Thứ Sáu, 28 tháng 2, 2014

Quyết định 15/2003/QĐ-BTNMT ban hành Quy phạm quan trắc mực nước và nhiệt độ nước sông do Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và môi trường ban hành

c) Điều tra sơ bộ mực nước thấp nhất: dựa vào dân ở hai bên bờ sông để điều tra, cách điều
tra có thể vận dụng Điều 3.1.2, Quy phạm điều tra lũ 94 TCN 16-99.
Mục đích điều tra mực nước cao nhất, thấp nhất để ước tính biên độ dao động lớn nhất của
mực nước, qua đó xác định các thông số kỹ thuật thiết kế công trình quan trắc (tuyến cọc, thủy
chí, giếng) và lựa chọn máy đo mực nước phù hợp.
d) Điều tra nước vật, nước tù, các hiện tượng khác như xuất, nhập lưu.
e) Đo, vẽ 3 hoặc 5 mặt cắt ngang, mặt cắt ngang dự kiến bố trí tuyến quan trắc ở giữa đoạn
sông khảo sát.
- Giới hạn độ cao đo, vẽ hai bên bờ sông như sau:
+ Sông ở miền núi: đo tới độ cao cao hơn mực nước lũ điều tra hoặc mực nước lũ lớn nhất đã
quan trắc được từ một mét trở lên;
+ Sông ở trung du và đồng bằng: đo tới độ cao bằng hoặc cao hơn mực nước lũ điều tra hoặc
mực nước lũ lớn nhất đã quan trắc được.
- Giới thiệu độ dài đoạn sông khảo sát:
+ Sông ở miền núi: lấy vị trí dự kiến bố trí tuyến quan trắc ở giữa, khảo sát về hai phía thượng,
hạ lưu, mỗi phía dài ít nhất bằng 3 lần độ rộng mặt nước sông tại thời điểm khảo sát;
+ Sông ở trung du và đồng bằng: lấy vị trí dự kiến bố trí tuyến quan trắc ở giữa, khảo sát về
hai phía thượng, hạ lưu, một phía dài ít nhất bằng khoảng cách giữa hai tuyến thước nước đo
độ dốc (Điều 3.2.7, Quy phạm này).
2.1.3.3. Hồ sơ khảo sát sơ bộ bao gồm:
a) Báo cáo công việc khảo sát sơ bộ:
- Phần mở đầu:
+ Cơ sở pháp lý của việc khảo sát (nêu những văn bản chỉ đạo của các cơ quan có thầm
quyền);
+ Đặc điểm địa lý thủy văn của lưu vực sông, vị trí đặt trạm (tọa độ địa lý, địa chỉ hành chính),
hình dáng, độ dốc bình quân, mật độ lưới sông, ;
+ Biên chế nhóm khảo sát: nêu đầy đủ họ, tên, chức vụ, trình độ chuyên môn của tất cả những
những người tham gia khảo sát;
+ Các loại máy, thiết bị, dụng cụ phục vụ việc khảo sát: loại máy (thiết bị), ký mã hiệu, độ chính
xác.
- Phần khảo sát:
+ Mô tả công tác chuẩn bị;
+ Mô tả phần khảo sát thực địa.
- Phần nhận xét kết luận:
Cơ sở lựa chọn đoạn sông để tiến hành khảo sát kỹ thuật (so sánh, phân tích ưu, nhược điểm
của các đoạn sông đã khảo sát sơ bộ, trên cơ sở đó kiến nghị lựa chọn một đoạn sông để tiến
hành khảo sát kỹ thuật).
- Phần cuối cùng:
Địa điểm và thời gian viết báo cáo:
ngày tháng năm ;
Người viết báo cáo: trình độ, học tên, chữ ký.
b) Các bản vẽ, biểu tính:
- Bản đồ diện tích lưu vực hoặc bản đồ vị trí trạm được can từ bản đồ tỷ lệ 1/100.000,
1/50.000, 1/10.000;
- Vẽ bản đồ vị trí trạm (trích khu vực dự kiến đặt trạm) trong trường hợp diện tích lưu vực lớn
mà giấy khổ A2 (420 mm X 594 mm) không bố trí đủ diện tích lưu vực;
- Bình đồ khu vực phía bờ sông dự kiến đặt trạm, trên đó có vẽ các vị trí dự kiến xây dựng nhà
trạm và các công trình quan trắc;
- Các biểu tính.
2.1.4. Khảo sát kỹ thuật
Chỉ tiến hành khảo sát kỹ thuật khi hồ sơ khảo sát sơ bộ đã được cơ quan có thẩm quyền phê
duyệt, trừ các trường hợp đặc biệt nêu ở Điều 2.1.2, Quy phạm này. Nội dung khảo sát kỹ
thuật gồm các bước sau:
2.1.4.1. Công tác chuẩn bị:
a) Khai thác, sử dụng những thông tin đã có của khảo sát sơ bộ;
b) Tìm hiểu, bổ sung thông tin mới;
c) Công việc cụ thể tương tự khảo sát sơ bộ (khoản 2.1.3.1, Quy phạm này).
2.1.4.2. Khảo sát kỹ thuật cần làm các việc sau đây:
a) Lập phương án khảo sát:
b) Xây dựng mốc độ cao;
c) Đo đạt địa hình và lập bình đồ đoạn sông;
d) Điều tra tính toán mực nước cao nhất, thấp nhất, biên độ mực nước.
Nội dung cụ thể của từng công việc thực hiện theo các quy định tại Chương III “Hướng dẫn
khảo sát trạm thủy văn” do Cục Kỹ thuật Điều tra cơ bản, Tổng cục Khí tượng Thủy văn ban
hành năm 1985.
Ghi chú: Khi tiến hành xây dựng lại công trình trạm vẫn phải tiến hành khảo sát kỹ thuật,
nhưng có thể sử dụng lại những nội dung của lần khảo trước nếu chưa thay đổi hoặc thay đổi
không đáng kể.
2.1.4.3. Hồ sơ khảo sát kỹ thuật gồm:
a) Báo cáo thuyết minh khảo sát kỹ thuật cần viết ngắn gọn, đầy đủ, rõ ràng, bố cục như sau:
- Phần mở đầu:
+ Dẫn chứng các văn bản của các cấp có thẩm quyền liên quan đến việc đặt trạm, văn bản
duyệt đoạn sông đặt trạm, văn bản phê duyệt xây dựng lại
+ Nhiệm vụ quan trắc (các yếu tố bắt buộc phải quan trắc);
+ Thời gian quan trắc: lâu dài hoặc tạm thời;
+ Bố trí nhân lực khảo sát: ghi rõ họ, tên, chức vụ, trình độ chuyên môn từng người;
+ Các loại máy, thiết bị, dụng cụ phục vụ việc khảo sát: loại máy (thiết bị), ký mã hiệu, độ chính
xác.
- Phần khảo sát:
+ Hình dạng, chiều dài, diện tích lưu vực, mật độ lưới sông;
+ Đặc điểm về khí hậu: lượng mưa, nhiệt độ, độ ẩm;
+ Vị trí: thôn, xã, huyện, tỉnh, kinh, vĩ độ;
+ Địa hình lòng sông, bờ sông, bãi tràn, thung lũng, mức độ khống chế;
+ Địa chất lòng sông, bờ sông, đánh giá độ ổn định của bờ sông nhất là vị trí xây dựng công
trình;
+ Mốc độ cao: mô tả việc xây dựng mốc, vị trí mốc, độ cao mốc, hệ thống và độ cao của mốc
xuất phát;
+ Tình hình dòng chảy và các đặc trưng thủy văn: tình hình dòng chảy mùa lũ, mùa cạn, các
hiện tượng phân dòng, đổi hướng, tràn bãi, mực nước cao nhất, thấp nhất;
+ Xác định tuyến quan trắc, các giải pháp công trình và mặt bằng.
- Phần nhận xét, kết luận:
Tóm tắc những ưu, khuyết điểm của đoạn sông đặt trạm, đối chiếu với các yêu cầu kỹ thuật,
đánh giá, kết luận.
- Phần cuối cùng:
+ Địa điểm và thời gian viết báo cáo:
ngày tháng năm ;
+ Người viết báo cáo: trình độ, họ tên, chữ ký.
b) Các bản vẽ, biểu tính:
- Bản đồ diện tích lưu vực hoặc bản đồ vị trí trạm: có thể sử dụng lại bản đồ diện tích lưu vực
hoặc bản đồ vị trí trạm khi lập hồ sơ khảo sát sơ bộ nếu vị trí tuyến quan trắc dự kiến trùng
tuyến khảo sát kỹ thuật;
- Bình đồ khu vực đặt trạm: phải thể hiện trọn vẹn diện tích đất của trạm;
- Các biểu tính.
Kích thước bản vẽ, biểu tính tương tự như phần khảo sát sơ bộ.
2.2. Di chuyển tuyến quan trắc
2.2.1. Di chuyển tuyến quan trắc mực nước khi xảy ra một trong các trường hợp sau:
a) Bờ sông bị xói lở, công trình bị phá huỷ hoặc bị đe dọa phá huỷ mà không tìm được biện
pháp bảo vệ có hiệu quả;
b) Chế độ dòng chảy đã thay đổi không còn tính đại biểu như: thay dòng, nước vật, ;
c) Cỏ cây, rong rêu phát triển mạnh không thể khắc phục được;
d) Do yêu cầu an ninh, quốc phòng kinh tế buộc phải di chuyển;
e) Môi trường bị ô nhiễm, cuộc sống của quan trắc viên rất khó khăn, gian khổ, không bảo đảm
sức khỏe.
2.2.2. Khảo sát, lựa chọn tuyến quan trắc mới, cần chú ý các điểm sau đây:
a) Chế độ dòng chảy càng tương tự tuyến cũ càng tốt;
b) Càng gần tuyến cũ càng tốt;
c) Nội dung khảo sát, lựa chọn tuyến quan trắc mực nước mới được thực hiện theo quy định
tại Mục 2.1, Quy phạm này.
2.2.3. Thủ tục di chuyển tuyến quan trắc
Khi tuyến quan trắc xảy ra một trong các trường hợp nêu tại Điều 2.2.1, Quy phạm này, trạm
cần lập báo cáo trình đài khí tượng thủy văn khu vực. Đài khí tượng thủy văn khu vực xem xét,
lập hồ sơ trình cơ quan có thẩm quyền xem xét quyết định.
2.2.4. Mốc chính của tuyến quan trắc mới
Mốc chính của tuyến quan trắc mới phải cùng một hệ độ cao với mốc chính của tuyến quan
trắc cũ. Nếu hai tuyến cách nhau không quá 0.5 km, thì có thể sử dụng lại mốc chính cũ và chỉ
cần xây dựng mốc kiểm tra ở tuyến quan trắc mới.
2.2.5. Quan trắc mực nước đồng thời giữa hai tuyến cũ và mới
Phải quan trắc mực nước đồng thời giữa tuyến cũ và mới trong một thời gian để xây dựng
tương quan mực nước giữa hai tuyến, nhằm đưa tài liệu mực nước về một tuyến (thông
thường tài liệu trong năm có quan trắc đồng thời được đưa về tuyến có thời gian quan trắc dài
hơn).
a) Quan trắc mực nước đồng thời đối với trạm thuộc vùng sông không ảnh hưởng thủy triều
- Thời gian quan trắc mực nước đồng thời phải có các chế độ thủy văn đặc trưng và có các
cấp mực nước từ thấp đến cao.
- Biên độ mực nước trong thời đoạn quan trắc đồng thời phải lớn hơn hoặc bằng ba phần tư
biên độ mực nước trung bình nhiều năm.
- Số lần quan trắc đồng thời phải lớn hơn hoặc bằng 30 lần.
- Phân bố các điểm quan trắc đồng thời:
+ Đều ở các cấp mực nước (mỗi cấp mực nước bằng một phần mười biên độ mực nước trung
bình năm);
+ Các chế độ thủy văn khác nhau như lũ lên, lũ xuống, chân, đỉnh… phải quan trắc đồng thời
ít nhất một lần;
+ Các cấp mực nước có tần suất xuất hiện nhiều, phải quan trắc đồng thời ít nhất 3 lần.
b) Quan trắc mực nước đồng thời đối với trạm thuộc vùng sông ảnh hưởng thủy triều
- Thời gian tổ chức quan trắc mực nước đồng thời phải lớn hơn hoặc bằng một nguyệt triều.
- Biên độ mực nước trong thời kỳ quan trắc đồng thời phải lớn hơn hoặc bằng ba phần tư biên
độ mực nước trung bình nhiều năm.
- Số lần quan trắc đồng thời phải lớn hơn hoặc bằng 50 lần, phân bố đều ở các cấp mực
nước, mỗi chế độ thủy văn khác nhau như triều lên, triều xuống, chảy ngược, chảy xuôi, các
đặc trưng triều như đỉnh triều, chân triều phải có ít nhất một lần quan trắc đồng thời. Trường
hợp các cấp mực nước có tần suất xuất hiện nhiều, phải quan trắc đồng thời ít nhất 3 lần.
c) Các trường hợp đặc biệt
- Ở nơi có chế độ thủy lực ổn định, có thể chỉ quan trắc mực nước đồng thời trong một thời
gian ngắn, khi tập hợp được đủ số điểm quan hệ, các điểm phân bố đủ các cấp mực nước, đo
được đủ biên độ mực nước tối thiểu cần đo thì dừng (không nhất thiết phải có đủ điểm đo của
các chế độ thủy văn đặc trưng).
- Ở các trạm triều ven biển, nếu biên độ mực nước không lớn, có thể quan trắc đồng thời từ 5
đến 7 ngày, mỗi ngày quan trắc vào các giờ lẻ.
d) Trường hợp không quan trắc mực nước đồng thời giữa hai tuyến:
- Quy luật biến đổi mực nước ở hai tuyến cũ và mới không giống nhau, như một tuyến ở
thượng lưu đập, một tuyến ở hạ lưu đập hoặc một tuyến chịu ảnh hưởng vật, một tuyến không
chịu ảnh hưởng vật hoặc một tuyến ở thượng lưu, một tuyến ở hạ lưu của các phân lưu nhập
lưu lớn (coi như một trạm mới hoàn toàn);
- Ở sông nhỏ miền núi (suối), quan trắc mực nuớc chủ yếu dùng để tính lưu lượng nước, rất ít
dùng tài liệu mực nước vào mục đích khác;
- Công trình quan trắc mực nước ở tuyến cũ hỏng nhưng xây dựng lại rất khó khăn, hoặc
không thể quan trắc được vì lý do an ninh, quốc phòng.
3. Công trình và thiết bị quan trắc mực nước, nhiệt độ nước
3.1. Nguyên tắc chung
3.1.1. Nguyên tắc thiết kế, xây dựng công trình quan trắc mực nước
Việc thiết kế, xây dựng công trình quan trắc mực nước phải bảo đảm các yêu cầu sau:
a) Đạt được độ chính xác trong mọi tình huống quan trắc;
b) Vững chắc không bị hư hỏng khi gặp lũ, bão và các tác động khác;
c) An toàn, thuận tiện khi quan trắc, bảo dưỡng, bảo quản, ;
d) Kinh tế (lợi dụng được địa hình, tận dụng được nguyên vật liệu tại chỗ, )
3.1.2. Công trình quan trắc mực nước phải đảm bảo:
a) Các cọc, các thủy chí, miệng ống dẫn nước của giếng đặt máy đo mực nước, phải nằm
trên cùng một mặt phẳng vuông góc với hướng chảy trung bình toàn mặt ngang. Trường hợp
vì địa hình không thể bố trí các cọc, các thủy chí, nằm trên cùng một mặt phẳng thì được
phép xê dịch, nhưng phải bảo đảm chênh lệch mực nước khi quan trắc đồng thời tại giới hạn
trên (thượng lưu) và giới hạn dưới (hạ lưu) không quá 1 cm;
b) Quan trắc được mực nước cao hơn mực nước cao nhất đã xuất hiện (hoặc điều tra) ít nhất
50 cm và quan trắc được mực nước thấp hơn mực nước thấp nhất đã xuất hiện (hoặc điều
tra) ít nhất 20 cm (xem hình 3);
c) Công trình quan trắc hỗn hợp (cọc, thủy khí, giếng), vùng tiếp giáp giữa các kiểu công trình
phải bố trí quan trắc được mực nước gối nhau từ 30 cm trở lên.
3.1.3. Ký hiệu mốc, cọc, thủy khí
a) Mốc độ cao ký hiệu là R. Để phân biệt như mốc xuất phát, mốc chính, mốc kiểm tra, thêm
chỉ số chân là: xp, c, kt, l, 2, 3, Mỗi mốc có một tên riêng.
b) Cọc ký hiệu là C
c) Thủy chí ký hiệu là P
3.1.4. Ghi số hiệu cọc (thủy chí)
a) Dùng số nguyên để ghi số hiệu các cọc (thủy chí) từ trên xuống dưới, cọc liền kề có số hiệu
chênh nhau một đơn vị.
b) Thêm chỉ số chân là các chữ cái: a, b, c, để phân biệt một cọc (thủy chí) đã làm lại bao
nhiêu lần.
Ví dụ: C8a là cọc số 8 sửa lại lần thứ nhất, P4b là thủy chí số 4 sửa lại lần thứ hai,
Ghi chú: Thuật ngữ “làm lại” tại Điều 3.1.4, Quy phạm này được hiểu có các nội dung sau:
Sửa, làm mới, làm tạm một cọc hoặc một thủy chí nào đó.
Hình 3: Sơ đồ hệ thống tuyến bậc cọc
3.1.5. Ghi số hiệu cọc (thủy chí) làm thêm
a) Cọc (thủy chí) làm thêm xuống phía dưới để quan trắc được mực nước thấp hơn, ghi số
hiệu tăng thêm 1 đơn vị so với số hiệu của cọc phía trên liền kề.
b) Cọc (thủy chí) làm thêm lên phía trên để quan trắc được mực nước cao hơn, ghi số hiệu bớt
đi 1 đơn vị so với số hiệu của cọc phía dưới liền kề.
c) Cọc ( thủy chí) làm thêm chèn vào giữa hai cọc (làm cọc phụ), ghi số hiệu của cọc phía trên
có thêm chỉ số chân là chữ “phụ”.
Ghi chú: Trường hợp mực nước cao nhất dùng để thiết kế công trình quan trắc mực nước
(HmaxTK) chưa đủ tin cậy (điều tra để xác định HmaxTK hoặc chọn HmaxTK từ liệt số liệu có
thời gian quan trắc ngắn),nên chọn ghi số hiệu cho cọc (thủy chí) đầu tiên là số lớn hơn 1, khi
cần có thể làm thêm cọc (thủy chí) lên phía trên để quan trắc được mực nước cao hơn mà số
hiệu cọc không phải mang dấu âm.
3.1.6. Đặt lại số hiệu cọc (thủy chí) có thêm chỉ số (a, b, c, ) thì đặt lại số hiệu cho toàn bộ
tuyến cọc (thủy chí). Trạm kiến nghị, đài khí tượng thủy văn khu vực xem xét, duyệt phương
án. Ngày bắt đầu sử dụng là ngày 01 tháng I. Nếu đặt số hiệu cho toàn bộ tuyến cọc (thủy chí),
thì phải ghi bổ sung vào hồ sơ kỹ thuật trạm thủy văn.
3.1.7. Tiêu chuẩn kỹ thuật của công trình quan trắc mực nước tạm thời
Độ cao đầu cọc (điểm “0” thủy chí) của công trình quan trắc mực nước tạm thời cũng cần phải
ổn định lâu dài. Nếu không đảm bảo chắc chắn, thì phải có biện pháp bảo vệ chu đáo cho đến
khi xác định được chính xác độ cao đầu cọc (điềm “0” thủy chí). 3.1.8. Tiêu chuẩn kỹ thuật của
chữ số vạch khắc
Các chữ số, vạch khắc trên công trình thiết bị quan trắc mực nước cần rõ ràng. Sai số cộng
dồn (tích luỹ) phải nhỏ hơn 1 cm cho một mét dài.
3.2. Công trình quan trắc mực nước
3.2.1. Mốc độ cao
3.2.1.1. Mốc chính (Rc)
a) Độ cao mốc chính được dẫn từ mốc xuất phát (Rxp). Mốc xuất phát thuộc hệ độ cao Nhà
nước, do cơ quan Đo đạc và Bản đồ Nhà nước quản lý, cung cấp.
b) Một số trường hợp cụ thể, nếu được cơ quan có thẩm quyền cho phép, thì có thể sử dụng
một mốc chính để làm mốc xuất phát cho một mốc chính khác.
c) Trong trường hợp chưa dẫn được độ cao Nhà nước đến mốc chính, thì giả định độ cao mốc
chính. Để ghi số liệu được thuận tiện, độ cao mốc chính phải giả định là bội số của 10 m, đảm
bảo mực nước lớn nhất không quá 4 chữ số và độ cao đáy sông không có trị số âm.
d) Mỗi trạm thủy văn phải có hai mốc chính để kiểm tra lẫn nhau.
e) Yêu cầu kỹ thuật xây dựng mốc chính, thực hiện theo Phụ lục B Quy phạm này.
3.2.1.2. Mốc kiểm tra (Rkt)
a) Độ cao mốc kiểm tra được dẫn từ độ cao mốc chính.
b) Mốc kiểm tra cần lộ thiên, gần tuyến quan trắc mực nước để tiện sử dụng. Có thể lợi dụng
cọc chắc chắn để làm mốc kiểm tra.
3.2.2. Cọc quan trắc mực nước
3.2.2.1. Cọc quan trắc mực nước được xây dựng ở những tuyến quan trắc có đặc điểm:
a) Bờ sông thoải;
b) Tầu, thuyền đi lại nhiều;
c) Cỏ rác và vật trôi nổi nhiều;
d) Cường suất mực nước lớn;
e) Tốc độ dòng chảy lớn.
3.2.2.2. Việc thiết kế, xây dựng tuyến bậc cọc quan trắc mực nước thực hiện theo quy định tại
Điều 3.1.2. Quy phạm này và các quy định sau:
a) Chênh lệch độ cao giữa hai cọc kề liền nhau binh thường từ 30 đến 40 cm (nếu địa hình
phức tạp, tối đa là 50 cm);
b) Đầu cọc nhô cao từ 2 đến 5 cm so với mặt bậc, cách mép bậc phía thượng lưu 10 cm và
cách cổ bậc 5 cm;
c) Đường kính cọc khoảng: 15 mm ≤ Ф ≤ 30 mm;
d) Đầu cọc có dạng chỏm cầu.
Hình 4: Cách ghi số hiệu cọc
3.2.2.3. Khi dùng cọc sắt, gỗ, bê tông đóng (hoặc chôn) trực tiếp xuống bờ sông để xây dựng
tuyến cọc, quy cách cọc như sau:
a) Đối với nền đất cứng:
- Đường kính (hay cạnh lớn) từ 10 cm trở lên (Ф ≥ 10 cm);
- Chiều dài từ 100 cm trở lên (L ≥ 100 cm).
b) Đối với nền đất mềm:
- Đường kính (hay cạnh lớn) từ 15 cm trở lên (Ф ≥ 15 cm);
- Chiều dài từ 150 cm trở lên (L ≥ 150 cm).
c) Điểm để xác định độ cao đầu cọc:
- Nếu là cọc gỗ, thì dùng đinh đóng vào đầu cọc (còn để nhô cao khoảng 1 cm);
- Nếu là cọc sắt, thì dùng sơn đánh dấu điểm cao nhất trên đầu cọc.
3.2.2.4. Cách ghi số hiệu cọc ở tuyến bậc
a) Số hiệu cọc ghi ở 2 vị trí: một tại mặt bậc, một tại cổ bậc.
b) Dùng sơn (sơn phản quang thì tốt) trắng tạo nền, sơn màu đỏ ghi số hiệu cọc. Khuôn nền
cỡ chữ số phù hợp với từng tuyến bậc cọc cụ thể, cần thống nhất trên toàn tuyến để tạo thẩm
mỹ (hình 4).
Ghi chú: Có thể dùng gạch men gốm trắng hoặc sơn phản quang để tạo nền nhằm tăng độ
tương phản.
3.2.3. Thủy chí
3.2.3.1. Xây dựng thủy chí ở những tuyến quan trắc có đặc điểm:
a) Bờ sông dốc;
b) Ít bị ảnh hưởng của tầu thuyền;
c) Tốc độ dòng chảy không lớn;
d) Cường suất mực nước nhỏ;
e) Nơi có công trình kiến trúc kiên cố thẳng đứng.
3.2.3.2. Xây dựng thủy chí thực hiện theo quy định tại Điều 3.1.2. Quy phạm này và bảo đảm
các yêu cầu:
a) Quan trắc dễ dàng, cự ly quan trắc không quá 5 m;
b) Bảo quản, bảo dưỡng, thay thế thuận tiên;
c) Mặt đọc số xuôi theo dòng chảy và vuông góc với hướng nhìn;
d) Xây dựng thủy chí ở công trình kiến trúc kiên cố thẳng đứng phải không làm ảnh hưởng
đáng kể đến trạng thái chảy tự nhiên;
e) Khi xây dựng thủy chí cần lợi dụng địa hình, địa vật để tránh né các vật trôi nổi;
f) Thủy chí được gắn chặt vào bệ hoặc giá đỡ bằng ốc hoặc vít, có thể tháo gỡ dễ dàng khi
bảo quản hoặc thay thế;
g) Bệ thủy chí vững chắc, không bị lún;
h) Trong trường hợp khẩn cấp có thể đóng cọc để làm bệ thủy chí, phần đóng ngập trong đất
theo quy định tại điều 3.2.2 Quy phạm này.
3.2.3.3. Tiêu chuẩn của thủy chí
a) Thẳng, nếu làm bằng gỗ thì bản rộng từ 10 đến 20 cm, dầy từ 3 đến 4 cm, dài từ 2 đến 3 m.
Nếu làm bằng kim loại thì phân làm nhiều đoạn, mỗi đoạn dài 50 cm, có cùng độ dầy và cùng
độ rộng.
b) Nếu sơn hay khắc trên bề mặt tường công trình kiến trúc, phải có độ rộng 20 cm. độ dài tùy
thuộc khả năng cho phép của công trình.
c) Khi yêu cầu đo (quan trắc) mực nước có độ chính xác đến 1 cm, thì vạch khắc lớn nhất là 2
cm. khi yêu cầu đo (quan trắc) mực nước chính xác đến 0,5 cm, thì vạch khắc lớn nhất là 1
cm.
d) Thủy chí được sơn, khắc vạch số từ dưới lên trên, vạch số 0.00 m ở đáy. Cách khắc, sơn
vạch thủy chí xem hình 5.
e) Sai số khắc vạch thủy chí thực hiện theo quy định tại Điểm 3.1.8 Quy phạmn này.
3.2.3.4 Ghi số hiệu thủy chí
Số hiệu thủy chí ghi tại đầu trên và ở bệ nếu thủy chí gắn vào bệ, ghi tại đầu trên và bên cạnh
nếu thủy chí gắn vào tường công trình. Cách ghi số tương tự như ghi số hiệu cọc.
Hình 5: Các vạch khắc, sơn vạch thủy chí
3.2.4. Công trình quan trắc mực nước hỗn hợp
Công trình hỗn hợp cọc, thủy chí được xây dựng tại nơi bờ sông có độ dốc thay đổi phức tạp.
Căn cứ điều kiện thích hợp của công trình bậc cọc hoặc thủy chí quy định tại Điều 3.2.2 và
3.2.3 Quy phạm này để chọn giải pháp công trình bậc cọc hay thủy chí cho từng bộ phận bờ
sông.
Hình 6: Giếng kiểu bờ dùng cống dẫn nước
3.2.5. Nhà đặt máy đo mực nước
Nhà đặt máy đo mực nước thực hiện theo quy định tại Điều 3.1.1. Quy phạm này và các yêu
cầu sau:
a) Đủ rộng để lắp máy đo mực nước và đủ diện tích cho quan trắc viên thao tác vận hành
b) Thoáng, kho ráo để thiết bị không bị ẩm, Có cửa chớp để thông thoáng, có lưới sắt để ngăn
chặn sự xâm hại của người và các loài vật;
c) Căn cứ mục đích đặt trạm và tình hình cụ thể từng nơi mà chọn hình thức nhà đặt máy đo
mực nước thích hợp:
- Đối với trạm quan trắc lâu dài hoặc ở nơi có gió bão mạnh cần xây dựng kiên cố. Nên xây
nhà đặt máy liền với giếng;
- Đối với trạm quan trắc trong thời gian ngắn thì có thể sử dụng vật liệu đơn giản, rẻ tiền, chế
tạo sẵn, để lắp đặt và tháo dỡ.
3.2.6. Giếng đặt máy đo mực nước
3.2.6.1. Quan hệ mực nước trong giếng với mực nước ngoài sông
a) Nước trong giếng, nước ngoài sông lưu thông dễ dàng, không có mạch nước ngang, chênh
lệch mực nước trong giếng và ngoài sông không quá 1 cm.
b) Sóng ngoài sông truyền vào trong giếng có biên độ nhỏ hơn hoặc bằng 5 cm.
c) Miệng ống dẫn nước cao hơn đáy sông từ 0,5 m trở lên, nhưng khi xuất hiện mực nước
thấp nhất thì nước trong giếng và nước ngoài sông vẫn thông nhau.
Hình 7: Giếng kiểu bờ dùng xi phông
3.2.6.2. Kiểu công trình giếng (hình 6-8)
a) Xây dựng giếng kiểu đảo tại những nơi:
- Biên độ mực nước không lớn (≤ 3 m);
- Tầu thuyền đi lại ít, vật trôi nổi ít:
- Tốc độ dòng chảy không lớn;
- Có thể lợi dụng công trình kiến trúc sẵn có để làm giá, trụ đỡ giếng.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét