Thứ Sáu, 21 tháng 2, 2014

Biện chứng cái đẹp trong xã hội qua quan hệ ngũ luân


5
-“Lê Lai vì đại nghĩa xả thân, tơi thề sau này chẳng qn ơn ấy, nếu nuốt
lời thề thì cung điện thành từng núi, ẩn báu thành đồng, gươm thần thành đao”.
Lê Lai bèn ăn mặc giả vua đem 500 qn, 2 thớt voi, thẳng tới trại giặc
khêu chiến, qn Minh vây đánh ơng chiến đấu đên lúc kiệt sức để cho giặc bắt
và cho chúng giết. Nhớ ơn Lê Lai, Vua Lê đã tìm thấy ơng từ trước, chơn ở Lam
Sơn, khi lên ngơI truy tặng ơng là đệ nhất cơng thần. Năm Kỉ Dởu 1429 trung
phong là Thái . Đến thời Nhân Tơng, Q Hợi 1449 truy tặng là Bình Chương
qn quốc trọng sư, cho Kìm ngù đại kim phù, tước là Huyện Thượng Hầu. Đời
Thánh Tơng được tặng Thái phó, tước Diên phúc hầu, truy phong là Trung Túc
Vương. Đến đời nhà Nguyễn- Gia Long liệt kê ơng vào hàng khai quốc cơng
thần đệ nhất triều Lê cho tìm con cháu ơng coi giữ đền thờ. Bình Định Vương
thường nói:” Sau này ta mất đi khi đến lễ giổ ta, thì một ngày trược đó phải
cúng tế Lê Lai”. Ca dao ta còn truyền tụng:” Hăm mốt Lê Lai, hăm hai Lê Lợi”
Quan hệ vua- tơi theo Nho giáo, ngồI chiều thuận còn có triều nghịch.
Đức trung ở Nho giáo cũng có sự quyền biến. Nho giáo đòi hỏi người qn tử
cần biết mình đang phục vụ ơng vua nào. Nếu là phục vụ một ơng vua mà kẻ bề
tơi can gián khơng nghe, nói phải khơng theo và ơn huệ thì khơng thấm được
xuống dân, một ơng vua mà vì một lẽ gí đó, bề tơi phải bỏ nước ra đi thì bị bắt
giữ lại nếu đi thốt được thì tìm mọi cách gây khó khăn làm cho bề tơi phải khốn
khổ ở nơi mới đến, một ơng vua mà ngay trong ngày bề tơi ra đi mà thu hết
ruộng nương nhà cửa một ơng vua như thế, đối với bề tơi chỉ còn là giặc cướp,
cừu thù. Đã là giặc cướp, cừu thù mà còn trung thì đó là ngu trung. Do đó, nếu
vua bạo ngược, sẵn sàng ra lệnh giết kẻ sĩ vơ tội, thì quan đại ngu nên bỏ nước
mà đi; giết dân vơ tội thì kẻ sĩ nên liệu mà dời chân. Ơng vua nước Tề là Tề
Cảnh Cơng rất giàu có nhưng lại khơng có ân đức gì với dân, đến khi chết vẫn
khơng được ai nhắc tới, còn hai anh em Bá Di, Thúc Tề nước Cơ Trúc được xem
là có đức hạnh, muốn ngăn cản Chu Văn Vương trừng phạt vua Trụ khi Văn
Vương thành cơng, hai ơng quyết khơng chịu ăn gạo của Văn Vương mà lên núi
Thủ Dương ở ẩn háI rau mà ăn. Điều đó được Khổng Tử nhắc lại trong Luận
ngữ của mình như sau:” Cảnh Cơng nước Tề có ngàn cỗ xe bốn ngựa, ngày mất
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN

6
đi, dân chúng chẳng chịu ơn để ca tụng. Bá Di, Thúc Tế chịu chết đói ở dưới núi
Thủ Dương đến nay dân còn ca tụng. Câu Kinh Thi thật tình chăng phải vì giầu
có chỉ vì đức hạnh để đời đấy thơi.”
Như vậy, trong mối quan hệ Vua –tơi vẻ đẹp thẩm mỹ được thể hiện đó
là:Vua phải giữ lễ trong viêc sai xử bề tơi, khơng được dựa vào quyền lực của
mình để đối xử với bề tơi còn bề tơi cần phải có đức trung trong mọi cơng việc
được Vua giao. Vua – tơi hồ thuận trên dưới một lòng là yếu tố rất quan trọng
để nước ta có thể đánh bại được qn xâm lược, bảo vệ tổ quốc làm nên đất
nước với 4000 năm lịch sử.
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN

7
PHẦN HAI
BIỆN CHỨNG VẺ ĐẸP THẨM MỸ TRONG MỐI QUAN HỆ CHA-CON

Trong mối quan hệ cha - con, Nho giáo đòi hỏi người làm cha phải có
đức tính nhân từ , ngưòi làm con phải có đức hiếu lễ.Theo Nho giáo ,hiếu là để
thờ cha mẹ , nó là nguồn gốc của đức nhân. Khi nói tới đức nhân tức là nói đến
lòng u nước thương người , mà muốn u thương ngưòi thì trứoc hết phải u
thương cha mẹ mình, anh em mình. Nho giáo cho rằng, người mà khơng biết
u thương cha mẹ lại có thể đem lòng u thương ngưòi kháclà điều khơng thể
được. Vì vậy, suy đến cùng ,đạo của Vua cũng là đức hiếu lễ : “Trong những
người có nết hiếu, nết đễ, ít ai ưu tráI nghịch với bề trên .Dã khơng ưu trái
nghịch với bề trên, lại thích gây ra những cuộc phản loạn , người như vậy ta
chưa từng thấy. Cho nên bậc qn tử chun chú vào việc gốc. CáI gốc được
vững tốt, tự nhiên đạo lý bắt đầu từ đó mà sinh ra. Vậy làm người mà biết giữ
gìn nết hiếu, nết đễ, tức là biết nắm lấy cái gốc đó.”( Luận ngữ, Vi chính, tiêt 2).
Đối với Nho giáo,“hiếu là cái đạo phải làm của mỗi con ngưòi sống trong
xã hội. Trong xã hội, việc phải làm đầu tiên của mỗi người là cần chịu khó học
tập, rèn luyện bản thân để có thể lập thân, hành đạo, nêu cao thanh danh đến
đời sau để làm vinh hiển cho cha mẹ.”(Hiếu Kinh). Như vậy hiếu đòi hỏi người
con phải:
Thứ nhất: có trách nhiệm làm cho cha mẹ mình được xã hội tơn trọng , mà
chỗ làm cho cha mẹ được tơn trọng chí cực, khơng gì bằng đem cả thiên hạ mà
phụng dưỡng cha mẹ.
Thứ hai: giữ đựoc địa vị của ơng cha, làm theo lễ của ơng cha, tẩu nhạc
như ơng cha, kính những ngưòi mà ơng cha trọng, mến những người mà ơng cha
u, thờ người khác như thờ người sống, trọng ngưòi đã qua như trọng người
đang tồn tại. Để làm được như vậy, theo Khổng Tử khi:”cha còn sống phải xem
xét chí của cha, cha chết rồi xem việc làm của cha, ba năm khơng thay đổi
những gì cha đã dạy, như thế có thể gọi là hiếu vậy” (Luận ngữ, Học nhi, tiết
11).
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN

8
Thư ba: biết phụng dưỡng cha mẹ khi cha mẹ khi cha mẹ còn sống . Điều
đó có nghĩa là khi phụng dưỡng cha mẹ thì phải có sự kính cẩn , phải có lễ
Khổng Tử chỉ rõ: “Đời nay hễ thấy ai ni được cha mẹ thì người ta khen là
người có hiếu . Nhưng những con thú như chó ngựa thì ngưòi ta cũng ni. Cho
nên ni cha mẹ mà chẳng kính trọng thì có khác gì ni thú vật”. ( Luận ngữ,
Vi chính, tiết 7 ).
Khi cha mẹ còn sống thì khơng được đi chơi xa, và có đi đâu cũng phải có
phương hướng nhất định, phải biết giữ gìn thân thể mình để báo đáp cơng ơn
sinh thành dưỡng dục của cha mẹ. Khi cha mẹ đã mất, phải chơn cất cho có lễ,
cúng tế cũng phải giữ cho đủ lễ. Theo Mạnh Tử “Phụng dưỡng cha mẹ khi sinh
tồn, dó chưa kể là việc lớn lao hơn hết của kẻ làm con. Tống táng cha mẹ cơn tử
biệt đó mới là việc trọng đại hơn hết của người hiếu tử” (Mạnh Tử, ly hậu tạ,
tiết 13). Trong việc tang trong Tử Du, chỉ có điều này là gốc: lòng thương đau
chí cực.
Mẫu Tử Khiên tên là Tổn, tự là Tử Khiên người nước Lỗ cuối thời Xn
Thu, một trong những học trò xuất sắc của Khổng Tử, kém Khổng Tử 15 tuổi,
nổi tiếng là người hiếu thuận, đức độ. Chuyện kể rằng, phụ thân của ơng lấy vợ
kế, sinh thêm được hai con trai, ơng hết lòng phụng dưỡng phụ mẫu, cố gắng
làm tròn đạo hiếu, khơng hề lơi lỏng. Thế nhưng, người mẹ kế lại ghét bỏ ơng,
đối với con đẻ mình thì thương u chăm sóc mọi bề, cho chúng mặc áo tơ quần
lụa, còn ơng thì mặc quần áo đệm bằng bơng lau. Những chuyện này phụ thân
ơng khơng hề hay biết.
Đến mùa đơng năm nọ, phụ thân bảo ơng đánh xe cho mình, Mẫu Tử
Khiên lạnh cóng cả tay, khơng điều khiển được, dây cương máy lần tuột khỏi
tay. Phụ thân trách mắng, ơng cũng khơng hề biện bạch. Đến khi phụ thân ơng
quan sát kỹ mới biết là ơng bi lạnh, lấy tay sờ, thấy áo ơng rất mỏng, bèn cởi áo
ơng ra xem, thì thấy bên trong tồn là bơng lau. Trong khi đó, hai đứa con đẻ
của người vợ kế thì được mặc quần áo lượt. Phụ thân vừa xót thương vừa tức
giận, quyết định đuổi người vợ đi. Mẫu Tử Khiên nước mắt hai hàng đến trước
mặt phụ thân van nài:”Nếu cha khơng bỏ mẹ thì chỉ mình con phải chịu rét, nếu
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN

9
cha bỏ mẹ thì cả ba anh em con phải chịu rét. Xin cha hãy nghĩ lại.” Cảm động
trước lời nói của ơng, người cha khơng đuổi vợ nữa. Còn người mẹ kế kể từ đó
cũng ra sức sửa chữa sai lầm trước kia, đối xử với ba đứa con như nhau, cuối
cùng cũng trở thành một người mẹ hiền. Từ đó. Cái tên “người con hiếu thảo”
của Mẫu Tử Khiên được lưu truyền khắp thiên hạ.
Trong kho tàng ca dao, tục ngữ Việt Nam có rất nhiều câu nói về tình cảm
cha mẹ-con cái như:
 “Con có cha như nhà có nóc”
 “Con khơng cha thì con trễ, cây khơng rễ thì cây hư”
 “Một bát cơm cha bằng ba bát cơm rể”
 “Con có mẹ như măng ấp bẹ”
 “Con có nạ(mạ) như thiên hạ có vua”
 “Con biết nói, mẹ hói đầu”
 “Phúc đức tại mẫu”
 “Sẩy cha ăn cơm với cá, sẩy mẹ lót lá mà nằm”
 “Có ni con mới biết lòng cha mẹ”
Hay trong thơ ca Việt Nam thì tình cảm này ln có trong những bài thơ
rất hay, rất xúc động như:
“Con hèn q khơng giúp gì được mẹ
Phơi thân gầy bán xổ số ven đường
Mẹ sinh con mong về già nương tựa
Tóc điểm sương rồi nhìn mẹ mà thương

Sáu mươi tám năm lặn lội dòng đời
Răng đen hạt na ăn trầu đã mỏi
Năm đứa con nghèo khơng đứa nào giúp nổi
Ơng bà già tần tảo ni nhau

Chẳng giám đi qua
Nhìn mẹ mà đau
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN

10
Mà xót xa
mẹ ơi
con thương mẹ
Nắng xế chiều rồi con đâu còn bé
Sợ một ngày kia ân hận q muộn rồi.”
(“Mẹ” – Thế Hùng)
hay:
“Phải đâu mẹ của riêng anh
Mẹ là mẹ của chúng mình đấy thơi.
Mẹ tuy khơng đẻ khơng ni
Mà em ơn mẹ, suốt đời chưa xong.
Ngày xưa má mẹ cũng hồng
Bên anh mẹ thức lo từng cơn đau.
Bây giờ tóc mẹ trắng phau
Để cho mái tóc bây giờ anh đen.
Đâu con dốc nắng đường quen
Chợ xa gánh nặng mẹ lên mấy lần.
Thương anh thương cả bước chân
Giống bàn chân mẹ tảo tần năm nao.
Lời ru mẹ hát thủa nào
Chuyện xưa mẹ kể lẫn vào thơ anh.
Nào là hoa bưởi hoa chanh
Nào câu quan họ mái đình cây đa.
Xin đừng bắt chước câu ca
Đi về dối mẹ để mà u nhau.
Mẹ khơng ghét bỏ em đâu
u anh em đã làm dâu trong nhà.
Em xin hát tiếp lời ca
Ru anh sau mỗi lo âu nhọc nhằn.
Hát tình u của chúng mình
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN

11
Nhỏ nhoi giữa một trời xanh khơn cùng.
Giữa ngàn hoa cỏ núi sơng
Giữa lòng thương mẹ mênh mơng khơng bờ.
Chắt chiu từ những ngày xưa
Mẹ sinh anh để bây giờ cho em.”
Hay:
“Mẹ đừng buồn khi anh ấy u con
Bởi trước con anh ấy là của mẹ
Anh ấy u con một thời tuổi trẻ
Nhưng suốt đời anh u mẹ, mẹ ơi
Hình ảnh mẹ khắc vào tim anh ấy
Dẫu bây giờ con được u đến vậy.
Con cũng chỉ là người thứ hai
Mẹ đừng buồn những hồng hơn, những ban mai
Anh ấy có thể nhớ con nhiều hơn mẹ
Nhưng con chỉ là cơn gió nhẹ
Mẹ mới là bến bờ thương nhớ của đời anh
Con chỉ là một cơn gió mong manh
Những người đàn bà khác có thể thay thế con trong trái tim anh ấy
Nhưng có một tình u âm ỉ cháy
Anh ấy chỉ dành cho mẹ mà thơi
Anh ấy có thể u con đến cuối cuộc đời
Nhưng cũng có thể chia tay nếu ngày mai có thể
Nhưng suốt cuộc đời anh ấy u mẹ
Dẫu thế nào con cũng chỉ là người thứ hai”
( “Người thứ hai” – Phan Thanh Hà)
hay:
Mùa đơng cây bàng khẳng khiu
Gầy guộc sau lần trở dạ
Để cho hoa và lá
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN

12
Cây vắt cạn mình giọt nhựa ni con
Chẳng tính năm, tính tháng, tính ngày
Lá cứ xanh rưng rưng cây thu mình già cỗi
Cha ơi
Cha cũng như cây héo gầy tám mươi năm
Rễ siêng năng nhọc nhằn ni con
khơn lớn
Con như chiếc lá đầu cành xanh đến
biếc cả trời xanh
Nhìn những chiếc lá vàng cuối cùng
lắt lay trong gió
Con nghĩ sẽ có một ngày mất cha
Sẽ khơng nước mắt nào đủ cho một
người cha như thế
Sự liêm trung trác tuyệt đến vơ cùng
(“ Cha ơi” – Thế Hùng)
Người làm con được coi là bất hiếu khi tay chân khơng chịu cử động để
làm một cơng việc gì, chẳng đối hồi đến việc ni dưỡng cha mẹ, đó là điều
bất hiếu thứ nhất vậy. Đánh bạc, đánh cờ, ham uống rượu, chẳng đối hồi đến
việc ni dưỡng cha mẹ, đó là điều bất hiếu thứ hai. Ham mê của cải, chỉ lo liệu
cho vợ con mà thơi, chẳng đối hồi đến việc ni dưỡng cha mẹ, đó là điều bất
hiếu thứ ba. Tai ham nghe tiếng êm, mắt mê nhìn sắc đẹp, để cha mẹ tủi hổ, đó
là điều bất hiếu thứ tư. Thích những việc dũng lực và tranh đấu bạo tợn, khiến
cha mẹ phải nguy khốn, đó là điều bất hiếu thứ năm.( Mạnh Tử, ly thâu hạ, tiết
30)
Như vậy, có thể nói, bất hiếu có ba điều lớn. Một là làm những việc bậy
bạ khiến cho cha mẹ mang nhục. Hai là, nhà nghèo mà cha mẹ lại già yếu nhưng
chẳng chịu ra làm quan để ni cha mẹ. Ba là, khơng có con nối dõi khiến cho
cha mẹ khơng có người hương khói. Trong ba điều bất hiếu thì theo Nho giáo
coi việc khơng có con nối dõi là điều bất hiếu lớn nhất.
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN

13
Đối cha mẹ là người sinh thành ra con cái, khơng có bậc cha mẹ nào lại
khơng thương u con cái mình.Song thương u con cái thơi chưa đủ mà còn
có nghĩa vụ dạy dỗ con cái mình nên người. Khi con cái còn nhỏ, phải lo lắng,
chăm sóc cho con khơn lớn. Khi con cái trưởng thành phải dạy dỗ, uốn nắn và
làm gương cho con cái để con cái biết đạo ứng sử làm người trong xã hội: biết
trung với vua; biét hiếu vối tra me; biết kính trọng người trên; biết lễ với anh
em; biết tín với bạn bè; biết việc nghĩa thì phải làm.Phải biết che chở, bảo vệ
con cái, sẵn sàng bao che cho con cái khỏi phải tội lỗi.

THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN

14
PHẦN BA
BIỆN CHỨNG VẺ ĐẸP THẨM MỸ TRONG MỐI QUAN HỆ
VỢ – CHỒNG

Trong một gia đình thì người chồng phải thương u cợ con phải biết
chăm lo cho vợ con. Người chồng phải có hành động dũng cảm khi gặp khó
khăn, dám lãnh trách nhiệm trọng đại trước tổ quốc, biết gạt bỏ những thèm
muốn có hại, lúc nào cũng có hồi bão vươn lên tìm tòi cái mới lạ, biết nhìn xa
trơng rộng Bên cạnh hồi bão lòng dùng cảm còn phải nghiêm khắc với bản
thân, với con cái. Song khi cần phải biết phục thiện.
Người chồng bao giờ cũng là trụ cột gia đình phải biết dung hồ những
bất đồng trong gia đình, là người trung gian giải quyết mâu thuẫn giữa mẹ chồng
– nàng dâu. Người chồng còn là tấm gương sáng cho con cai noi theo, là chỗ
dựa của con cái, là hình mẫu để con gái chọn người u chọn chồng. Ngược lại
người vợ trong gia đình cần có đức tính: hiền và khơn ngoan, nhiều kinh nghiệm
về tình cảm để hướng dẫn gia đình ngày càng hạnh phúc.
Người vợ khơn ngoan là người biết chiều chồng đúng chỗ, đúng cách,
nhát là phải nhường nhịn chồng, biết sống theo thời cuộc.Một người vợ trong
gia đình tuyệt đối khơng được nói dối. Nói dối chồng là đánh mất lòng tin của
chồng với nình và đã đánh mất lòng tin thì khơng bao giờ chiếm được tình u
của chồng
Người vợ nào cũng ghen. Họ ghen vì tình u thương với chồng con
nhưng ghen thế nào cho đúng.
Trong gia đình tài nấu ăn đối với người vợ là vấn đề thiết thực. Người vợ
khơn ngoan tài năng là người phải biết nấu nướng, chăm sóc chồng con, biết tổ
chức bữa ăn ngon, vừa rẻ vừa hợp lý. Có ăn ngon, ăn vừa miệng thì chồng mới
có thể tìm được nguồn u thành thật bên nhau. Khơng biết nấu nướng là mất đi
1 phần của ngưòi vợ. Có ai đó đã từng nói rằng:” Con đường ngắn nhất là con
đường xun qua dạ dày của đàn ơng.”
Vợ chồng phải tơn trọng nhau: “ Vợ chồng trọng nhau như khách”
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét