào là các loại rau xanh trồng trong vườn cạnh nhà, trên
nương, hái trong rừng và các loại thịt cá, trứng
Cách chế biến lương thực và thực phẩm thật đa dạng :
Để chế biến từ thóc thành gạo, đồng bào phải tiến hành khâu xay, sau
đó là khâu giã. Xay thóc thực hiện bằng cối xay tay. Xay được đóng bằng gỗ
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
và răng bằng tre gốc chẻ ra. Đồng bào tiến hành giã gạo bằng các phương
thức sau :
Giã bằng tay, có thể giã từ một đến bốn người giã cùng 1 lúc, tốc độ
giã phải thật nhịp nhàng, ăn khớp với nhau .
Giã gạo bằng chân. Cách giã này dùng chân đạp cần cối, có thể có một
nhà đạp, song cũng có thể có hai, ba người đạp. Càng nhiều người đạp thì
càng nhẹ .
Giã gạo bằng cối nước. Dùng cối nước, đôi khi đồng bào không xay
thóc, mà giã cả thóc cho được nhiều cám. Cám được dùng để nuôi lợn. Xay
giã bằng tay, bằng chân, được thực hiện bằng sáng sớm hay chiều tối. Tiếng
chày vang lên từ các gia đình vào trước sau buổi đi làm việc nói lên một nề
nếp làm ăn, một sự siêng năng trong công việc của người lao động chính
trong gia đình. Còn tiếng chày vang lên trong lúc mọi người đi làm ngoài
đồng, chứng tỏ việc nhà bỏ bê, con cháu lười biếng .
Còn giã gạo bằng cối nước, thì lúc đi làm, đồng bào mang thóc về để
vào cối nước, buổi hết, lấy gạo giã về nhà .
Chế biến lương thực chính là gạo tẻ,được dùng hằng ngày, quanh năm.
Nói thiếu ăn là thiếu gạo tẻ. Từ gạo tẻ chế biến thành các thứ sau đây:
Gạo tẻ nấu thành cơm trong các bữa chính là bữa trưa, và bữa chiều,
gạo tẻ nấu thành cháo ăn trong các bữa sáng.
Gạo tẻ nấu thành cháo loãng húp thay nước khi mùa hè đi làm về mệt ,
nóng lực.
Gạo tẻ xay bột làm bánh tẻ, gạo tẻ làm bún, làm bánh cuốn.
Gạo nếp được dùng ít hơn và thường phải có trong các dịp lễ tết, cúng
bái, cưới xin, ma chay, sinh nhật, sinh trẻ nhỏ.
Hằng ngày, thỉnh thoảng đồng bào dùng gạo nếp, tháng đôi ba lần, ăn
cho vui, nhưng đôi khi cũng ăn trừ bữa thay cơm tẻ. Từ nếp, đồng bào chế
biến thành nhiều món ăn khác nhau :
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
Chế biến đơn giản nhất là đồ xôi hoặc nấu cơm nếp. Đồng bào hay
nhuộm xôi thành các màu, tím, xanh, vàng, trắng trong dịp tết Thanh minh
và lễ hội bắn Pháo hoa cũng có làm .
Bánh chưng: Đồng bào Nùng cũng làm bánh chưng bằng lá dong, lá
chuối và gói thành các loại bánh dài hay vuông. Trong bánh chưng cũng có
thể làm nhân các loại sau đây: Thịt lợn, hành, đỗ xanh, nhân hành đỗ xanh,
nhân hạt lạc giã nhỏ, nhân đường phên Cũng có trường hợp gói bánh
chưng không nhân để thờ cúng hoặc để ăn.
Trong dịp lễ tết đồng bào Nùng còn làm bánh dày, món bánh này là
đặc trưng của họ Nông. Người ta kể lại rằng, người phụ nữ Nông khi đang
trông nồi bánh chưng, địu con trên người, chẳng may rơi vào nồi bánh. Từ
đó, người họ Nông còn có tục làm bánh dày vào ngày tết .
Bánh dày thường có hai dạng to,nhỏ khác nhau. Bánh dày to hình tròn,
có đường kính khoảng gần hai gang tay, dày độ 3cm, thường dùng để biếu
nhân ngày sinh Bánh dày nhỏ hình tròn, đường kính trung bình bằng miệng
bát con, để ăn, để cúng Khi có nhu cầu ăn cho vui, đồng bào chỉ làm bánh
dày nhỏ, có loại bánh dày có nhân, cũng có loại không nhân, mà có món
chấm để riêng. Nhân bánh dày có thể là đỗ xanh phi hành mỡ, có thể là nhân
muối lạc hoặc vừng, đường. Ngày cuối tháng giêng (âm lịch ) đồng bào hay
làm bánh dày lá ngải nhân vừng, đường. Có lúc bánh dày nhuộm phẩm đỏ
bên ngoài, hoặc bánh dày được vẽ các loại hoa văn hình học bằng phẩm đỏ
hoặc tím không độc hại. Những đường nét hình học chủ yếu là hình tròn viền
răng cưa, các hình vuông, lồng vào nhau, hình ngôi sao năm cánh. Bố cục
các hình tam giác liền nhau như hàng răng cưa của đồng bào .
Bánh gai là loại bánh được làm vào dịp tết 14/7.
Ngoài ra, họ còn làm bánh chuối vào dịp 14/7.
Bánh rợm làm khi thích ăn và khi có thì giờ .
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
Bánh tro làm để cúng vào dịp 5/5, là bánh không nhân, khi ăn chấm
mật mía .
Bánh trôi làm phổ biến vào dịp đông chí. Ngoài ra, có thể tuỳ ý thích
làm để ăn vào các dịp khác tuỳ thích. Gạo nếp, ngâm qua đêm, xay nước,
cho vào túi vải, treo lên cho chảy bớt nước. Bột đang nhão mềm, vo thành
viên tròn thả vào nước mật loãng đang sôi trên bếp, mới thả vào, viên bánh
chìm xuống dưới nước. Bếp vẫn tiếp tục đỏ lửa, nước mật tiếp tục sôi. Khi
nào thấy viên bánh nổi lên, là bánh đã chín, vớt ra ăn được. Bánh trôi thường
ăn với gia vị gừng. Gừng dập nát, bỏ một chút vào bát nóng rồi ăn ngay, có
mùi thơm, ấm, dễ chịu. Đồng bào làm hai loại bánh trôi: Bánh trôi không
nhân và bánh trôi có nhân. Bánh trôi không nhân phổ biến hơn. Bánh trôi có
nhân ít khi làm. Nhân bánh là đỗ xanh, xay vỡ đôi, ngâm đãi sạch vỏ, đồ nấu
chín, trộn đường. Nhân được cho vào giữa khi vo viên làm bánh.
Nếp được đồ chín như xôi, sau đó phơi thật khô giòn, khâu này chuẩn
bị hơi lâu, nên phải làm trước. Khi cần làm, lấy nếp đồ chín phơi khô này
rang lên cho hạt nếp nở to và tròn. Nấu mật ở chảo, cho đến khi mật không
tan trong nước lã là được .
Chảo nước mật vẫn để trên bếp đỏ lửa, đổ nếp rang nở vào đảo đều,
nhanh tay. Sau đó đổ cả ra mâm đồng (hoặc mâm nhôm ), gạt cho bằng, hơi
nén xuống cho chặt. Lấy dao cắt thành từng miếng, hay làm vào dịp tết
nguyên đán .
Bánh khảo, gạo nếp phơi khô, rang giòn, xay bột mịn. Trộn bột đó với
nước đường đặc (hoặc mật) đến độ nhất định có thể đủ ngọt và đủ ấm để
đóng được thành bánh trong khuôn. Bánh khảo được làm vào dịp tết nguyên
đán, dịp cưới xin hoặc có thể làm vào dịp tết khác.
Nếp có thể đem nấu chè. Người Nùng hay nấu chè vào mùa đông và
khi ăn thì bỏ chút gừng vào làm gia vị. Chất đường nóng, gừng cũng nóng,
nên chè ăn vào mùa đông rất thích hợp .
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
Đồng bào cũng làm cốm bằng nếp non. Cốm là món ăn được đồng bào
ưa thích, nên hàng năm, gia đình nào cũng làm cốm đôi ba lần. Mỗi lần làm
cốm là dịp chị em hàng xóm giúp nhau giã và cùng ăn cho vui bầu bạn .
III. Chế biến thực phẩm
Nguồn thực phẩm rất đa dạng, song nhìn chung có mấy cách chế biến
chính thể hiện đặc điểm dân tộc .
Trước hết là chế biến rau xanh: Rau mùa hè, rau mùa đông, rau rừng .
Rau mùa hè có rau muống, rau dền, rau đay, rau mùng tơi, các loại bầu
bí, các loại đậu,các loại dưa.
Rau mùa đông có củ cải, su hào, bắp cải, cải làn, susu
Rau rừng có măng, nấm, rau xauxau
Rau các loại, mùa nào thức ấy, đem xào mỡ lợn là thức ăn hàng ngày
của dân tộc. Mỡ lợn đun già trên chảo gang, rau rửa sạch, thái nhỏ vừa phải,
lúc mỡ đang nóng già lửa đang cháy đỏ, đổ rau vào, bỏ muối và đảo nhanh,
thúc lửa cháy đều, đậy vung lại, rau vừa chín tới là được. Đồng bào không
có thói quen dùng rau xanh luộc chấm nước mắm. Cần nước chấm họ dùng
xì dầu. Gia đình nào ăn rau mà không xào mỡ là biểu hiện của sự khó khăn
về kinh tế.
Rau muối: Đồng bào Nùng có kỹ thuật muối các loại rau xanh khá tốt .
Có hai cách muối là muối ngâm nước và muối phơi khô.
Muối ngâm nước thường áp dụng muối rau cải, muối măng (tre, nứa,
vầu) và muối quả trám đen. Thông thường vào mùa đông, đồng bào muối rau
cải để tiện ăn dần. Muối cả cây để lâu ngày, muối rau cải thái là để ăn ngay,
mùa xuân hè, đồng bào muối măng chua, măng chua ngâm trong nước để
được rất lâu. Mùa thu, đồng bào muối trám đen. Một vại trám có thể để dành
ăn quanh năm .
Muối phơi khô cũng được áp dụng cho quả trám đen, măng tre (nứa,
vầu ).ngoài ra đồng bào còn áp dụng để muối su hào, cải củ…ủ trám đen,

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét