Thứ Ba, 25 tháng 2, 2014

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA XOÁ ĐÓI GIẢM NGHÈO

`

45
3.2. Hạn chế

45
IV. THỰC TRẠNG CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG 47
1. Đói nghèo do hạn chế của chính người nghèo và gia đình họ 48
1.1. Gia đình đông con ít lao động

48
1.2. Thiếu vốn hoặc không có vốn để kinh doanh, chi tiêu không có
kế hoạch

48
1.3. Thiếu hoặc không có kinh nghiệm làm ăn

49
1.4. Thiếu đất, thiếu việc làm và không có nghề phụ kèm theo

49
1.5. Người nghèo không có đủ điều kiện tiếp cận với pháp luật, chưa
được bảo vệ quyền lợi và lợi ích hợp pháp

49
1.6. Điều kiện sản xuất khó khăn, thiếu phương tiện sản xuất

50
1.7. Gặp tai nạn, bệnh tật, sức khoẻ yếu kém, đau ốm

50
1.8. Các tệ nan xã hội và các nguyên nhân khác

50
2. Nguyên nhân do điều kiện tự nhiên 51
3. Các yếu tố xã hội tác động 52
3.1 Nguyên nhân do lịch sử

52
5
`
3.2 Sự tham gia của cộng đồng

52
CHƯƠNG III: MỘT SỐ GIẢI PHÁP VÀ KIỂN NGHỊ THỰC HIỆN VIỆC
XOÁ ĐÓI GIẢM NGHÈO Ở TỈNH HÀ TĨNH ĐẾN NĂM 2010 55
I. PHƯƠNG HƯỚNG VÀ MỤC TIÊU XOÁ ĐÓI GIẢM NGHÈO TỈNH HÀ TĨNH ĐẾN
NĂM 2010 55
1. Căn cứ 55
2. Phương hướng và mục tiêu của tỉnh về xoá đói giảm nghèo 56
2.1. Phương hướng

56
2.2. Mục tiêu về XĐGN

57
II. NHỮNG GIẢI PHÁP CƠ BẢN XOÁ ĐÓI GIẢM NGHÈO 58
1. Đẩy mạnh phát triển kinh tế- xã hội với tốc độ cao, toàn diện và bền
vững; lồng ghép các chương trình, tận dụng các nguồn lực để đầu tư cho
mục tiêu phát triển cộng đồng và XĐGN 58
2. Phát triển nông nghiệp và kinh tế nông thôn để xoá đói giảm nghèo 59
2.1. Nâng cao hiệu quả và đa dạng hoá sản xuất nông nghiệp

59
2.2. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế và đa dạng hoá thu nhập ở nông thôn

60
3. Phát triển công nghiệp tạo việc làm và nâng cao mức sống cho người
nghèo 61
4. Phát triển cơ sở hạ tầng cho các xã nghèo, vùng nghèo, người nghèo
tiếp cận dịch vụ công 62
4.1. Về phát triển và sử dụng điện ở các xã nghèo

63
4.2. Về phát triển đường giao thông

63
6
`
4.3. Về phát triển thuỷ lợi nhỏ và cung cấp nước sạch cho các xã nghèo

65
4.4. Về phát triển mạng lưới thông tin liên lạc, hệ thống phát thanh

66
5. Phát triển các dịch vụ giáo dục, y tế và chương trình kế hoạch hoá
cho người nghèo 66
5.1. Phát triển giáo dục, rút ngắn chênh lệch về thụ hưởng giáo dục đảm
bảo công bằng và nâng cao chất lượng giáo dục cho người nghèo.

66
5.2. Tăng cường các dịch vụ y tế và giảm chi phí y tế cho người nghèo

67
5.3. Thực hiện có kết quả chương trình kế hoạch hoá gia đình và giảm
tốc độ tăng dân số

68
6. Phát triển mạng lưới ASXH giúp đỡ người nghèo 69
7. Thực hiên tốt việc xã hội hoá công tác xoá đói giảm nghèo 69
III. MỘT SỐ KIẾN NGHỊ 71
KẾT LUẬN 73
TÊNTÀILIỆUTHAMKHẢO

75
LỜI CẢM ƠN
Em xin chân thành cảm ơn các thầy giáo, cô giáo của trường, khoa Khoa
học quản lý Trường Đại học Kinh tế quốc dân- Hà Nội đã quan tâm dạy dỗ,
truyền thụ cho em những kiến thức khoa học trong suốt 4 năm học vừa qua.
7
`
Đặc biệt, em bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới PGS.TS Mai Văn Bưu đã tận
tình hướng dẫn và giúp đỡ em trong suốt quá trình nghiên cứu và thực hiện đề
tài:
“ Giải pháp xoá đói giảm nghèo ở tỉnh Hà Tĩnh đến năm 2010”
Đồng thời, em cũng xin chân thành cảm ơn toàn thể cán bộ của Sở Kế
hoạch và Đầu tư tỉnh Hà Tĩnh, đặc biệt là Phòng Kế hoạch Phát triển Kinh tế
ngành đã thường xuyên chỉ bảo em trong quá trình thực tập đồng thời giúp đỡ
em hoàn thành báo cáo thực tập tốt nghiệp này.
Mặc dù bản thân đã có sự cố gắng nỗ lực nhưng không tránh khỏi những
thiếu sót rất mong sự góp ý và cảm thông của thầy, cô giáo và cán bộ Sở Kế
hoạch và Đầu tư tỉnh Hà Tĩnh để giúp em hoàn thiện hơn nữa.
Kính chúc các thầy cô giáo Trường Đại học Kinh tế quốc dân và toàn thể
cán bộ của Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Hà Tỉnh sức khỏe dồi dào và luôn thành
công trong công việc.
Em xin cảm ơn!
Hà Tĩnh, ngày 05 tháng 05 năm 2008
Sinh viên
Nguyễn thị Thùy An
BẢNG LIỆT KÊ CÁC TỪ VIẾT TẮT
XĐGN Xóa đói giảm nghèo
CNH, HĐH Công nghiệp hoá, hiện đại hoá
KHCN Khoa học công nghệ
8
`
QĐ- TTg Quyết định của thủ tướng chính phủ
WB Ngân hàng thế giới
GDP Tổng sản phẩm quốc nội
USD Đô la Mỹ
KCHT Kết cấu hạ tầng
ASXH An sinh xã hội
MTQG Mục tiêu quốc gia
Sở LĐTB&XH Sở Lao động, thương binh và xã hội
Ban MN&DD Ban Miền núi và di dân
BHYT Bảo hiểm y tế
UBND Uỷ ban nhân dân
VSMTNT Vệ sinh môi trường nông thôn
BCH Ban chấp hành
CSHT Cơ sở hạ tầng
HĐND Hội đồng nhân dân
NSNN Ngân sách nhà nước
KHHGĐ Kế hoạch hoá gia đình
BẢNG BIỂU
Biểu 1: Vòng luẩn quẩn của sự nghèo đói
Biểu 2: Phân bổ hộ đói nghèo theo vùng năm 2005 (theo chuẩn mới cho giai
đoạn 2006-2010)
Biểu 3: Diện tích đất đai phân theo mục đích sử dụng
Biểu 4: Một số chỉ tiêu kinh tế tỉnh Hà Tĩnh từ năm 2001- 2007
Biểu 5: Cơ cấu các nhóm cây trồng
Biểu 6: Tình hình phát triển chăn nuôi của tỉnh năm 2007 (Đv: nghìn con
Biểu 7: Cơ cấu lao động năm 2007
9
`
Biểu 8: Dân số và nguồn lao động năm 2007
Biểu 9: Tình hình đói nghèo của tỉnh giai đoạn 2001- 2007
Biểu 10: Tình hình đói nghèo ở các huyện, thị xã năm 2005 và năm 2006
Biểu 11: Các mục tiêu chủ yếu của chương trình XĐGN giai đoạn 2006- 2010
LỜI MỞ ĐẦU
“Nước nhà dành được độc lập, tự do mà dân vẫn còn đói nghèo, cực khổ
thì độc lập, tự do phỏng có ích gì. Một dân tộc dốt là một dân tộc yếu”
(Trích lời Chủ tịch Hồ Chí Minh)
Do đó ngay từ ngày đầu của cách mạng, Người đã đặc biệt chăm lo đến
cuộc sống của người dân. Người coi dốt cũng là giặc, thứ “giặc nội xâm” này
cũng nguy hiểm không kém gì giặc ngoại xâm. Chính vì thế, Chủ tịch Hồ Chí
Minh phát động cuộc thi đua ái quốc, kêu gọi toàn dân ra sức tăng gia sản xuất.
Ngay từ ngày ấy, Người đã có tư tưởng sâu sắc về XĐGN, từng bước phấn đấu
cho đất nước phú cường, nhà nhà hạnh phúc.
10
`
Ngày nay, khi bước sang một thời đại mới CNH, HĐH nhưng chống đói
nghèo vẫn luôn là đề tài nóng bỏng, là vấn đề mang tính toàn cầu và đang thu
hút nỗ lực chung của cả cộng đồng quốc tế.
Đối với Việt Nam, đói nghèo là vấn đề ảnh hưởng đến sự phát triển bền
vững, đồng thời là vấn đề xã hội nhạy cảm nhất. Xoá đói giảm nghèo, khuyến
khích làm giàu một cách chính đáng là một chủ trương lớn của Đảng và Nhà
nước, đó là một trong những vấn đề cơ bản của chính sách xã hội hướng vào
phát triển con người nói chung và người nghèo nói riêng, tạo cơ hội cho họ hoà
nhập vào quá trình phát triển kinh tế- xã hội.
Hoà chung vào phong trào XĐGN của cả nước, với đặc điểm là một tỉnh
nghèo, được sự quan tâm giúp đỡ của Đảng, Nhà nước, các Bộ, ngành Trung
ương, các tổ chức Quốc tế. Đảng Bộ và nhân dân Hà Tĩnh sớm phát động việc
thực hiện phong trào XĐGN, tập trung phát triển kinh tế- xã hội, đảm bảo ổn
định chính trị, giữ vững an ninh, quốc phòng góp phần thực hiện tốt công tác
XĐGN. Tuy nhiên sự phân hoá giàu nghèo, sự chênh lệch về mức sống của các
tầng lớp dân cư diễn ra có ranh giới rõ rệt, là vấn đề xã hội đặc biệt quan tâm.
Mỗi giai đoạn tuy có nội dung và giải pháp khác nhau nhưng đều hướng
tới mục tiêu chung là nâng cao đời sống người dân, theo tâm niệm của Hồ Chí
Minh:“Làm cho người nghèo thì đủ ăn; người đủ ăn thì khá, giàu; người khá,
giàu thì giàu thêm”.
Kế thừa và phát huy những thành tựu đạt được trong công cuộc XĐGN
giai đoạn 2001-2005, đang ở giữa chặng đường giai đoạn 2006-2010, nhưng
Đảng bộ và nhân dân Hà Tĩnh vẫn luôn coi XĐGN là nhiệm vụ hàng đầu để
thực hiện mục tiêu mà Đảng và Nhà nước đặt ra.
Xuất phát từ những vấn đề trên, em xin chọn đề tài thực tập của mình là:
“Giải pháp xoá đói giảm nghèo ở tỉnh Hà Tĩnh đến năm 2010”
Nhằm đánh giá đúng thực trạng đói nghèo, tìm ra nguyên nhân và biện
pháp để XĐGN ở tỉnh Hà Tỉnh.
11
`
Đề tài tập trung nghiên cứu các hộ đói nghèo qua điều tra ở địa bàn tỉnh Hà
Tĩnh trong giai đoạn 2001- 2007, từ đó định hướng giải pháp XĐGN đến năm
2010.
Kết cấu đề tài
Ngoài phần mở đầu và kết luận, đề tài được trình bày trong 3 chương
Chương I: Cơ sở lý luận về xoá đói giảm nghèo
Chương II: Thực trạng nghèo đói và công tác xoá đói giảm nghèo ở tỉnh Hà
Tĩnh
Chương III: Một số giải pháp và kiến nghị thực hiện việc XĐGN ỏ Hà Tĩnh
đến năm 2010.

CHƯƠNG I
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA XOÁ ĐÓI GIẢM NGHÈO
I. QUAN NIỆM VỀ ĐÓI NGHÈO
Xã hội loài người đã phát triển qua nhiều nấc thang lịch sử do trình độ sản
xuất vật chất quyết định. Bằng lao động sản xuất, con người khai thác thiên
nhiên để tạo vật chất nhằm đáp ứng nhu cầu ăn, mặc, ở và nhu cầu khác. Năng
suất lao động càng cao thì của cải càng nhiều, nhu cầu sống được đáp ứng đầy
đủ hơn. Trái lại năng suất lao động thấp của cải vật chất thu được ít, con người
rơi vào cảnh nghèo đói.
Trong xã hội có giai cấp, những người bị áp bức bóc lột phải chịu cuộc
sống cùng cực, thêm vào đó thiên tai chiến tranh gây nên bao cảnh lầm than,
12
`
tang tóc. Đói nghèo không chỉ xuất hiện và tồn tại lâu dài dưới chế độ công xã
nguyên thuỷ, chế độ nô lệ, chế độ phong kiến với trình độ lực lượng sản xuất
kém phát triển mà ngay cả trong thời đại CNH, HĐH ngày nay với cuộc cách
mạng KHCN hiện đại lực lượng sản xuất cao chưa từng thấy, trong từng quốc
gia kể cả quốc gia có trình độ phát triển nhất nghèo đói vẫn tồn tại.
Bên canh sự giàu có phồn vinh của nhiều quốc gia, nhiều tập đoàn, nhiều
cá nhân thì đồng thời nhiều quốc gia, nhiều vùng, nhiều gia đình rơi vào cảnh
nghèo khổ, khốn cùng. Trong xu thế toàn cầu hoá, sự chênh lệch giàu nghèo
ngày càng gia tăng thì vấn đề XĐGN càng trở thành nhiệm vụ và trung tâm của
cả cộng đồng và mỗi quốc gia. Chính vì vậy phải có quan điểm và cách giải
quyết phù hợp. Tuy nhiên mỗi quốc gia, mỗi khu vực nghèo đói phân chia ở
mức độ khác nhau, do đó ta xem xét vấn đề nghèo đói dưới hai quan niệm sau:
1. Quan niệm chung:
Trong đời sống thực tế cũng như trong nghiên cứu khoa học các vấn đề
KTXH, chúng ta thấy khái niệm đói, nghèo hay nghèo khổ, giàu nghèo, phân
hoá giàu nghèo. Ngay khái niệm đói nghèo nếu tách riêng để phân tích và nhận
dạng cũng thấy giữa đói và nghèo, trong cặp đôi này vừa có quan hệ mật thiết
với nhau, vừa có khác biệt về mức độ và cấp độ. Đã lâm vào tình trạng đói (mà
ý nghĩa trực tiếp của nó là đói ăn, thiếu lương thực thực phẩm để duy trì sự tồn
tại của sinh vật và con người) thì đương nhiên là nghèo. Đây vẫn thuần tuý là
đói ăn, nằm trọn trong phạm trù kinh tế- vật chất. Nó khác với đói thông tin, đói
hưởng thụ văn hoá thuộc phạm trù đời sống tinh thần. Quan niệm về nghèo thì
có nghèo tuyệt đối và nghèo tương đối. Tất nhiên dù ở dạng nào thì nghèo vẫn
có quan hệ mật thiết với đói. Nghèo là một kiểu đói tiềm tàng và đói là tình
trạng hiểu nhiên của nghèo. Sự nghèo và nghèo khổ kéo dài, nếu không ra khỏi
cái vòng luẩn quẩn của cảnh trì trệ, túng thiếu thì chỉ cần xảy ra những biến cố
đột xuất của hoàn cảnh (thiên tai, đau ốm, bệnh tật, rủi ro…) là con người dễ
dàng rơi vào cảnh đói (đói khổ, đói rách). Ở đây ta xem xét hiện tượng đói
nghèo ở góc độ đời sống vật chất, góc độ kinh tế tức tính vật chất của nó.
13
`
Cần thấy rằng, tuy đói nghèo và phân hoá giàu nghèo biểu đạt nội dung
kinh tế, có nguồn gốc, căn nguyên kinh tế của nó, song với tư cách là một hiện
tưọng tồn tại phổ biến ở tất cả quốc gia dân tộc trong tiến trình phát triển, đói
nghèo và phân hoá giàu nghèo không bao giờ là hiện tượng kinh tế thuần tuý mà
thực chất là hiện tượng kinh tế- xã hội. Nhưng nó có những nội dung vật chất,
gốc rễ kinh tế bên trong và có quan hệ biện chứng với xã hội chính trị và văn
hoá. Như vậy, đói nghèo và phân hoá giàu nghèo là những khái niệm kép vừa có
mặt kinh tế vừa có mặt xã hội trong nội dung của nó, trong sự phát sinh diễn
biến của nó. Nhân tố chính trị và văn hóa cũng có phần tác động, gây ảnh hưởng
tới hiện trạng, xu hướng và cách thức giải quyết nó. Điều này đặc biệt rõ trong
sự vận động của kinh tế thị trường, của bước chuyển đổi mô hình, cơ chế, chính
sách quản lý, kể cả những biến đổi của cơ cấu kinh tế và cơ cấu xã hội trong thời
kỳ quá độ như ở nước ta. Đặc điểm này có ý nghĩa quan trọng cả về lý luận và
thực tiễn, bởi vì đây là cơ sở của việc tìm kiếm đồng bộ các giải pháp, biện pháp
xoá đói giảm nghèo ở nước ta, nhất là những vùng cư dân nông nghiệp- nông
thôn.
Thực tế cho thấy rõ, các chỉ số xác định đói- nghèo và giàu- nghèo luôn di
động. Ở một thời điểm, với mỗi vùng, mỗi nước nào đó, thì chỉ số đo được đói,
giàu, nghèo nhưng sang một thời điểm khác, so sánh một vùng khác, nước khác,
cộng đồng khác thì chỉ số đo đó có thể mất ý nghĩa. Đây là điểm giải thích vì sao
các nhà nghiên cứu lý luận về vấn đề đói nghèo và phân hoá giàu nghèo lại
thường gắn nó với lý thuyết phát triển.
Sau khi làm rõ những luận cứ chung như những tiền đề phương pháp luận,
chúng ta tìm hiểu quan niệm cụ thể về đói nghèo, chỉ tiêu và chuẩn mực đánh
giá nó.
Vậy “đói nghèo” là gì?
Tại hội nghị bàn về giảm nghèo đói trong khu vực Châu Á- Thái Bình
Dương do ESCAP tổ chức tại Băng Cốc- Thái Lan tháng 9/1993 đã đưa ra định
nghĩa nghèo đói như sau:“ Nghèo đói là tình trạng một bộ phận dân cư không
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét