Đ
Đ
ồ
ồ
á
á
n
n
t
t
ố
ố
t
t
n
n
g
g
h
h
i
i
ệ
ệ
p
p
V
V
i
i
ệ
ệ
n
n
k
k
h
h
o
o
a
a
h
h
ọ
ọ
c
c
c
c
ô
ô
n
n
g
g
n
n
g
g
h
h
ệ
ệ
v
v
à
à
m
m
ô
ô
i
i
t
t
r
r
ư
ư
ờ
ờ
n
n
g
g
Võ Thành Hiểu CNMT K47-QN
5
như phân, thịt nội tạng động vật, cặn thực phẩm khi chế biến món ăn dẫn tới nước
thải sau bể tự hoại hàm lượng chất ô nhiễm giảm đi không đáng kể. Đồng thời một tính
chất đặc trưng nữa của nước thải thành phố là không phải tất cả các chất hữu cơ đều có
thể bị phân hủy bởi các vi sinh vậ
t và khoảng 20 đến 40% BOD
5
thoát ra khỏi các quá
trình xử lý sinh học cùng với bùn.
1.3. Hiện trạng môi trường
1.3.1. Môi trường nước mặt ở khu vực thành phố ngày càng bị ô nhiễm hơn
Nguồn nước thải từ sinh hoạt, dịch vụ và sản xuất vẫn chưa được xử lý và ngày
càng gia tăng, đã vượt quá khả năng tự làm sạch của tất cả các sông, hồ trong nội
thành.
Điển hình như
ở Hà Nội theo thống kê của cơ quan chức năng vào ngày 20/04/2007,
Hà Nội hiện có 369 nhà máy, xí nghiệp, 15880 cơ sở sản xuất tư nhân, 10 khu công
nghiệp, 29 bệnh viện và hơn 1000 cơ quan, trường học.
Trong số các cơ quan, đơn vị kể trên chỉ có 40 nhà máy, xí nghiệp, 25 cơ sở dịch vụ và
10 bệnh viện đầu tư xây dựng hệ thống xử lý nước thải, số nước thải còn lạ
i đều xử
thẳng vào hệ thống thoát nước chung của thành phố. Mặc dù, Hà Nội đã được đầu tư
hàng trăm tỷ đồng để xây dựng các trạm xử lý nước thải nhưng hiệu quả đem lại vẫn
chưa cao.
Đi dọc những con sông của Hà Nội, người ta dễ dàng nhìn thấy tình trạng ô nhiễm
nước thải đã ở mức báo động. Ven bờ các sông Nhu
ệ, Tô Lịch, Kim Ngưu có hàng
trăm cống tiêu thoát nước đã xả thẳng xuống lòng sông mang theo ” trăm thứ ” từ bùn
đất, rác thải sinh hoạt, rác thải y tế, và cả chất thải công nghiệp chảy ra từ các cơ sở
sản xuất. Vì nước thải chưa qua xử lý, lại lưu trữ lâu ngày tạo nên màu đen và rất hôi
tanh. Cứ vài thàng, công ty thoát nước Hà Nội lại tiến hành nạo vét lòng sông nhưng
rốt cuộ
c đâu cũng vào đó bỡi vì lượng bùn đất lắng đọng dưới lòng sông quá lớn. Tại
các đầu cống thoát, không chỉ có rác thải sinh hoạt, rác thải y tế đơn thuần như bông
băng mà còn có bệnh phẩm sau phẩu thuật. Đây thực sự là nguồn gây bệnh lớn, ảnh
hưởng tới sức khỏe cộng đồng. Trong số 29 bệnh viện trên địa bàn Hà Nội có 10 bệnh
viện lớn như B
ạch Mai, Nhi, bệnh viện Trung Ương Quân Đội (108) có trạm xử lý
nước thải cục bộ, số còn lại nước thải đều xả thẳng vào hệ thống tiêu thoát chung của
thành phố.
Đ
Đ
ồ
ồ
á
á
n
n
t
t
ố
ố
t
t
n
n
g
g
h
h
i
i
ệ
ệ
p
p
V
V
i
i
ệ
ệ
n
n
k
k
h
h
o
o
a
a
h
h
ọ
ọ
c
c
c
c
ô
ô
n
n
g
g
n
n
g
g
h
h
ệ
ệ
v
v
à
à
m
m
ô
ô
i
i
t
t
r
r
ư
ư
ờ
ờ
n
n
g
g
Võ Thành Hiểu CNMT K47-QN
6
Theo số liệu quan trắc về mức độ ô nhiễm nước thải của công ty Thoát nước Hà Nội
cho thấy hàm lượng các chất bẩn, các chất hữu cơ, kim loại nặng gây ô nhiễm tại các
nhánh cống thoát nước thải ở mức độ cao. Hàm lượng Amoni ở các sông cao hơn gấp
12 đến 59 lần tiêu chuẩn cho phép, hàm lượng BOD
5
dao động từ 35 – 220 mg/l, hàm
lượng COD thường xuyên cao gấp 1,5 – 1,9 lần so với tiêu chuẩn cho phép, lượng oxy
hòa tan trong nước thấp dễ gây mùi hôi thối, đặc biệt vào những ngày thời tiết ôi bức.
Nguyên nhân dẫn đến thực trạng trên, là do lượng nước thải trung bình của thành phố
mỗi ngày thải ra khoảng 450000 m
3
, trong khi đó chỉ có 5% nước thải qua khâu xử lý,
còn lại 95% được đổ thẳng xuống sông hồ. Loại trừ 10 bệnh viện và một số khu công
nghiệp lớn, hàng chục ngàn cơ quan, đơn vị và các khu dân cư khác đều không có trạm
xử lý nước thải nội bộ. Điều này dẫn đến hệ thống thoát nước chung của thành phố
luôn trong tình trạng quá tải và nguồn nước mặt ngày càng bị ô nhiễm nặng n
ề.
Trước những đòi hỏi bức xúc, trong vài năm gần đây Ủy Ban Nhân Dân thành phố đã
đầu tư xây dựng 3 trạm xử lý nước thải là: Trúc Bạch, Kim Liên, Bắc Thăng Long –
Vân Trì. Hiện tại, các trạm xử lý nước thải đã đi vào hoạt động nhưng hiệu quả chưa
được như mong muốn. Nhưng không chỉ ở Hà Nội mà ở các thành phố khác cũng đang
đứng trước nguy c
ơ ô nhiễm tiềm tàng đặc biệt là các thành phố du lịch lượng nước
thải nhiều.
Nước thải sinh hoạt sinh ra từ những thành phố là nguyên nhân chính (chiếm 70
– 80%) gây ra ô nhiễm các chất hữu cơ đối với môi trường nước mặt ở khu vực nội
thành và ngoại thành, [8]. Hầu như tất cả các thành phố đều không có hệ thống xử lý
nước thải tập trung. mặc dù trong thời gian qua ở nhiều thành ph
ố, đặc biệt ở những
thành phố du lịch đã tiến hành nạo vét, kè bờ sông hồ, kênh rạch , việc này không thể
làm giảm lượng thải chất ô nhiễm, cho nên dự báo quá trình gia tăng ô nhiễm nước
mặt ở các thành phố còn tiếp diễn 10 đến 20 năm nữa.
1.3.2. Sự hình thành hệ thống thoát nước và các yêu cầu giải quyết thoát nước, xử
lý nước thải tại các thành phố nước ta
Việt Nam nằm ở khu vực nhiệt đới gió mùa với đặc trưng khí hậu là nhiệt ẩm:
mưa nhiều, độ ẩm lớn, nhiệt độ và độ bức xạ cao. Chế độ khí hậu được chia làm hai
mùa rõ rệt: mùa mưa và mùa khô. Lượng mưa trung bình hàng năm ở nước ta 2000
mm, tuy nhiên sự phân bố mưa không đều theo không gian và thời gian sẽ ảnh hưởng
rất lớn đến thoát nước và chất lượng môi trườ
ng nước ở các đô thị.
Đ
Đ
ồ
ồ
á
á
n
n
t
t
ố
ố
t
t
n
n
g
g
h
h
i
i
ệ
ệ
p
p
V
V
i
i
ệ
ệ
n
n
k
k
h
h
o
o
a
a
h
h
ọ
ọ
c
c
c
c
ô
ô
n
n
g
g
n
n
g
g
h
h
ệ
ệ
v
v
à
à
m
m
ô
ô
i
i
t
t
r
r
ư
ư
ờ
ờ
n
n
g
g
Võ Thành Hiểu CNMT K47-QN
7
Các thành phố và các khu trung tâm kinh tế ở nước ta là phần lớn tập trung tại
các châu thổ các sông lớn và vùng duyên hải. Đây là vùng địa hình tương đối bằng
phẳng, thường bị ảnh hưởng của mưa lũ và chế độ triều. Trước đây tốc độ đô thị hóa
của Việt Nam chậm. Nhưng trong những năm gần đây, tốc độ đô thị hóa tăng lên rõ
rệt, các thành phố
ở nước ta có nhiều loại và phân ra làm 5 cấp với quy mô từ hàng
nghìn đến hàng triệu dân. Kết cấu hạ tầng kỹ thuật cơ sở các thành phố nước ta đặc
biệt là hệ thống thoát nước lại rất yếu kém không đáp ứng được nhu cầu sinh hoạt ngày
càng tăng của xã hội, cũng như quá trình đô thị hóa nhanh ở nước ta.
Các thành phố của nước ta chỉ có hệ thống thoát nước chung,
ở nhiều thành phố
hệ thống thoát nước chưa được hình thành rõ nét như thành phố Quy Nhơn, thành phố
Tuy hòa Trong nội thành chủ yếu tồn tại các tuyến cống thoát nước mưa có tiếp nhận
cả nước thải, phần lớn các tuyến cống xây dựng từ thời Pháp. Mạng lưới cống thu gom
và thoát nước thiếu, cho nên úng ngập thường xuyên xảy ra trong các thành phố, hầu
hết nước thải từ các thành ph
ố, thị xã, thị trấn, các khu dân cư, các khách sạn, nhà
hàng, khu giải trí chưa được xử lý, xả trực tiếp ra sông, hồ gây ô nhiễm môi trường,
ảnh hưởng tới sức khỏe của người dân và mất mỹ quan thành phố, đặc biệt là ở những
thành phố du lịch.
Trong quá trình công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước, tốc độ phát triển ở
những thành phố và khu công nghiệp sẽ tăng lên rõ rệt. Ở nh
ững thành phố thành phố
và khu công nghiệp là đối tượng sử dụng nước và xả nước thải tập trung lớn nhất. Vấn
đề này cùng với lượng nước mưa không đều và quá lớn gây nên sự quá tải đối với các
cơ sở hạ tầng, phát sinh ra những vấn đề ô nhiễm môi trường tiềm tàng.
Giải quyết tốt vấn đề thoát nước và xử lý nước thải trước khi xả ra nguồ
n tiếp
nhận là một yêu cầu cấp bách nhằm bảo vệ môi trường đảm bảo sức khỏe cho người
dân và tạo điều kiện cho thành phố du lịch, cũng như các thành phố khác trên toàn
quốc ngày càng phát triển ổn định, bền vững.
Định hướng phát triển thoát nước ở các thành phố đến năm 2020 của bộ xây
dựng đã chỉ rõ mục tiêu trước mắt là ưu tiên giải quyế
t thoát nước mưa, cải tạo nâng
cấp hệ thống thoát nước thải trong các thành phố, và xây dựng hệ thống thoát nước
mưa đạt tiêu chuẩn Quốc gia, hoặc Quốc Tế ở các khu công nghiệp, khu chế xuất, đặc
biệt là ở các thành phố lớn. Mục tiêu lâu dài đến năm 2020 là giải quyết một cách cơ
bửn vấn đề thoát nước đô thị, bao gồm cả nước mưa và nước th
ải nhằm đảm bảo cho
môi trường đô thị được bảo vệ và nâng cấp. Một trong những biện pháp chủ yếu thực
hiện mục tiêu phát triển thoát nước ở thành phố là hiện đại hóa công nghệ, áp dụng
Đ
Đ
ồ
ồ
á
á
n
n
t
t
ố
ố
t
t
n
n
g
g
h
h
i
i
ệ
ệ
p
p
V
V
i
i
ệ
ệ
n
n
k
k
h
h
o
o
a
a
h
h
ọ
ọ
c
c
c
c
ô
ô
n
n
g
g
n
n
g
g
h
h
ệ
ệ
v
v
à
à
m
m
ô
ô
i
i
t
t
r
r
ư
ư
ờ
ờ
n
n
g
g
Võ Thành Hiểu CNMT K47-QN
8
công nghệ thoát nước thải phù hợp với tính chất, quy mô từng thành phố cộng với các
điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội trong quy hoạch tổng thể thành phố.
1.4. Một số giải pháp làm giảm ô nhiễm nguồn nước ở các thành phố
Tiến hành xử lý nước thải cục bộ trước khi thải ra môi trường tiếp nhận. Chẳn
hạn nước thải sinh hoạt từ những khách sạ
n, nhà hàng, khu giải trí phải thu gom, xử
lý trước khi xử ra cống thoát nước chung của thành phố.
Xây dựng mạng lưới hệ thống thoát nước đáp ứng với được nhu cầu phát triển
của từng thành phố.
Tiến hành xây dựng hệ thống thu gom nước mưa để tái sử dụng hoặc xây dựng
hệ thống thoát nước mưa riêng.
Vận động người dân thực hiện việc tiế
t kiệm nước, xây dựng bể tự hoại đạt tiêu
chuẩn ở từng hộ gia đình.
Yêu cầu các cơ sở sản xuất phải có hệ thống xử lý nước thải sơ bộ trược khi thải
ra cống thoát nước chung của thành phố.
Đ
Đ
ồ
ồ
á
á
n
n
t
t
ố
ố
t
t
n
n
g
g
h
h
i
i
ệ
ệ
p
p
V
V
i
i
ệ
ệ
n
n
k
k
h
h
o
o
a
a
h
h
ọ
ọ
c
c
c
c
ô
ô
n
n
g
g
n
n
g
g
h
h
ệ
ệ
v
v
à
à
m
m
ô
ô
i
i
t
t
r
r
ư
ư
ờ
ờ
n
n
g
g
Võ Thành Hiểu CNMT K47-QN
9
Chương 2
TỔNG QUAN MỘT SỐ PHƯƠNG PHÁP XỬ LÝ NƯỚC THẢI
2.1. Xử lý nước thải bằng phương pháp cơ học
Trong nước thải thường có các loại tạp chất rắn với kích cỡ khác nhau bị cuốn
theo dòng thải, như rơm rạ, cây cành, bao bì chất dẻo, dầu mỡ nổi, cát, sỏi…. Ngoài ra,
còn có các hạt lơ lửng ở dạng huyền phù rất khó lắng. Tùy theo kích cỡ, các hạt huyền
phù được chia thành hạt rắn lơ lửng có thể lắng được, h
ạt chất rắn keo được khử bằng
đông tụ.
Các loại tạp chất trên dùng các phương pháp xử lý cơ học là thích hợp (trừ hạt
dạng chất rắn keo).
Trong xử lý nước thải đô thị việc đầu tiên là đưa nước thải vào đường cống có
các song chắn rác, nước thải công nghiệp cũng qua song chắn rác và có thể thêm lưới
chắn rác (với kích thước lỗ nhỏ hơn).
2.1.1. Song chắn rác
Song chắn rác nhằm giữ lại các vật thô, như, giấy, rác, vỏ hộp, mẫu đất đá,
gỗ…. Song được làm bằng những thanh kim loại không gỉ, sắp xếp cạnh nhau và hàn
cố định trên khung thép, được đặt trên mương dẫn nước. Thanh dùng làm song chắn
thường có dạng hình tròn hoặc hình bầu dục.
Song chắn rác đặt nghiên theo chiều dòng chảy một góc 50 đến 90
0
, ta chọn góc
nghiên 60
0
để dễ dàng kéo rác lên nhờ động cơ.
Song chắn rác có những ưu nhược điểm như sau:
+ Ưu điểm
Cấu tạo đơn giản.
Dễ dàng lắp đặt, vận hành, thay thế.
Tổn thất thuỷ lực nhỏ.
2.1.2. Lưới lọc
Cấu tạo gồm các tấm thép mỏng có đục lỗ hoặc dây thép đan với nhau có chiề
u
rộng mắt lưới không lớn hơn 5 mm. Lưới lọc cũng có những ưu nhược điểm như sau:
Đ
Đ
ồ
ồ
á
á
n
n
t
t
ố
ố
t
t
n
n
g
g
h
h
i
i
ệ
ệ
p
p
V
V
i
i
ệ
ệ
n
n
k
k
h
h
o
o
a
a
h
h
ọ
ọ
c
c
c
c
ô
ô
n
n
g
g
n
n
g
g
h
h
ệ
ệ
v
v
à
à
m
m
ô
ô
i
i
t
t
r
r
ư
ư
ờ
ờ
n
n
g
g
Võ Thành Hiểu CNMT K47-QN
10
+ Ưu điểm
Giữ lại được rác có kích thước nhỏ, các sản phẩm cần thu hồi.
Nước thải sau khi đi qua lưới lọc có cặn rác ít.
+ Nhược điểm
Cấu tạo tương đối phức tạp.
Rất khó thay thế, sửa chữa.
Rất khó vệ sinh lưới.
Lưới lọc chỉ thích hợp khi xử lý nước th
ải công nghiệp cần thu hồi sản
phẩm trong nước thải.
Vậy với yêu cầu hiệu quả, đơn giản trong xây dựng, vận hành và không phải
thu hồi các rác trong nước thải thì việc chọn song chắn rác là phù hợp và kinh tế hơn.
2.1.3. Lắng cát
Bể lắng cát dùng để loại những hạt cặn lớn vô cơ chứa trong nước thải mà chủ
yếu là cát. Trên trạm xử lý nước thải n
ếu để cát lắng lại trong các bể lắng sẽ gây khó
khăn cho công tác lấy cặn. Trong cặn có cát làm cho các ống dẫn bùn không hoạt động
được, máy bơm chóng hỏng. Đối với bể metan và bể lắng hai vỏ thì cát là chất thừa….
Do đó việc xây dựng bể lắng cát trên các trạm xử lý khi lưu lượng nước thải lớn hơn
100 m
3
/ngày là cần thiết.
Dưới tác dụng của lực trọng trường, các phần tử rắn có tỷ trọng lớn hơn tỷ trọng
của nước sẽ được lắng xuống đáy trong quá trình nước thải chuyển động qua bể lắng
cát.
Bể lắng cát phải được tính toán với tốc độ dòng chảy đủ lớn (0,3 m/s) để các
phần tử hữu cơ nhỏ không lắ
ng được và nó phải đủ nhỏ (0,15 m/s) để cát và các tạp
chất rắn vô cơ giữ lại được trong bể. Bể thường được tính toán để giữ lại các hạt cát có
độ lớn thủy lực 18 – 24 mm/s (đường kính hạt 0,2 – 0,25 mm), dựa vào sự chuyển
động của dòng nước mà người ta có thể phân loại bể lắng cát như sau:
1. Bể lắng cát ngang
Bể lắng cát ngang có dạng hình chữ nhật, nước thải chả
y từ đầu bể tới cuối bể, tốc
độ dòng nước chảy trong bể thay đổi từ 0,15 đến 0,3 mm/s, chiều sâu công tác của bể
từ 0,25 đến 1 m.
Đ
Đ
ồ
ồ
á
á
n
n
t
t
ố
ố
t
t
n
n
g
g
h
h
i
i
ệ
ệ
p
p
V
V
i
i
ệ
ệ
n
n
k
k
h
h
o
o
a
a
h
h
ọ
ọ
c
c
c
c
ô
ô
n
n
g
g
n
n
g
g
h
h
ệ
ệ
v
v
à
à
m
m
ô
ô
i
i
t
t
r
r
ư
ư
ờ
ờ
n
n
g
g
Võ Thành Hiểu CNMT K47-QN
11
+ Ưu điểm
Hiệu suất lắng cao, chế độ làm việc ổn định.
Xây dựng, vận hành đơn giản.
Có thể thu cát bằng thủ công hoặc bằng cơ giới.
Chiều cao xây dựng nhỏ cho nên chi phí xây dựng thấp.
+ Nhược điểm
Chiếm nhiều diện tích xây dựng.
Thời gian lưu nước lớn.
2. Bể l
ắng cát đứng
Bể lắng cát đứng có dạng hình tròn hay hình vuông, nguyên tắc hoạt động là
nước dâng từ dưới lên trên theo thân bể. Chuyển động của nước thải vòng quanh phần
hình trụ của bể và dâng từ dưới lên trên tạo nên một chuyển động vừa xoay tròn vừa
xoắn theo thân bể dâng lên. Trong khi đó các hạt cát tập trung về phía ống trung tâm,
chuyển động ngược lại do lực hấp dẫn và rơi xuống đáy bể
, nhờ vậy mà cát được rửa
sạch từng phần khỏi những chất hữu cơ bám dính.
+ Ưu điểm
Cát lắng sạch, ít chất hữu cơ dính bám.
Xây dựng và vận hành đơn giản.
Tải trọng bề mặt cao.
Chiếm ít diện tích.
+ Nhược điểm
Chiều cao xây dựng lớn nên chi phí xây dựng cao.
Hiệu suấ
t lắng thấp hơn bể lắng cát ngang.
Xây dựng nhiều bể.
3. Bể lắng Radian
Nước thải chảy từ ống trung tâm ra thành bể, các hạt cát được tách ra khỏi dòng
nước nhờ trọng lực. Cát, cặn lắng xuống đáy được máy gạt cào về hố thu cặn, nước
thải sau khi lắng được dẫn ra khỏi bể qua máng thu xung quanh bể.
+ Ưu điểm
Hi
ệu suất lắng cao, chế độ làm việc ổn định.
Vận hành dễ dàng.
Đ
Đ
ồ
ồ
á
á
n
n
t
t
ố
ố
t
t
n
n
g
g
h
h
i
i
ệ
ệ
p
p
V
V
i
i
ệ
ệ
n
n
k
k
h
h
o
o
a
a
h
h
ọ
ọ
c
c
c
c
ô
ô
n
n
g
g
n
n
g
g
h
h
ệ
ệ
v
v
à
à
m
m
ô
ô
i
i
t
t
r
r
ư
ư
ờ
ờ
n
n
g
g
Võ Thành Hiểu CNMT K47-QN
12
Diện tích xây dựng nhỏ hơn so với bể lắng cát ngang.
+ Nhược điểm
Xây dựng tương đối phức tạp.
Chiều cao xây dựng lớn, không phù hợp với những địa điểm có mực
nước ngầm cao và kính phí xây dựng lớn.
Thời gian lưu nước dài
Vì với yêu cầu xây dựng và vận hành đơn giản, hiệu suất lắng cao, chiều cao
xây dựng thấp thì việc lựa chọn bể lắng cát ngang nước chuyển động thẳng là thích
hợp nhất.
2.1.4. Bể lắng sơ cấp
1. Bể lắng ngang
Nước thải chảy theo phương ngang từ đầu bể đến cuối bể. Các hạt cặn được
tách ra khỏi nước thải nhờ trọng lực.
+ Ưu điểm
Chiều cao xây dựng nhỏ
.
Xây dựng và vận hành đơn giản.
Hiệu suất lắng cao.
Có thể áp dựng với lưu lượng nước thải lớn.
+ Nhược điểm
Chiếm nhiều diện tích xây dựng.
Thời gian lưu nước lớn.
2. Bể lắng đứng
Bể lắng đứng thường mặt bằng hình tròn hoặc hình vuông, đáy có dạng hình
nón hay hình chóp cụt.
Nước thải được dẫn vào ống trung tâm và sau khi ra khỏi ống trung tâm nước
thải va vào tấm chắn và thay đổi hướng đứng sang hướng ngang rồi dâng lên theo thân
bể. Nước thải sau khi lắng được dẫn ra ngoài bằng máng thu đặt xung quanh thành bể.
+ Ưu điểm
Chiếm diện tích xây dựng ít hơn so với bể lắng ngang.
Thuận tiện trong công tác xả cặn.
Đ
Đ
ồ
ồ
á
á
n
n
t
t
ố
ố
t
t
n
n
g
g
h
h
i
i
ệ
ệ
p
p
V
V
i
i
ệ
ệ
n
n
k
k
h
h
o
o
a
a
h
h
ọ
ọ
c
c
c
c
ô
ô
n
n
g
g
n
n
g
g
h
h
ệ
ệ
v
v
à
à
m
m
ô
ô
i
i
t
t
r
r
ư
ư
ờ
ờ
n
n
g
g
Võ Thành Hiểu CNMT K47-QN
13
+ Nhược điểm
Hiệu suất lắng thấp.
Chiều cao xây dựng lớn nên không thích hợp với nơi có mực nước ngầm
cao và làm tăng giá thành xây dựng.
Số lượng bể nhiều.
3. Bể lắng Radian
Bể Radian có mặt bằng hình tròn, nước thải đưa vào xử lý chảy từ trung tâm ra
xung quanh thàn. Nước thải chảy theo ống trung tâm từ dưới lên trên rồi phân phối vào
bể
. Các hạt cặn tách ra khỏi dòng nước nhờ trọng lực, bùn cặn lắng xuống đáy được
máy gạt cặn cào về hố thu cặn. Nước sau khi lắng được dẫn ra khỏi bể bằng máng thu
xung quanh bể.
+ Ưu điểm
Hiệu suất lắng cao, chế độ làm việc ổn định.
Vận hành dễ dàng.
Diện tích xây dựng nhỏ hơn so với bể
lắng ngang.
+ Nhược điểm
Xây dựng tương đối phức tạp.
Chiều cao xây dựng lớn, không thích hợp với những vùng có mực
nước ngầm cao. Thời gian lưu nước lâu.
Với những yêu cầu như xây dựng và vận hành đơn giản, hiệu suất lắng cao,
chiều cao thấp thì việc lựa chọn bể lắng ngang là thích hợp nhất.
2.1.5. Bể tách dầu mỡ
Trên mạng lưới thu gom nước thải của đô thị có thể có các nhà máy xí nghiệp
xả nước thải có lẫn dầu mỡ vào. Để tách lượng dầu mỡ này, phải đặt thiết bị thu gom
trước cửa xả vào cống chung hoặc trước bể điều hòa ở nhà máy.
2.1.6. Lọc cơ học.
Lọc được dùng trong nước thải để tách các tạp chất phân tán nhỏ khỏi nước th
ải
mà bể lắng không lắng được. Trong các loại phin lọc thường có loại phin lọc dùng vật
liệu lọc dạng tấm và loại hạt. Vật liệu lọc dạng tấm có thể làm bằng tấm thép có đục lỗ
hoặc lưới bằng thép không gỉ, nhôm, niken… và cả các loại vải khác nhau. Tấm lọc
Đ
Đ
ồ
ồ
á
á
n
n
t
t
ố
ố
t
t
n
n
g
g
h
h
i
i
ệ
ệ
p
p
V
V
i
i
ệ
ệ
n
n
k
k
h
h
o
o
a
a
h
h
ọ
ọ
c
c
c
c
ô
ô
n
n
g
g
n
n
g
g
h
h
ệ
ệ
v
v
à
à
m
m
ô
ô
i
i
t
t
r
r
ư
ư
ờ
ờ
n
n
g
g
Võ Thành Hiểu CNMT K47-QN
14
cần có trở lực nhỏ, đủ bền và dẻo cơ học, không bị trương nở và bị phá hủy ở điều kiện
lọc.
Vật liệu lọc dạng hạt là cát thạch anh, than gầy (anthracit), than cốc, sỏi, đá
nghiền, thậm chí cả than nâu, than bùn hay than gỗ.
2.2. Xử lý nước thải bằng phương pháp hóa lý
2.2.1. Phương pháp tuyển nổi
Phương pháp tuyển nổi thường
được sử dụng để tách các tạp chất rắn tan hoặc
không tan hoặc lỏng có tỷ trọng nhỏ hơn tỷ trọng của chất lỏng làm nền. Trong xử lý
nước thải tuyển nổi thường được sử dụng để khử các chất lơ lửng và nén bùn cặn. Ưu
điểm của phương pháp này so với phương pháp lắng là có thể khử được hoàn toàn các
hạt nhỏ nhẹ, l
ắng chậm trong thời gian ngắn.
Phương pháp tuyển nổi dựa trên nguyên tắc: Các phần tử phân tán trong nước
có khả năng tự lắng kém, nhưng có khả năng kết dính vào các bọt khí nổi lên trên bề
mặt nước. Sau đó người ta tách các bọt khí cùng các phần tử dính ra khỏi nước. Thực
chất đây là quá trình tách bọt hoặc làm đặc bọt, trong một số trường hợp được dùng để
tách các chất hòa tan như các chấ
t hoạt động bề mặt.
Phương pháp tuyển nổi được dùng rộng rãi trong luyện kim, thu hồi khoáng sản
quý và cũng được dùng trong lĩnh vực xử lý nước thải.
Quá trình này được thực hiện nhờ thổi không khí thành bọt nhỏ vào trong nước
thải. Các bọt khí dính các hạt lơ lửng lắng kém và nổi lên mặt nước. Khi nổi lên các
bọt khí tập hợp thành bông hạt đủ lớn, rồi tạo thành một lớ
p bọt chứa nhiều các hạt
bẩn.
Tuyển nổi bọt nhằm tách các chất lơ lửng không tan và một số chất keo hoặc
hòa tan ra khỏi pha lỏng. Kỉ thuật này có thể dùng cho xử lý nước thải đô thị và nhiều
lĩnh vực công nghiệp như chế biến dầu béo, thuộc da, dệt, chế biến thịt…
Tuyển nổi có thể đặt ở giai đoạn xử
lý sơ bộ trước khi xử lý cơ bản, bể tuyển
nổi có thể thay thế cho bể lắng, trong dây chuyền nó đứng trước hoặc sau bể lắng,
đồng thời cũng có thể ở giai đoạn xử lý bổ sung sau xử lý cơ bản.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét