Chủ Nhật, 23 tháng 2, 2014

v2413

Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
+Phơng thức thứ nhất: Mặt đối lập này chuyển hoá thành mặt đối lập
kia nhng ở trình độ cao hơn xét về phơng diện chất của sự vật.
Thí dụ: LLSX và QHSX trong xã hội phong kiến đấu tranh chuyển hoá
lẫn nhau để hình thành QHSX mới là QHSX TBCN và LLSX mới ở trình độ
cao hơn.
+Phơng thức thứ hai: Cả hai mặt đối lập chuyển hoá lẫn nhau để hình
thành hai mặt đối lập mới hoàn toàn.
Thí dụ: Nền kinh tế VN chuyển từ kế hoạch hoá tập trung quan liêu bao
cấp sang cơ chế thị trờng có sự quản lý của Nhà nớc theo định hớng XHCN
Từ những mâu thuẫn trên ta thấy trong thế giới hiện thực,bất kỳ sự vật,
hiện tợng nào cũng chứa đựng trong bản thân nó những mặt, những thuộc
tính có khuynh hớng phát triển ngợc chiều nhau.Sự đấu tranh chuyển hoá
giữa các mặt đối lập trong những điều kiện cụ thể tạo thành mâu thuẫn.Mâu
thuẫn là hiện tợng khách quan phổ biến của thế giới. Mâu thuẫn đợc giải
quyết,sự vật cũ mất đi sự vật mới hình thành. Sự vật mới lại nảy sinh các mặt
đối lập và mâu thuẫn mới. Các mặt đối lập này lại đấu tranh và phủ định lẫn
nhau để tạo thành sự vật mới hơn. Cứ nh vậy mà các sự vật, hiện tợng trong
thế giới khách quan luôn luôn phát triển và biến đổi không ngừng. Vì vậy,
mâu thuẫn là nguồn gốc và động lực của sự phát triển.
II. Nhận biết các mâu thuẫn
Thực chất của nền kinh tế thị tr ờng ở VN.
Sự nghiệp đổi mới ở Việt Nam theo định hớng XHCN là một tất yếu
lịch sử nó nhằm đến những mục tiêu cụ thể và mang tính cách mạng. Nó thay
cũ đổi mới hàng loạt những vấn đề về lý luận và thực tiễn,cả về kinh tế và
chính trị xã hội, nó bảo vệ phát triển chủ nghĩa Mác-Lênin, t tởng Hồ Chí
Minh trong hoàn cảnh, điều kiện mới.
Nh chúng ta đã biết,từ khi CNXH đợc xây dựng tất cả các nớc XHCN
đều thực hiện nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung, cơ chế vận hành và quản lý
kinh tế này đợc duy trì trong một thời gian khá dài và xem nh đặc trng riêng
biệt của CNXH, là cái đối lập với cơ chế thị trờng của CNTB. Sự thực thì
không hoàn toàn nh vậy nền kinh tế tập trung khômg phảI là sản phẩm riêng
5
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
biệt của CNXH, cũng nh nền kinh tế thị trờng không phảI là duy nhất đợc
thiết lập trong CNTB.
Nền kinh tế tập trung đã đợc các nớc t bản áp dụng trớc khi nhiều nớc
xác lập chế độ CNXH.Nhng các nớc TBCN đã bỏ cơ chế thị trờng sau khi
chiến tranh kết thúc và đạt đợc nhữnh thành tựu rất lớn về kinh tế, xã hội.
Nhng công bằng mà nói, nền kinh tế thị trờng không phải là cái duy nhất bảo
đảm cho sự tăng trởng và phát triển của xã hội.
Trong thời kỳ quá độ lên CNXH thì sự tồn tại của nền kinh tế thị trờng
bớc phát triển cao của nền sản xuất hàng hoá là lẽ đơng nhiên. Nh vậy, có
thể nói nền kinh tế tập trung không phải là thuộc tính đặc thù, cố hữu của
một chế độ xã hội nào. Vấn đề áp dụng nền kinh tế đó vào thời điểm, hoàn
cảnh lịch sử nào thì phù hợp để giành đợc hiệu quả cao nhất. Chúng ta đang
trong thời kỳ quá độ lên CNXH, bởi thế sự phát triển nền kinh tế thị trờng là
một tất yếu khách quan. Chỉ mới hơn mời lăm năm đổi mới vừa qua, với việc
chuyển sáng nền kinh tế thị trờng Việt Nam đã làm cho thế giới phải ngỡ
ngàng.Từ chỗ còn xa lạ nay chúng ta đã hội nhập đợc với các nền kinh tế tiên
tiến trên thế giới. Tất cả những thành tựu kinh tế mà chúng ta đạt đợc khi
chuyển sang nền kinh tế thị trờng đã nói lên công cuộc đổi mới ở nớc ta thực
sự là một cuộc cách mạng thực sự.
ở Việt Nam có đặc điểm là bảo vệ vận dụng và phát triẻn sáng tạo chủ
nghiã mác lênin,t tởng Hồ chí Minh là mục tiêu, nhiệm vụ không kém phần
quan trọng làm sáng tỏ thêm ý nghĩa và vai trò cách mạng của công cuộc đổi
mới hiện nay ở nớc ta.
Trong công cuộc đổi mới hiện nay Đảng ta một lần nữa khẳng định
những giá trị khoa học bền vững của chủ nghiã mác lênin, t tởng Hồ chí
Minh đồng thời, tuyên bố lấy chủ nghĩa chủ nghĩa mác Lênin, t tởng Hồ Chí
Minh cho mọi hành động.
* Một số đặc điểm của nền kinh tế thị trờng ở Việt Nam nhìn ở góc độ
triết học:
Thực tiễn vận động của nền kinh tế thế giới những năm gần đây cho
thấy mô hình phát kinh tế thế giới theo xu thế hớng thị trờng có sự điều
tiết vĩ mô từ trung tâm, trong bối cảnh của thời hiện đại ngày nay, là mô
6
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
hình hợp lý hơn cả.Mô hình này về đại thể đáp ứng đợc thách thức của sự
phát triển.
ở nớc ta việc thực hiện mô hình này, trong thực tế, chẳng những là nội
dung của công cuộc đổi mới mà hơn thế nữa,còn là phơng thức để nớc ta đi
đến CNXH.
Nền kinh tế nớc ta hiện nay có thể nói đang ở trong giai đoạn quá độ
chuyển tiếp từ nền kinh tế tập trung, hành chính bao cấp sang nền kinh tế thị
trờng có sự quản lý của nhà nớc theo định hớng XHCN. Do vậy, những đặc
điểm của giai đoạn quá độ trong nền kinh tế nớc ta, đơng nhiên là một vấn đề
có ý nghĩa, rất cần đợc nghiên cứu, xem xét. Nhận thức đợc những đặc điểm
phức tạp của giai đoạn quá độ, chi phối đợc những những đặc điểm đó,
chúng ta sẽ tránh đợc những sai lầm chủ quan nóng vội duy ý chí, hoặc
những khuynh hớng cực đoan, máy móc sao chép bán kinh tế thị trờng từ
bên ngoài vào.
Vậy từ phơng diện triết học thì những đặc điểm của kinh tế quá độ của
nớc ta là gì ? Nh chúng ta đã biết, trong nền kinh tế tập trung, bao cấp, mọi
chức năng kinh tế - xã hội của nền kinh tế đều đợc triển khai trong quá trình
kế hoạnh hoá ở cấp độ quốc gia. Tính bao cấp của nhà nớc đối với các hoạt
động sản xuất, lu thông phân phối khá nặng nề.ở nớc ta trớc đây, chế độ
hoạch toán trên thực tế còn nặng nề về hình thức lợi ích kinh tế, đặc biệt lợi
ích cá nhân ngời lao động, một động lực trực tiếp của hoạt động xã hội đợc
quan tâm đúng mức.Vì thế, sự vận động của nền kinh tế nhìn chung là chậm
chạp kém năng động.
Kể từ đại hội Đảng lần thứ VI(12/1986) đến nay, theo đờng lối đổi mới
đất nớc ta đã từng bớc chuyển sang nền kinh tế thị trờng với định hớng
XHCN.Và điều đó có ý nghĩa là, chúng ta đã đạt đợc những thành tựu hết sức
quan trọng, những thành tựu cho phép chúng ta điều chỉnh và bổ xung nhận
thức, làm cho quan niệm nhận thức về CNXH ngày càng cụ thể, đờng lối,chủ
trơng, chính sách ngày càng đồng bộ, có căn cứ khoa học và thực tiễn. Những
thành tựu đó, trong một chừng mực nhất định, cũng gián tiếp khả năng của
kinh tế thị trờng trong việc năng động hoá nền kinh tế đất nớc.
Kinh tế thị trờng, nh chúng ta đã biết là một kiểu quan hệ kinh tế xã hội
mà trong đó,sản xuất và tái sản xuất xã hội gắn liền với thị trờng, tức là gắn
7
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
liền với quan hệ hàng hoá - tiền tệ, với quan hệ cung cầu Trong nền kinh tế
thị trờng nét biểu hiện có tính chất bề mặt của đời sống xã hội là quan hệ
hàng hoá. Mọi hoạt đông xã hội đều phải tính đến quan hệ hàng hoá hay ít
nhất cũng phải sử dụng các quan hệ hàng hoá nh là mắt xích trung gian.
Thành tựu của những năm đổi mới vừa qua ở nớc ta đã có tác dụng làm
cho chúng quen dần với các quan hệ hàng hoá.Hàm lợng kinh tế trong hoạt
động xã hội ngày càng đợc chú ý.Bớc sang cơ chế thị trờng đơng nhiên
không tránh khỏi những mặt tiêu cực của nó, nhng dẫu sao nó cũng nói lên
sức sốngvà khả năng tác động của các quan hệ thị trờng. Về thực chất của b-
ớc chuyển này một số cho rằng: ở Việt Nam,mặc dù nền kinh tế thị trờng
chỉ mới vừa hình thành, còn đang trong bớc chập chững ban đầu và điều tiết
một cách có ý thức theo định hớng XHCN, xong cũng đã tác động đến mọi
mặt đời sống xã hội và để lại dấu ấn của mình. Những quan hệ mà ở đó vừa
có màu sắc thị trờng lại vừa cha phải quan hệ thị trờng . Sự đan xen, chi phối
mãnh liệt các nhân tố khác của đời sống xã hội trong bối cảnh của một xã hội
vừa thoát khỏi cơ chế hành chính bao cấp đã làm cho cơ chế thị trờng bị
khúc xạ theo nhiều chiều hớng khác nhau.
Một trong những nguyên nhân của tình hình nói trên, đúng nh ý kiến
vừa chỉ ra, trớc hết thuộc về sự đổi mới các quan hệ sở hữu. Nếu nh trớc đây,
nền kinh tế nớc ta chỉ có một kiểu sở hữu tơng đối thuần nhất với hai thành
phần tập thể và quốc doanh thì hiện nay, cùng với thành phần sở hữu chủ đạo
là sở hữu Nhà nớc, còn tồn tại nhiều thành phần sở hữu khác. Những hình
thức sở hữu đó, trong thực tế vận hành nền kinh tế không hẳn là đồng bộ với
nhau, đôi khi chúng có mâu thuẫn với nhau. Xong trên tổng thể, chúng là
những bộ phận khách quan của nền kinh tế, có khả năng đáp ứng những đòi
hỏi đa dạng của nền kinh tế thị trờng.
Thực ra, trong quan niệm hiện nay của chúng ta về CNXH đã chứa đựng
những t tởng mới về quy luật của sự phù hợp khách quan QHSX với trình độ
phát triển của LLSX, sự tồn tại của các thành phần sở hữu đa dạng của một
nền kinh tế theo định hớng XHCN là hoàn toàn có cơ sở của nó.Hơn thế nữa,
vai trò chủ đạo của kinh tế Nhà nớc, trên thực tế không chỉ chủ đạo về
GDP. Theo quan niệm hiện đại về xử lí kinh tế vĩ mô thì khả năng điều tiết
chỉ dạo của kinh tế Nhà nớc đối với các thành phần kinh tế khác đợc thể hiện
trên nhiều mặt: Kinh tế nhà nớc có thể là chi phối các vị trí đặc biệt nhng
8
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
kém sinh lời trong nền kinh tế. Cùng với với việc nắm giữ các nghành thông
tin,cơ sở hạ tầng, quốc phòng Kinh tế nhà nớc đảm bảo những t liệu sản
xuất chủ yếu phát triển về toàn xã hội, phục vụ cho lợi ích của cả cộng đồng.
Vai trò của Nhà nớc và kinh tế Nhà nớc trong một nền kinh tế theo định
hớng XHCN là điều không phải bàn cãi. Nhà nớc, ngoài việc trực tiếp quyết
định những vấn đề của bản thân nền kinh tế còn phải đóng vai trò là nhân vật
trung gian giữa các vấn đề về kinh tế và xã hội. Nhà nớc với các chính sách,
luật lệ của mình, còn có khả năng đạt tới một trình độ tăng trởng có hiệu
quả,nhng mặt khác nó cũng chính lại là ngời phải lo giải quyết các vấn đề do
chính nền kinh tế tạo ra.Về đại thể, chìa hoá để đáp ứng những vấn đề phức
tạp và trái ngợc của nền kinh tế xã hội nằm trong sự quản lý vĩ mô của Nhà
nớc.Tuy nhiên, ở nớc ta hiện nay, Nhà nớc và nền kinh tế Nhà nớc có nhiều
vấn đề cần phải tháo gỡ để có thể đảm đơng đợc trọng trách to lớn của
mình.Trên thực tế bộ máy vĩ mô của Nhà nớc đối với nền kinh tế còn khá
cồng kềnh và kém hiệu quả. Hầu hết các doanh nghiệp kinh tế Nhà nớc đều
hoạt động thiếu năng động và quá ỷ lại vào Nhà nớc.Trong một số trờng
hợp,thậm chí kinh tế Nhà nớc còn vô tình bỏ rơi trận địa mà mình đã
chiếm lĩnh,tạo điều kiện cho những phần tử tham nhũng tiêu cực.Điều đó có
nghĩa đối với việc xác điịnh đặc điểm của nền kinh tế thị trờng ở nớc ta hiện
nay.Tiếp tục đổi mới vào hoạt động có hiệu quả để kinh tế Nhà nớc thực sự
giữ vai trò chủ đạo,làm đòn bẩy thúc đẩy và điều chỉnh hoạt động của toàn bộ
nền kinh tế. Trên cơ sở, đó giải quyết ngay các vấn đề xã hộỉ tầm vĩ mô sao
cho tăng trởng kinh tế không trở nên mâu thuẫn gay gắt với trật tự bình thờng
của đời sống xã hội.
Thực ra các vấn đề xã hội của nền kinh tế thị trờng, nhất là trong một
nền kinh tế thị trờng còn sơ khai trong giai đoạn quá độ,lại có mức tăng trởng
nhanh là điều rất khó.Vấn đề là ở chỗ, chúng ta buộc phải chấp nhận mặt trái
của kinh tế thị trờng đến mức độ nào.Để từng bớc nâng cao chất lợng và hiệu
quả của nền sản xã hội, chúng ta đã có những biện pháp, chính sách nhất
định đối với một số lĩnh vực kinh tế xã hội.Chẳng hạn đối với lĩnh vực
GDĐT, lĩnh vực chăm sóc sức khoẻ cộng đồng, bảo vệ môi trờng Tuy nhiên,
cũng có nhiều lĩnh vực thuộc về các vấn đề xã hội còn cha có đối sách hợp
lý.Nh vấn đề phân hoá giàu nghèo, các tệ nạn xã hội,vấn đề xuống cấp về đạo
9
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
đức Đơng nhiên đây không phải là bài toán có thể giải quyết ngay trong
một sớm một chiều đợc.
Cũng phải thừa nhận rằng, các vấn đề dù ít dù nhiều cũng là các vấn đề
của bản thân cơ chế quản lý.Trong nền kinh tế thị trờng hiện nay cơ chế quản
lý đang ở giai đoạn hình thành nên thờng là không đồng bộ và thiếu
hụt.Chúng ta cha thực sự tạo ra môi trờng an toàn và ổn định cho sản xuất và
kinh doanh.Cơ sở pháp lý của các hoạt động kinh tế còn quá nhiều điều bất
hợp lý.Dovậy,trong một số vụ án kinh tế cơ chế quản lý đôi khi vừa là thủ
phạm vừa là nạn nhân của kinh tế thị trờng.Tính chất không rõ ràng thiếu xác
định cả trên phơng diện kinh tế và xã hội.
Trên con đờng công nghiệp hoá, hiện đại hoá chúng ta bớc đầu sử dụng
thị trờng nh là một công cụ, một phơng thức.Thực tế nó đã đem lại những kết
quả tích cực cả trên phơng diện nhận thức và thực tiễn.
Mỗi hành trang có ý ghĩa mà công cuộc đổi mới trang bị cho chúng ta,
sản xuất hàng hoá cùng với nềnkinh tế hàng hoá nhiều thành phần vận hành
theo cơ chế thị trờng hiện đã đợc chúng ta hiểu là không đối lập với CNXH.
Với tính cách là sản phẩm của văn minh nhân loại, một cơ hội để các cộng
đồng mở cửa, tiếp xúc với bên ngoài, kinh tế thị trờng rõ ràng là cái khách
quan và tất yếu đối với công cuộc xây dựng CNXH ở nớc ta.
Trong nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần ở nớc ta, thị trờng vừa là
căn cứ, vừa là đối tợng của công tác kế hoạch hoá.Việc điều tiết vĩ mô với thị
trờng, một mặt làm cho nền kinh tế nớc ta thực sự trở thành một thị trờng
thống nhất - trong cả nớc và thống nhất với thị trờng thế giới, mặt khác có tác
dụng làm cho mỗi đơn vị kinh tế phải tự khẳng định mình khẳng dịnh khả
năng và vai trò của mình trên thị trờng.
Tuy nhiên, càng nhận ra sức mạnh của kinh tế thị trờng chúng ta lại
càng hiểu rõ hơn bấy nhiêu mặt trái của nó đối với sự vận động của đời sống
xã hội.Sự tăng trởng kinh tế đơng nhiên là một mục tiêu của phát triển xã
hội,nó có khả năng tạo điều kiện để giải quyết các vấn đề xã hội.Nhng tăng
trởng kinh tế không nhất thiết đi liền với tiến bộ xã hội. Do vậy, quan niệm
của Đảng ta: Để thực hiện xây dựng CNXH với mục tiêu dân giàu, nớc mạnh
xã hội công bằng văn minh, thì kinh tế thị trờng nhất thiết phải có sự quản lý
của Nhà nớc theo định hớng XHCN.
10
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
Quan hệ giữa kinh tế và chính trị là một trong những vấn đề cơ bản của
công cuộc đổi mới ở Việt Nam. Đây là vấn đề luôn đợc đặt ra và đợc giải
quyết trong suốt quá trình đổi mới. Những thành tựu đạt đợc trong 10 năm
đổi mới vừa qua không thể tách rời việc giải quyết một cách đùng đắn mối
quan hệ giữa kinh tế và chính trị. Việc nhận thức về mối quan hệ giữa kinh tế
và chính trị cũng không ngừng phát triển, gắn liền với thực hiện công cuộc
đổi mới. Bài viết này tập trung phân tích sự phát triển nhận thức về mối quan
hệ giữa kinh tế và chính trị cũng không ngừng phát triển, gắn liền với thực
tiễn công cuộc đổi mới. Bài viết này tập trung phân tích sự phát triển nhận
thức về mối quan hệ giữa kinh tế và chính trị cũng không ngừng phát triển,
gắn liền với thực tiễn công cuộc đổi mới.
* Mấy vấn đề lý luận chung của chủ nghĩa Mác - Lênin về quan hệ giữa
kinh tế và chính trị
Theo các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lênin về quan hệ giữa kinh
tế và chính trị chính trị là sự biểu hiện tập trung của kinh tế. Trong lịch sử
và phát triển xã hội loài ngời không phải bao giờ cũng có vấn đề chính trị. Xã
hội nguyên thuỷ cha có giai cấp, cha có vấn đề chính trị. Từ khi xã hội có
giai cấp và Nhà nớc xuất hiện thì vấn đề chính trị mới xuất hiện. Vấn đề
chính trị là vấn đề thuộc về quan hệ giai cấp và đấu tranh giai cấp. Trung tâm
của vấn đề chính trị là vấn đề đấu tranh giai cấp, các lực lợng xã hội nhằm
giành, giữ chính quyền Nhà nớc và sử dụng chính quyền đó làm công cụ để
xây dựng và bảo vệ chế độ xã hội phù hợp với lợi ích của giai cấp cầm quyền.
Bản thân vấn đề chính trị ra đời hoàn toàn là do kinh tế quyết định. Chính trị
không phải là mục đích mà chỉ là phơng tiện để thực hiện mục đích kinh tế.
Khi phê phán quan niệm của Duyring cho rằng bạo lực chính trị quyết định
kinh tế. F.Engen đã khẳng định: bạo lực chỉ là phơng tiện, còn lợi ích kinh
tế, trái lại, là mục đích và trong tác phẩm và sự cáo chung của triết học cổ
điển Đức. F.Engen đã chỉ rõ: để thoả thuận những lợi ích kinh tế thì quyền
lực chính trị chỉ đợc sử dụng làm một phơng tiện đơn thuần.
Quyền lực chính trị là công cụ mạnh mẽ nhất để bảo vệ chế độ xã hội.
Sự thống trị về chính trị của một giai cấp nhất định là điều kiện đảm bảo cho
giai cấp đó thực hiện đợc sự thống trị về kinh tế đấu tranh giai cấp, về thực
chất là đấu tranh vì lợi ích kinh tế, đợc thực hiện thông qua đấu tranh chính
trị. Theo F.Engen bất c cuộc đấu tranh giai cấp nào cũng đều là đấu tranh
11
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
chính trị, xét đến cùng đều xoay quanh vấn đề giải phóng về kinh tế. Để
nhấn mạnh vai trò của chính trị V.I.Lênin đã khẳng định chính trị không
chiếm vị trí hàng đầu so với kinh tế khẳng định đó của V.I.Lênin không có
nghĩa là phủ nhận vai trò quyết định của kinh tế đối với chính trị, mà muốn
nhấn mạnh tác động tích cực của chính trị đối với kinh tế. Vấn đề kinh tế
không thể tác rời vấn đề chính trị mà nó đợc xem xét, giải quyết theo một lập
trờng chính trị nhất định. Giai cấp nào cầm quyền thì cũng hớng kinh tế phát
triển theo lập trờng chính trị của giai cấp đó nhằm phục vụ cho mục tiêu kinh
tế - xã hội nhất định. Và lập trờng chính trị đúng (hay sai) sẽ thúc đẩy (hoặc
kìm hãm) sự phát triển của kinh tế. V.I.Lênin còn khẳng định: không có một
lập trờng chính trị đúng thì một giai cấp nhất định nào đó, không thể nào
hoàn thành đợc nhiệm vụ của mình trong lĩnh vực sản xuất. Khi thể chế
chính trị không phù hợp với yêu cầu phát triển của kinh tế thì tất yếu kinh tế
sẽ mở đờng đi. Khi đó, việc thay đổi thể chế chính trị cho phù hợp với yêu
cầu phát triển của kinh tế là điều kiện kiên quyết để thúc đẩy kinh tế phát
triển. Nh vậy, chúng ta có thể khẳng định rằng kinh tế và chính trị thống nhất
biện chứng với nhau trên nền tảng quyết định của kinh tế. Đấy là cơ sở phơng
pháp luận quan trọng trong việc nhận thức xã hội nói chung, nhận thức công
cuộc đổi mới ở Việt Nam nói riêng.
Sự phát triển nhận thức về mối quan hệ giữa kinh tế và chính trị trong
công cuộc đổi mới ở Việt Nam.
Có thể nói, từ đại hội đoàn toàn quốc lần thứ VI (tháng 12 năm 1986)
của Đảng cộng sản Việt Nam, đất nớc ta chuyển sang một giai đoạn mới -
giai đoạn thực hiện công cuộc đổi mới.
Khi bớc vào công cuộc đổi mới, Đảng ta đặc biệt nhấn mạnh đổi mới t
duy, nhất là đối với cán bộ lãnh đạo, coi đó là biểu hiện tiền đề đổi mới trong
thực hiện. Nhấn mạnh nh vậy là hết sức cần thiết đối với thực tiễn nớc ta để
vợt ra khỏi thói quen t duy cũ đang trói buộc chúng ta khi đó. Tuy nhiên, nói
nh vậy không có nghĩa là đổi mới t duy có thể tách khỏi đổi mới trong thực
tiễn. Bản thân đổi mới t duy là phản ánh yêu cầu đổi mới trong thực tiễn và
gắn liền với thực tiễn của công cuộc đổi mới. Chính vì vậy, tổng kết thực tiễn
công cuộc đổi mới ở nớc ta là cơ sở chủ yếu nhất để không ngừng đổi mới và
phát triển t duy.
12
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
Vào những năm đầu của công cuộc đổi mới ở nớc ta, khi mà Liên Xô và
các nớc xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu vấp phải những thất bại nặng nề, khi mà
chúng ta giành đợc thắng lợi bớc đầu, ở nớc ta đã có quan điểm cho rằng
nguyên nhân thất bại của xã hội ở Liên Xô và Đông Âu là do các nớc đó đổi
mới chính trị trớc đổi mới kinh tế sau; còn nguyên nhân thành công của công
cuộc đổi mới ở nớc ta là đổi mới kinh tế trớc, đổi mới chính trị sau. Quan
điểm này mới xem qua tởng là chính xác, nhng đi vào phân tích sẽ thấy rằng
nó không phù hợp với lý luận và thực tiễn.
Theo quan điểm của các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác Lênin mà chúng ta
đã trình bày ở phần trên, mỗi khi chính trị không phù hợp với kinh tế thì thay
đổi về chính trị là điều kiện kiên quyết để thay đổi về kinh tế, thúc đẩy kinh
tế phát triển. Cho nên, không thể quy nguyên nhân thất bại trong đổi mới ở
Liên Xô và các nớc xã hội chủ nghĩa Đông Âu là đổi mới chính trị trớc, đổi
mới kinh tế sau. Nguyên nhân thực sự dẫn đến sụp đổ chủ nghĩa xã hội ở
Liên Xô và Đông Âu là do mâu thuẫn về kinh tế và chính trị không đợc phát
hiện và khắc phục sớm đã dẫn đến khủng hoảng nghiêm trọng về chính trị
làm mất vai trò của Đảng cộng sản.
Khẳng định rằng ở nớc ta đổi mới kinh tế trớc, đổi mới chính trị sau
không phù hợp với thực tiễn. Sự thật là phải có đớng lối đổi mới do Đảng ta
đề ra, trên cơ sở đó, hình thành chính sách mới, luật pháp mới thì mới có
thể đổi mới kinh tế. Bản thân đờng lối đổi mới của Đảng cùng với chính sách
luật pháp của Nhà nớc đều thuộc về chính trị. Vấn đề là ở chỗ: lĩnh vực
chính trị là lĩnh vực hết sức phức tạp, liên quan tới quyền thống trị của giai
cấp, nó có ý nghĩa quyết định thành bại của công cuộc đổi mới nên phải tiến
hành từng bớc và hết sức thận trọng. Đổi mới chính trị phải trên cơ sở đổi
mới kinh tế gắn liền với đổi mới kinh tế và đáp ứng yêu cầu của đổi mới kinh
tế. Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII (tháng 6 năm 1991) đảng ta đã
khẳng định
1. Đổi mới kinh tế - đổi mới chính trị.
Về quan hệ giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị, phải tập trung sức
làm tốt đổi mới kinh tế, đáp ứng những đòi hỏi cấp bách của nhân dân về đời
sống, việc làm và các nhu cầu xã hội khác, xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật
của chủ nghĩa xã hội coi đó là điều kiện quan trọng để tiến hành thuận lợi đổi
13
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
mới trong lĩnh vực chính trị đồng thời đổi mới kinh tế, phải từng bớc đổi mới
tổ chức và phơng thức hoạt động của hệ thống chính trị, phát huy ngày càng
tốt quyền làm chủ và năng lực sáng tạo của nhân dân trên các lĩnh vực chính
trị, kinh tế, văn hoá, xã hội. Vì chính trị đụng chạm đến các mối quan hệ đặc
biệt phức tạp và nhạy cảm trong xã hội, nên việc đổi mới trong hệ thống
chính trị nhất thiết phải trên cơ sở nghiên cứu và chuẩn bị rất nghiêm túc,
không cho phép gây mất ổn định chính trị dẫn đến sự rối loạn.
Nhng không vì vậy mà tiến hành chậm trễ đổi mới chính trị nhất là về tổ
chức bộ máy và các bộ, mối quan hệ giữa Đảng, Nhà nớc và các đoàn thể
nhân dân bởi đó là điều kiện thúc đẩy phát triển kinh tế, xã hội và thực hiện
dân chủ. Điều đó cho thấy rằng Đảng ta đã không tách rời với đổi mới kinh tế
với đổi mới chính trị, mà gắn đổi mới kinh tế với đổi mới chính trị. Đảng ta
đã khẳng định rằng phải tập trung sức làm tốt đổi mới kinh tế và đồng thời
đổi mới kinh tế phải tiến hành từng bớc đổi mới chính trị, nhng phải thật thận
trọng không gây mất ổn định về chính trị.
Tóm lại: ổn định và đổi mới về chính trị là hai mặt đối lập nhng thống
nhất biện chứng với nhau. Có ổn định thì mới có đổi mới và đổi mới là điều
kiện để ổn định. Hai mặt đó tác động qua lại với nhau và gắn bó chặt chẽ với
đổi mới kinh tế, trên nền tảng của đổi mới kinh tế.
2. Mâu thuẫn giữa các hình thái sở hữu trớc đây và trong kinh tế thị
trờng.
Trớc đây, ngời ta quan niệm những hình thức sở hữu trong chủ nghĩa xã
hội: sở hữu chủ nghĩa tồn tại dới hai hình thức là sở hữu toàn dân và sở hữu
tập thể. Sự tồn tại hai hình thức sở hữu đó là tất yếu khách quan bởi những
điều kiện lịch sử khi tiến hành cách mạng chủ nghĩa xã hội và xây dựng chủ
nghĩa xã hội quyết định. Sau khi giành đợc chính quyền giai cấp công nhân
đứng trớc hai hình thức sở hữu t nhân khác nhau: sở hữu t nhân, t bản chủ
nghĩa và sở hữu t nhân của những ngời sản xuất hàng hoá nhỏ. Thực tế đòi
hỏi giai cấp công nhân phải có thái độ và phát triển giải quyết khác nhau. Đối
với hình thức sở hữu t nhân t bản chủ nghĩa bằng cách tớc đoạt hoặc chuộc lại
để chuyển thẳng lên sở hữu toàn dân còn đối với sở hữu t nhân của những ng-
ời sản xuất hàng hoá nhỏ thì không thể dùng biện pháp nh trên, mà phải kiên
trì, giáo dục, thuyết phục, tổ chức họ trên cơ sở tự nguyện chuyển lên sở hữu
14

Xem chi tiết: v2413


Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét