Thứ Năm, 20 tháng 2, 2014

Tìm hiểu về từ Hán Việt


1
Từ Hán - Việt

MỞ ĐẦU

Do cuộc xâm lược của các triều đại phong kiến Trung Quốc kéo dài hàng
nghìn năm, một khối lượng lớn các từ Hán du nhập vào, được dân tộc Việt Nam
tiếp thu, làm phong phú thêm nhưng khơng làm mất được bản sắc ngơn ngữ của
mình. Đó là các từ như: cải (rai cải); cả (gía cả); ngà, hẹn, chén, chém, hẹp, lừa
(con lừa), chua, vua, đục (nước đục), buồng, buồm, bụa (gố bụa…). Trong vốn
từ của tiếng Việt hiện nay có đến 75% các từ gốc Hán và từ Hán Việt. Các yếu tố
Hán Việt là một kho dự trữ lớn để tiếng Việt lựa chọn những “ngun liệu” cần
thiết đưa vào vận dộng cấu tạo từ, tạo ra những từ mới đáp ứng kịp thời những
đòi hỏi mới của xã hội. Do vậy trong việc nghiên cứu, học tập và đặc biệt là
trong cơng tác biên soạn sách giáo khoa bậc phổ thơng cần phải được chú trọng.
Cần học tập thật chính xác ý nghĩa và khả năng cấu tạo từ của các đơn vị này để
hiểu và sử dụng một cách đúng đắn.














THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN

2
NỘI DUNG

I. TỪ HÁN VIỆT
1. Ngơn ngữ cũng như các nền văn minh khác bản thân khơng tự túc
(E.d.sapir)
Do nhiều ngun nhân trong cũng như ngồi, ngơn ngữ đã dẫn đến
trong mỗi hệ thống từ vựng của một ngơn ngữ, bên cạnh những đơn vị từ
vựng của ngơn ngữ đó còn có những đơn vị từ vựng được nhập từ ngơn
ngữ khác. Từ góc độ này, hệ thống từ vựng của một ngơn ngữ sẽ được
phana làm hai: (1) hệ thống của những từ bản ngữ và (2) hệ thống của
những từ vay mượn. Trong q trình hồ nhập để trở thành yếu tố của hệ
thống từ vựng mà mình du nhapạ, các từ vay mượn đều trải qua một q
trình đồng hố. Với ý nghĩa này, thuật ngữ “đồng hố” được dùng để chỉ
tất cả những đơn vị từ vựng của một ngơn ngữ này du nhập vào một ngơn
ngữ khác đã thay đổi ít nhiều. Căn cứ vào mức độ đồng hố của các từ
mượn, người ta lại phân chúng thành những nhóm nhỏ hơn: (1) loại đồng
hố hồn tồn và (2) loại đồng hố bộ phanạ.
2. Khi nói đến từ Hán Việt là đã bao hàm sự đồng hố
Trước hết đó là những từ Hán được đồng hố về mặt ngữ âm -
Chúng là những từ Hán có cách đọc Hán Việt, được nhập vào tiếng Việt
và trở thành yếu tố của hệ thống từ vựng tiếng Việt. Vỏ ngữ âm Hán Việt
mà mỗi từ Hán có được là sản phẩm của sự tiếp xúc giữa tiếng Việt với
tiếngHán. Nhờ có hệ thống cách đọc này mà tất cả các tự Hán dù nhập
hay khơng nhập vào tiếng Việt đều có thể đọc lên bằng âm Hán Việt.
Đồng thời, cũng từ đó mà có thể nhận diện được các từ Hán Việt có hệ
thống vốn từ tiếng Việt.
2.1. Về mặt ngữ âm
Trước hết về mặt ngữ âm, các từ Hán khi nhập vào tiếng Việt khơng
phải từ nào cũng tn theo phương thức đồng hố:
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN

3
Một (một vỏ ngữ âm Hán được thay bằng một vỏ ngữ âm Hán Việt).
Trong nhiều tửờng hợp, một từ Hán có thể trở thành 2 hoặc trên 2 từ Việt
gốc Hán nhờ có những vỏ ngữ âm khác nhau (Hán Việt cổ, Hán Việt, Hán
Việt đọc theo âm địa phương Trung Quốc, cách đọc chệch khỏi cách đọc
Hán Việt, Hán Việt Việt hố).
Sự phân biệt giữa từ Hán Việt và từ Hán Việt cổ khơng phải lúc nào
cũng rạch ròi. Khác với các từ Hán Việt được nhập có hệ thống vào thời
cuối Đường, các từ Hán Việt cổ trong kho từ vựng tiếng Việt cũng như
việc phân biệt chúng với các từ Hán Việt khác vẫn còn là một cơng việc
cần phải tiếp tục. Trong bài báo “Một vài kết quả bước đầu trong việc
khảo sát từ Hán Việt cổ” (Ngơn ngữ, số 1, 1985). Tác giả Vương Lộc cho
biết đã tìm được 401 từ Hán Việt cổ.
Nhập vào tiếng Việt, các từ Hán Việt một lần nữ lại chịu sự chi phối
của quy luật hệ thống ngữ âm tiếng Việt. Q trình “phương ngữ hố” các
từ Hán Việt ở mặt ngữ âm lại hình thành nên các cặp đồng nghĩa giữa từ
Hán Việt với các biến thể ngữ âm của chúng. Thí dụ: Sinh - sanh, báo -
biểu, chính - chánh, trường - trang; đương - đang…
2.2.Về mặt nội dung
Các từ hán sau khi được khốc cái vỏ ngữ âm Hán Việt trở thành
yếu tố hệ thống từ vựng tiếng Việt thì có khả năng hoạt động như bất kỳ
một đơn vị từ vựng nào khác.
- Chúng có khả năng hoạt động với dung lượng ngữ nghĩa vốn có
trong ngun ngữ. Thí dụ như nhóm từ chỉ hướng: đơng, tây, nam, bắc
nhóm từ Hán Việt chỉ mùa (thời tiết) Xn, hạ, thu, đơng, những từ chỉ bộ
phận cơ thể tụy, mi, xoang, thai; những từ chỉ số đếm: vạn, ức, triệu.
- Chúng có khảnăng hoạt động như trong ngun ngữ nhưng dung
lượng ngữ nghĩa đã thay đổi. Thí dụ: hồng, bạch, lục, hắn, tẩu, thuyết…
- Chúng vẫn giữ ngun nghĩa như trong ngun ngữ, nhưng khơng
có khả năng hoạt động như trong ngun ngữ (xu hướng trở thành yếu tố
cấu tạo từ). Thí dụ: nhân, bất, gia, khả,…
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN

4
- Chúng thay đổi cả về khả năng hoạt động lẫn dung lượng nghĩa.
Thí dụ: Cực (đẹp cực), tệ (xinh tệ), điên (xấu điên).
2.3. Về mặt cấu tạo từ
- Các từ đa tiết Hán Việt được hình thành từ hai nguồn: (a) Loại
mượn ngun khối từ tiếng Hán, và (b) loại được người Việt tạo ra từ chất
liệu Hán.
Những từ đa tiết Hán Việt mượn ngun khối, trong q trình sử
dụng, được đồng hố ở các mức độ khác nhau: a) chúng được mượn
ngun khối trong tiếng hán cả vè mơ hình cấu tạo lẫn yếu tố cấu tạo từ
(hồ bình, độc lập, kháng chiến, hồ mục, khối lạc); b) chúng vẫn giữ
ngun yếu tố cấu tạo từ nhưng trẹât tự của các yếu tố đã thay đổi (náo
nhiệt/nhiệt náo, ngoại lệ/lệ ngopại; phóng thích/thích phóng; chủ âm/âm
chủ; điểm cao/cao điểm; ý dân/dân ý); c) Chúng giữ ngun mơ hình cấu
tạo từ, trật tự các yếu tố nhưng một trong hai yếu tố đã được thay thế (có
lí, có hậu); và d) chúng đã thay đổi cả trật tự yếu tố và một trong hai yếu
tố (lơng hơng/hồngmao).
Những từ đa tiết Hán Việt do người Việt tạo ra từ chất liệu Hán
(yếu tố cấu tạo từ Hán Việt) và mơ hình cấu tạo từ Hán. Bao gồm: a)
mượn mơ hình cấu tạo Hán trong đó cả hai yếu tố đều là Hán Việt (thứ
trưởng, trung đồn) hoặc một trong hai là yếu tố Hán Việt và được cấu tạo
theo mơ hình cấu tạo từ tiếngHán (học trò, âm kế, nhớt kế); b) các yếu tố
Hán kết hợp theo mơ hình cấu tạo từ tiếng Việt (Viện Phó, trưởng phòng,
trường học).
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN

5
II. BẢNG THỐNG KÊ CÁC TỪ HÁN VIỆT TRONG TIẾNG VIỆT 6
STT
Các từ Hán
Việt
Nghĩa
1 Ngư tinh Con cá sống lâu năm thành u qi
2 Hò tinh Con cáo sống lâu năm thành u qi
3 Mộc tinh Cây sống lâu năm thành u qi
4 Thuỷ cung Cung điện dưới nước
5 Thần nơng Nhân vật trong thần thoại và truyền thuyết đã
dạy lồi người trồng trọt và cày cấy
6 Khơi ngơ (vẻ mặt) sáng sủa, thơng minh
7 (Đóng) đơ Lập kinh đơ
8 Phong Châu Tên gọi một vùng đất cổ, nay chủ yếu thuộc địa
bàn tỉnh Phú Thọ
9 Tổ tiên Cá thế hệ cha ơng, cụ kị, … đã qua đời
10 Tiên vương Từ tơn xưngvua đời trước đã mất(thường cùng
một triều đại) (tiên: trước, trái, nghĩa với hậu:
sau)
11 Chứng giám Soi xét và làm chứng.
12 Hậu ở đây muốn nói cỡ to hơn mức bình thường
13 Sơn hào hải
vị
Những món ăn ngon, q hiếm được chế biến
từ những sản vật ở núi biển; những món ăn q,
ta nói chung (sơn: núi, hào: thức ăn động vạt;
hải: biển; vị: món ăn).
14 Tế Cúng tế
15 Quần thần Các quan trong triều (xét trong quan hệ với
vua)
16 Mĩ vị ở đây chỉ những vật liệu q để làm bánh chưng
17 Thánh Bậc anh minh, tài đức phi thường
18 Thụ Thai Bắt đầu có thai (có chửa, mang bầu…)
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN

6
19 Sứ giả Người vâng mệnh trên (ở đây là vua) đi làm
một việc ở cá địa phương trong nước hoặc nước
ngồi (sứ: người được vua hay nhà nước phái đi
đại diện; giả: kẻ, người).
20 Tráng sĩ Người có sức lực cường tráng, chí khí mạnh
mẽ, hay làm việc lớn (tráng: khoẻ mạnh, to lớn,
cường tráng; sĩ: người trí thức thời xa và những
ngườiđược tơn trọng nói chúng).
21 Trượng Đơn vị đo bằng 10 thước Trung Quốc cổ (tức
3,33mét); ở đây hiểu là rất cao.
22 Lẫm liệt Hùng dũng, oai nghiêm
23 Tàn qn Qn bại trận còn sống sót
24 ẻpmg Bam cjp. Tặng thưởng (chức tước, đất đai, học
vị…)
25 Thiên vương ở đây hiểu là vị tướng nhà trời
26 Phù Giúp đỡ
27 Đổng Chính đốn, trơng coi
28 Cầu hơn Xin được lấy làm vợ (cầu: tìm, kiếm, xin, hơn:
lấy vợ, lấy chồng)
29 Phán Truyền bảo (từ được dùng khi người truyền bảo
là vua chúa, thần linh).
30 Hồng mao ở đây chỉbờm ngựa màu hồng
31 Đơ hộ Đặt ách thống trị lên một nước khác
32 Đức Tiếng tơn xưng vua chúa, thần thánh…)
33 Tuỳ tòng đi theo để giúp iệc (tuỳ : theo; tòng theo, phụ
thuộc)
34 Nam ngọc Gắn ngọc vào(nạm: gắn, dát, đặt kim loại holặc
dá q vào một đồ vật để trang trí)
35 Phó thác Tin ẩnmà giao cho
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN

7
36 Minh cơng Từ ngày xưa thường dùng để tơn xưng người có
danh vị (minh: sáng; cơng: ơng).
37 Tung hồnh Thoả thí hoạt động, khơng gì cản trở được
(tung: dọc; hồnh: ngang).
38 Hồn kiếm Có nghĩa là “trả lại gươm” (hồn: trả; kiếm:
gươm).
39 Phú ơng Người giàu có (phú: giàu, trái nghĩa với bần:
nghèo).
40 Tích sự Có nghĩa là việc làm có lợi ích, kết qủ coi trần
tục, coi đời trên thế gian.
42 Gia nhân Người giúp việc trongnhà (gia: nhà; nhân:
người)
43 Tuấn tú Người con trai có vẻ mạt đẹp và sáng sủa,
thơng minh (tuấn: tài giỏi nổi trội hơn; Tú: đẹp,
tốt)
44 Chiếu điều vua cơng bố (bằng văn bản) cho dân biết
45 Thái tử Con trai vua, người được chọn để sau nối ngơi
vua
46 Gia tài Của cải riêng của một người, một gia đình.
47 Tứ cơ vơ thân Khơng có ai là người thana thích (tứ: bốn: cố:
ngối nhìn; vơ; khơng; thân: người thân)
48 Quận cơng Trước cơng (trước được nhà vua phong)
49 (nước)chư
hầu
Nước bị phụ thuộc , phải phục tùng nước khác.
50 Từ hơn Từ chối khơng kết dun hoặc huỷ bỏ một cuộc
hơn nhân đã đính ước
51 Trẩy kinh đến kinh đơ (trẩy: đến; kinh: kinh đơ)
52 Hồng cung Nơi ở (hồng: vua; cung:cung điện)
53 Cơng qn Nhà dành để tiếp các quan phương xa về kinh
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN

8
54 Triệu Ra lệnh gọi
55 Dụ chỉ Lời vua tun bảo
56 Khảng khái Có tính cách cứng cỏi, kiên cường và rất hào
hiệp, vơ tư vì nghĩa lớn.
57 Xà Rắn, trăn.
58 Sinh phúc Mở lòng nhân từ
59 Nhất phẩm
phu nhân
Vợ của quan nhất phẩm (quan có phẩm hàm cao
nhất trong triều đình phong kiến). (Phu nhân: từ
dùng để chỉ vợ những người có địa vị cao sang
trong xã hội).
60 Hồng Vua
61 Trận lơi đình Cơn giận dữ dội như sấm sét
62 Thị vệ Lính canh gác
63 Tề tựu Cùng đến, đến đơng đủ
64 Nao ở đây là lo sợ
65 Nữ hộ sinh Người phụ nữ làm nghề đỡ đẻ
66 Quan tài Cái hóm để đặt người chết vào
67 Nghĩa địa Khu dất chơn người chết
68 ấu Bé dại
69 Tri thức Những hiểu biết về sự vật nói chung (tri: biết;
thức: biết, nhận biết)
70 Chun cần Chăm chỉ làm việc (chun: chỉ làm hoặc chủ
yếu làm một việc gì; cần: siêng năng, chăm chỉ)
71 đại hiền Người có đạo đức, hiểu biết rộng
72 Giáo dục Dạy đỗ cho nên người (giáo: dạy dỗ; dục: dạy
dỗ, bồi dưỡng)
73 Gia truyền Truyền từ đời này sang đời khác trong phạm vi
gia đình
74 Phụng sự Phục vụ hết lòng
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN

9
75 Trọng vọng Hết sức coi trọng và ngưỡng mộ
76 Q nhân ở đây có nghĩa là người ở bậc cao sang và được
tơn kính
77 Vương phủ Nơi ở và làm việc của các bậc vua chúa, q
tộc phong kiến xưa
78 Tiểu thần Người bề ơi ở bậc nhỏ, thấp, theo cách nói nhún
nhường.
79 Yết kiến Ra mắt người bề trên
80 Xích tử Con đỏ (chỉ những người dân thường)
81 Văn tự sự Là văn kể người và kể việc)
82 Thạch đá
83 Hãnh diện Tự hào sung sướng (về một điều gì )
84 Thiên nhiên Tồn thể sự vật tự nhiên ở xung quanh ta khơng
do người làm ra
86 Thị xã Thị: chợ; xã: một đơn vị hành chính ở nơng
thơn. Thị xã nhỏ hơn thành phố và thường là
trung tâm chính trị, kinh tế, văn hố của một
tỉnh.
87 Phong cảnh Cảnh tự nhiên
88 Thuỷ tinh Thuỷ: nước; tinh: trong suốt; thuỷ tinh: chất đặc
trong suốt được chế tạo từ cát.
89 Cơng tác Cơng việc do cơ quan Nhà nước đồn thể làm ra
(cơng: thợ, thuộc vè kĩ thuật; tác: làm)
90 Kĩ sư Người tốt nghiệp trường đại học kỹ thuật; kinh
tế (kĩ: nghề ; sư: thầy dậy)
91 Giai thoại Câu chuyện thú vị
92 Hồng hơn Hong: màu vàgn, hơn: tối tăm, hòng hơn: lúc
nhá nhem tối.
93 Hơn mê Nói đến tình trạng người khơng tỉnh, mất trí,
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN

10
tuy vẫn còn sống.
94 Thảo luận Bàn bạc, nói chuyện về vấn đề nào đó.
95 (vua) Thuỷ tề Vua ở dưới nước.
96 Động kinh Huy động qn đội chuẩn bị chiến tranh.
97 Lỗi lạc Tài giỏi khác thường, vượt trội người khác
98 Triều thần Các quan lại trong triều đình
99 Sinh phúc Mở lòng nhân từ
100 Phu nhân Từ dùng để chỉ vợ những người có địa vị cao
sang

III. CÁC HƯỚNG NHÌN NHẬN TỪ HÁN VIỆT
1. Triệt để theo quan điểm lịch sử, một số tác giả chủ trương gạt ra
ngồi, khơng cơng nhanạ là từ Hán Việt những từ nào có cách đọc sai,
“khơng đúng với phiên thiết”. Cũng vậy, đốivới các từ đa tiét thì chỉ chấp
nhận những từ Hán Việt mượn ngun khối và còn giữ được vỏ ngữ âm
của cách đọc phiên thiết.
2. Theo một hướng khác, cùng vớiviẹc cơng nhận tất cả những từ có
cách đọc phiên thiết là từ Hán Việt, đồng thời có chiếu cố đến những
trường hợp đã quen dùng, đã được xã hội thừa nhận. Tuy nhiên, ngay ở
hướng giải quyết này cũng mới chỉ nêu rất chung chung và đưa ra một vài
trường hợp quen thuộc như ảo, huyền. Còn các trường hợp khác như sáp -
tháp, thính - chánh (chánh văn phòng, chánh án), chủ - chúa (cơng chúa)
thì khơng được nhắc đến.
3. Theo hướng đồng đại, một số tác giả đã nhận diện từ Hán Việt
thơng qua tiêu chí đồng hố. Họ cho rằng, các từ Hán Việt sẽ được đối xử
như một từ thuần việt một khi chúng có khả năng hoạt động như những từ
thuần Việt khác. Đồng tác giả HồLê - Hồng Văn Hành trong bài “Nhận
xét từ Hán Việt với từ thuần Việt” (nghiên cứu ngơn ngữ học, tập I, 1968)
đã coi những từ Hán Việt như ti, bơ, đỏng… là từ thuần Việt.
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN

11
4. Dùng “cảm thức ngơn ngữ” để xem xét từ Hán Việt của tác giả
Phan Ngọc là một hướng tiếp cận rất đáng chú ý. Tác giả cho rằng “người
nói năng bình thường và viết lách khơng hề quan tâm đến lịch sử. Anh ta
nói và viết dựa vào cái cảm thức ngơn ngữ của mình. Anh ta cảm thấy từ
này thuần việt, từ kia Hán Việt - từ này dễ hiểu, từ kia khó hiểu, từ này
nghe long trọng, từ kia nghe mộc mạc, từ này nghe kêu, từ kia nghe ít âm
hưởng, nghe khơng kêu… Nhưng ấn tượng ấy mơ hồ nhưng có thực”. Từ
suy nghĩ đó, tác giả cho rằng phải quy được các ấn tượng thành cơng thức
và tạo ra mẹo. Sau khi phân tích, tác giả đã đưa ra hai loại âm tiết A và B
(trong số 4 loại âm tiết) giành cho từ Hán Việt “Âm tiết A tự do là bá chủ,
nó q định mọi âm tiết khác”. “Âm tiết B khơng tự do, khơng đơn nhất
là âm tiết Hán Việt”.
IV. Nhận xét, đánh giá
1. Trong khn khổ bài viết này, em chỉ khảo sát 100 từ Hán Việt
trong sách tiếng Việt 6 được sử dụng khá phổ biến. Theo sự đánh giá của
em thì, số lượng từ Hán Việt trong sách tiếng Việt có tần số xuất hiện khá
cao “khoảng 80%”. Cứ khảo sát 10 từ, thì phải có đến 8 từ là từ Hán. qua
đây chúng ta thấy được là số lượng các từ gốc hán và từ Hán Việt trong
vốn từ tiếng Việt chiếm một vị trí khá lớn. Phần lớn các từ Hán Việt được
dùng trong sách giáo khoa tiếng Việt 6 là những từ Hán khá thơng dụng,
có nhiều từ cổ Hán Việt. Khơng thấy từ Hán khá thơng dụng, có nhiều từ
cổ Hán Việt. Khơng thấy xuất hiện từ mới, đa số các từ Hán này đã có
nghĩa ổn định và được coi là “chuẩn” trong vốn từ tiếng Việt.
2. Tuy nhiên, do từ Hán Việt lại được coi với tư cách là đối tượng
dạy - học trong các trường phổ thơng. Chính vì thế, chúng ta cần có thái
độ đúng đắn và cẩn thận khi dạy và học các từ Hán Việt này. Trong số
những kiến thức tiếng Việt cung cấp cho học sinh phổ thơng, thì khái
niệm từ Hán Việt được học sinh biết đến từ lớp 5 (tiếng Việt, lớp 5) và
thuần t chỉ là một khái niệm để học sinh thực hành.
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN

12
Các từ Hán Việt, mà em khảo sảttong sách tiếng Việt 6 là các từ đa
tiết, nhưng ở phần chú thích, chỉ dẫn của sách giáo khoa chỉ giải thích
nghĩa của cả cụm từ đa tiết, chứ khơng phân định thành từng u tố (từ tố)
để giải nghĩa từng từ thì học sinh phổ thơng sẽ vận dụng và hiểu rõ hơn.
Chẳng hạn từ “hãnh diện” ngay bản thân sách cũng khơng phân tích nổi
thành tố mà chỉ giải thích là “hãnh diện: tự hào sung sướng (về một điều
gì) [tiếng Việt, lớp 6, tập 2, tr 13]. Còn nhiều từ khác thì khơng dẫn dắt
được “từ nghĩa của từ tố đến nghĩa của cả từ”. Thí dụ: thiên nhiên: thiên
(trời); nhiên (rộng): thiênnhiên: tồn thể sự vật tự nhiên ở xung quanh ta
khơng do người làm ra (tiếng Việt, lớp 6, tập 1, tr.24).
Do sách giáo khoa khơng tách thành từng yếu tố để giải thích nghĩa
trên làm cho học sinh rất khó học và khó hiểu, khó vận dụng khi các bài
tập đòi hỏi khả năng thực hành cao. Chẳng hạn: phong cách: cảnh tự
nhiên (khơng giải thích từng từ tố). Đó “mở rộng”: phong ba (phong: gío,
ba: sóng) (tiếng Việt, 6, tập 1, tr.22).
Kĩ sư: (khơng giải thích từng từ tố). Người tốt nghiệp trường đại
học kỹ thuật, kinh tế (kĩ sư điện, kĩ sư kinh tế). (tiếng Việt, 6, tập 1, tr
26).
Nếu phần chú thích ở sách giáo khoa chỉ nêu ra các ý nghĩa chung
của cả cụm từ như vậy thì vơ hình chung đã làm cho học sinh lớp 6 hiểu
sai, hoặc hiểu khơng thấu đáo các từ Hán Việt. Biết được ý nghĩa của cụm
từ, nhưng về nghĩa của thành tố (từ tố) thì lại khơng nắm rõ.


THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN

13
KẾT LUẬN

Qua việc khảo sát vốn từ Hán Việt trong sách giáo khoa tiếng Việt
lớp 6. Mặc dù số lượng từ được khảo sát có hạn (100 từ). Nhưng chúng ta
đã thấy có nhiều bất cập và khái niệm từ Hán Việt trong thực tế còn nhiều
điểm bị bỏ ngỏ. Các từ Hán Việt chưa thực sự được hiểu thấu đáo ở bậc
học phổ thơng. Với lượng từ Hán Việt trong vốn từ tiếng Việt là rất lớn.
Chính vì những lí do đó, mà việc học tập, nghiên cứu biên soạn sách giáo
khoa cần phải được thực hiện một cách nghiêm túc và trách nhiệm hơn.
Đặc biệt phải có một phương pháp dạy - học từ Hán Việt đúng đắn, sát
với thực tế.




























THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét