Báo c áo c hu yê n đề
Phơng thức này tách rời nghiệp vụ bán hàng và nghiệp vụ thu
tiền. Nhân viên thu ngân có nhiệm vụ viết hoá đơn thu tiền và giao
cho khách hàng để khách hàng đến nhận hàng ở quầy do nhân viên
bán hàng giao .
Cuối ca hoặc cuối ngày, nhân viên thu ngân tổng hợp tiền, kiểm tiền
và xác định doanh số bán. Nhân viên bán hàng căn cứ vào số hàng đã
giao theo hoá đơn lập báo cáo bán hàng, đối chiếu với số hàng hoá
hiện còn để xác định số hàng thừa, thiếu.
1.1.2.2. Phơng thức bán hàng thu tiền trực tiếp :
Nhân viên bán hàng trực tiếp thu tiền và giao hàng cho khách.
Cuối ca (hoặc cuối ngày) nhân viên bán hàng kiểm tiền làm giấy nộp
tiền, kiêm kê hàng hoá hiện con ở quầy để xác định l ợng hàng hoá bán
ra trong ca(ngày). Sau đó lập báo cáo bán hàng để xác định doanh số
bán, đối chiếu với số tiền đã nộp theo giấy nộp tiền.
Ngoài hai phơng thức trên, trong bán lẻ còn có các hình thức khác nh
bán lẻ tự phục vụ, bán hàng tự động,
1.2. Các phơng thức thanh toán :
Sau khi giao hàng cho bên mua và nhận đợc chấp nhận thanh
toán, bên bán có thể nhận tiền hàng theo nhiều ph ơng thức khác nhau
tuỳ vào sự tín nhiệm, thoả thuận giữa hai bên mà lựa chọn ph ơng thức
thanh toán cho phù hợp.
Hiện nay các doanh nghiệp thong mại áp dụng hai phơng thức
thanh toán:
Thanh toán trực tiếp
thanh toán không trực tiếp
1.2.1. Thanh toán trực tiếp :
Là thanh toán trực tiếp bằng tiền mặt, ngân phiếu giữa ng ời mua
và ngời bán. Khi nhận đợc hàng hoá vật t, lao vụ, dịch vụ thì bên mua
xuất tiền ở quỹ để trả trực tiếp cho ngời bán hay ngời cung cấp.
1.2.2. Thanh toán không trực tiếp :
5
Báo c áo c hu yê n đề
Là hình thức thanh toán đợc thực hiện bằng cách trích chuyển
tiền ở tài khoản của công ty hoặc bù trừ giữa cá đơn vị thông qua
trung gian là ngân hàng. Ngân hàng là cơ quan thanh toán không dùng
tiền mặt có trách nhiệm kiểm tra, đảm bảo việc thanh toán giữa các
đơn vị để tránh những rủi ro trong quá trình thu hồi vốn đồng thời
khẳng định rõ vai trò của mình trong các mối quan hệ kinh tế.
Trong thanh toán không trực tiếp có các phơng thức thanh toán
sau:
1.2.2.1. Thanh toán chấp nhận :
Hình thức này áp dụng đối với các cơ quan doanh nghiệp tín
nhiệm với nhau, buôn bán giao dịch th òng xuyên. Theo phơng thức
này ngời bán nhờ ngân hàng thu hộ tiền bán hàng ở ngời mua. Ngời
bán chỉ đợc thanh toán khi có sự đồng ý của bên mua. Khi bên bán gửi
hàng cho bên mua phải làm giấy tờ nhờ ngân hàng thu hộ tiền bán
hàng. Ngân hàng bên mua nhận đợc chứng từ và đợc sự đồng ý của bên
mua sẽ trích tiền từ tài khoản tiền gửi của bên mua để thanh toán cho
bên bán thông qua ngân hàng phục vụ bên bán.
1.2.2.2. Thanh toán theo kế hoạch :
Hình thức này thờng đợc áp dụng trong trờng hợp hai đơn vị có
quan hệ mua bán thờng xuyên, có tín nhiệm với nhau. Đối với hình
thức thanh toán này thì căn cứ vào hợp đồng kinh tế bên bán định kỳ
chuyển cho bên mua hàng hoá và bên mua định kỳ chuyển cho bên
bán tiền hàng theo kế hoạch. Cuối kỳ hai bên sẽ điều chỉnh thanh toán
theo số thực tế.
1.2.2.3. Thanh toán bằng uỷ nhiệm chi :
Uỷ nhiệm chi là lệnh chi tiền của chủ tài khoản yêu cầu ngân
hàng trích tiền từ tài khoản tiền gửi của mình để trả cho ng ời cung cấp
hàng hoá, dịch vụ.
1.2.2.4. Thanh toán bằng séc :
Séc là chứng từ thanh toán do chủ tài khoản lập trên mẫu in sẵn
6
Báo c áo c hu yê n đề
đặc biệt của ngân hàng, yêu cầu ngân hàng trích tiền trên tài khoản
của mình để trả cho ngời đợc hởng có tên trên tờ séc dó. Đơn vị phát
hành séc phải chịu trách nhiệm về việc sử dụng séc, séc chỉ đ ợc phát
hành khi tài khoản ở ngân hàng có số d.
Có 3 loại séc : Séc bảo chi, Séc chuyển khoản, Séc định mức.
1.2.2.5. Thanh toán bù trừ :
Hình thức này áp dụng trong trờng hợp hai bên có quan hệ mua
bán hàng hóa với nhau. Định kỳ hai bên phải tiến hành đối chiếu giữa
số tiền đợc thanh toán với số tiền phải thanh toán. Các bên tham gia
thanh toán bù trừ chỉ cần phải trả số chênh lệch sau khi đã bù trừ.
1.2.2.6. Thanh toán bằng th tín dụng và tài khoản đặc biệt :
Th tín dụng là lệch của ngân hàng phục vụ bên mua đề nghị ngân
hàng phục vụ bên bán trả tiền cho bên bán về số tiền hàng mà bên bán
đã cung cấp cho bên mua. Hình thức này thòng áp dụng với các đơn vị
khác địa phơng không có sự tín nhiệm lẫn nhau.
Việc thanh toán không dùng tiền mặt có ý nghĩa tích cực đối với nền
kinh tế quốc dân cũng nh đối với doanh nghiệp. Nó làm giảm dợc lợng
tiền trong lu thông, giảm chi phí có liên quan đến việc in ấn và phát
hành tiền, giảm chi phí liên quan đến việc bảo quản, vận chuyển tiền,
cho phép kiểm soát đợc dễ dàng tính hợp pháp của các quan hệ thanh
toán trong nền kinh tế. Nó đảm bảo vốn bằng tiền mặt của các đơn vị
kinh tế và làm cho quá trình thanh toán trở nên đơn giản và thuận lợi
hơn rất nhiều so với việc thanh toán dùng tiền mặt.
1.3. Phạm vi thời điểm xác định hàng bán :
Trong doanh nghiệp thơng mại, bán hàng là khâu cuối cùng của
hoạt động kinh doanh và có tính quyết định đến cả quá trình kinh
doanh. Do đó, việc xác định đúng hàng bán có ý nghĩa rất quan trọng
trong việc nghiên cứu nhu cầu thị trờng, khả năng thanh toán của ngời
tiêu dùng. Nó giúp cho các nhà doanh nghiệp xác định đúng ph ơng h-
ớng hoạt động, xác định đợc lợi nhuận và các khoản nộp ngân sách
7
Báo c áo c hu yê n đề
nhà nớc Để xác định hàng hoá là hàng bán thì căn cứ vào các điều
kiện sau đây:
Phải thông qua mua-bán và thanh toán tiến tiền hàng theo một
phơng thức thanh toán nhất định.
Doanh nghiệp thơng mại mất quyền sở hữu về hàng hoá và đợc
quyền đòi tiền hoặc thu đợc tiền của ngời mua.
Hàng hoá bán ra thuộc diện kinh doanh của doanh nghiệp do
doanh nghiệp mua vào hoặc sản xuất, chế biến.
Ngoài ra còn có một số trờng hợp ngoại lệ khác cũng đợc coi là
hàng bán nh:
Hàng hoá xuất để đổi lấy một hàng hoá khác, còn gọi là hàng
đối lu (hàng đổi hàng).
Hàng hoá xuất để thanh toán tiền l ơng cho công nhân viên, thanh
toán thu nhập, chia cho các bên tham gia liên doanh, thanh toán các
khoản chiết khấu bán hàng, giảm giá cho bên mua.
Hàng hoá hao hụt tổn thất trong khâu bán theo hợp đồng bên
mua chịu.
Thời điểm xác định bán hàng là thời điểm chuyển quuyền sở hữu
về hàng hoá, nó phụ thuộc vào phơng thức bán hàng và thanh toán tiền
hàng.
Đối với nghiệp vụ bán buôn, việc bán hàng có thể thanh toán
ngay hoặc cha thì thời điểm đợc xác định là bán hàng là khi nhận đợc
tiền của bên mua hoặc nhận đợc báo có của ngân hàng hoặc giấy chấp
nhận thanh toán của bên mua.
Đối với phơng thức bán lẻ thì thời điểm ghi chép hàng bán là
ngay sau khi nhận đợc báo cáo bán hàng và giấy nộp tiền.
1.4. Giá cả hàng bán:
Doanh nghiệp nào kinh doanh cũng vì mục tiêu lợi nhuận. Do
vậy mà khi kinh doanh một mặt hàng nào thì cũng phải xác định đ ợc
giá bán sao cho hợp lý để không ảnh h ởng đén tình hình kinh doanh
8
Báo c áo c hu yê n đề
của doanh nghiệp. Tức là phải đảm bảo bù đắp đ ợc giá vốn, bù đắp đ-
ợc chi phí kinh doanh và hình thành lợi nhuận cho doanh nghiệp.
Doanh nghiệp thờng xác định giá bán theo công thức sau:
Thặng số thơng mại đợc dùng để bù đắp chi phí kinh doanh và hình
thành lợi nhuận và đợc tính theo tỷ lệ phần trăm trên giá mua thực tế
của hàng hoá tiêu thụ.
Cách tính mới là :
Hiện nay, Nhà nớc chỉ quy định giá ở một số mặt hàng thiết yếu,
quan trọng còn các hàng hoá khác giá cả đ ợc xác định theo cung cầu
thị trờng. Gía hàng bán đợc xem là một công cụ cạnh tranh của doanh
nghiệp. Mỗi doanh nghiệp phải tự xác định đợc mức giá bán phù hợp
dựa vào nhu cầu thị trờng, chu kỳ sản phẩm, uy tín về nhãn mác của
sản phẩm, Trên thực tế tình hình kinh doanh luôn biến động, thị tr -
ờng luôn thay đổi đòi hỏi các nhà quản lý phải có tầm nhìn bao quát,
khả năng nghiên cứu nắm bắt kịp thời thông tin từ thị tr ờng, từ ngời
tiêu dùng để đa ra mức giá bán thích hợp cho từng mặt hàng vào từng
thời điểm, địa điểm cụ thể.
2. Yê u cầ u qu ả n l ý nghiệ p v ụ bá n h àng :
Nghiệp vụ tiêu thụ hàng hoá liên quan đến từng khách hàng,
từng phơng thức thanh toán và từng mặt hàng nhất định. Do đó, công
tác quản lý nghiệp vụ bán hàng đòi hỏi phải quản lý các chỉ tiêu nh :
Quản lý doanh thu, tình hình thay đổi trách nhiệm vật chất ở khâu
bán, tình hình thu hồi tiền, tình hình công nợ và thanh toán công nợ
9
Gía bán = Gía mua thực tế + Thặng số thơng mại
Gía bán = Gía mua thực tế ì (1+ Tỉ lệ thặng số thơng mại )
Báo c áo c hu yê n đề
về các khoản phải thu của ngời mua, quản lý giá vốn của hàng hoá đã
tiêu thụ, quản lý nghiệp vụ bán hàng cần bám sát các yêu cầu sau :
Quản lý sự vận động của từng mặt hàng trong quá trình xuất,
nhập, tồn kho trên các chỉ tiêu số lợng, chất lợng và giá trị.
Nắm bát theo dõi chặt chẽ từng phơng thức bán hàng, từng thể
thức thanh toán, từng khách hàng và từng loại hàng hoá tiêu thụ.
Đôn đốc thanh toán, thu hồi đầy đủ tiền hàng.
Tính toán xác định từng loại hoạt động của doanh nghiệp.
Thực hiện đầy đủ nghĩa vụ đối với Nhà n ớc theo chế độ quy
định.
3. N hi ệ m v ụ củ a kế t oán b á n hàn g :
Hạch toán kế toán có vai trò quan trọng trong hệ thống quản lý
kinh doanh, nó là công cụ quan trọng phục vụ cho công tác điều hành
và quản lý hoạt động sản xuất kinh doanh, quản lý vốn của các doanh
nghiệp. Đồng thời nó là nguồn thông tin số liệu tin cậy để Nhà n ớc
điều hành vĩ mô nền kinh tế quốc dân, kiểm tra, kiểm soát hoạt động
của các ngành, các lĩnh vực.
Do đó kế toán bán hàng cần thực hiện các nhiệm vụ chủ yếu sau:
+ Ghi chép, phản ánh chính xác đầy đủ, kịp thời tình hình bán
hàng cả về mặt giá trị và hiện vật của từng mặt hàng, nhóm hàng.
+Kiểm tra, giám sát chặt chẽ tình hình thực hiện các chỉ tiêu kế
hoạch về quá trình bán hàng. Tính toán chính xác giá vốn hàng hoá đã
tiêu thụ từ đó xác định đúng đắn kết quả hoạt động bán hàng.
+ Phản ánh và giám đốc tình hình thu hồi tiền, tình hình công nợ
và thanh toán công nợ với ngời mua.
+ Cung cấp các thông tin tổng hợp và chi tiết cần thiết về hàng
bán kịp thời phục vụ cho công tác quản lý hoạt động kinh doanh của
doanh nghiệp.
II. Sự cần thiết phải hoàn thiện kế toán nghiệp vụ
bán hàng trong các doanh nghiệp thơng mại.
10
Báo c áo c hu yê n đề
1. Sự cần thi ế t :
Kế toán là một hệ thống thông tin kiểm tra tình hình và sự biến
động tài sản của đơn vị. Kế toán là một công cụ quản lý quan trọng để
điều hành hoạt động sản xuất kinh doanh, để tổ chức, phản ánh và
giám đốc các loại tài sản vật t tiền vốn.Từ việc phân tích các số liệu
kế toán các nhà quản lý đề ra biện pháp và hớng kinh doanh.
Trong các doanh nghiệp thơng mại tiêu thụ hàng hoá là khâu vận
động cuối cùng của hàng hoá nó ảnh hởng trực tiếp đến lợi nhuận, kết
quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Do đó việc quản
lý quá trình tiêu thụ là rất quan trọng. Một trong các công cụ quản lý
quá trình tiêu thụ hàng hoá có hiệu quả nhất đó chính là kế toán bán
hàng. Kế toán bán hàng quản lý chặt chẽ các yếu tố của nghiệp vụ
bán hàng nh : giá cả, quá trình thanh toán, thu hồi công nợ và các chi
phí có liên quan, để từ đó tính toán chính xác kết quả của hoạt động
tiêu thụ hàng hoá, góp phần tiết kiệm chi phí bán hàng, tăng vòng
quay của vốn, tăng lợi nhuận, tạo điều kiện cho hoạt động kinh doanh
đạt hiệu quả cao nhất.
Ngày nay, khi chuyển sang nền kinh tế thị tr ờng, các doanh
nghiệp thơng mại đặc biệt phát triển mạnh.Do đó các hoạt động mua
bán trao đổi đợc mở rộng.Hoạt động tiêu thụ hàng hoá đã có nhiều
thay đổi cụ thể là có nhiều hình thức tiêu thụ hơn, có nhiều ph ơng
thức thanh toán hơn, tóm lại là các nghiệp vụ kinh tế phát sinh
nhiều hơn, đa dạng hơn và phức tạp hơn. Lúc này hệ thống kế toán bán
hàng cũ sẽ không kiểm soát đợc hết các yếu tố của nghiệp vụ bán
hàng. Do đó cần phải hoàn thiện kế toán bán hàng để đáp ứng yêu cầu
quản lý trong điều kiện mới. Việc hoàn thiện kế toán bán hàng là rất
cần thiết và xuất phát từ nhu cầu thực tế khách quan.
11
Báo c áo c hu yê n đề
2. Nội dun g h oàn thi ệ n k ế toá n n g hiệp vụ b án hàn g
tron g cá c doa n h ngh i ệ p th ơ n g mại :
2.1. Hoàn thiện hạch toán ban đầu :
Hạch toán ban đầu là quá trình theo dõi, ghi chép, hệ thống hoá
các nghiệp vụ kinh tế, các hiện tợng và quá trình kinh tế trên chứng từ
làm cơ sở cho hạch toán tổng hợp và hạch toán chi tiết. Hoàn thiện
hạch toán ban đầu đựơc thực hiện trên các nội dung sau :
+ Sử dụng mẫu chứng từ
+ Số lợng chứng từ lập
+ Tổ chức luân chuyển chứng từ.
Kế toán nghiệp vụ bán buôn bán lẻ sử dụng các mẫu chứng từ sau :
+ Hoá đơn GTGT ( Sử dụng đối với doanh nghiệp tính thuế
GTGTtheo phơng pháp khấu trừ ). Hoá đơn GTGT đợc lập làm 3 liên,
một liên giao cho khách hàng, hai liên giữ lại. Trên hoá đơn GTGT ghi
rõ giá bán cha thuế, thuế GTGT, tổng gia thanh toán. Nếu trên hoá đơn
chỉ ghi tổng giá thanh toán thì thuế GTGT đợc tính trên tổng giá thanh
toán theo công thức sau :
Đối với doanh nghiệp áp dụng phơng pháp tính thuế GTGT trực
tiếp trên GTGT thì chứng từ sử dụng ban đầu là hoá đơn bán hàng.
Gía ghi trên hoá đơn bán hàng là giá đã có thuế.
+ Biên bản thừa thiếu hàng hoá : phản ánh số hàng thiếu hoặc
thừa trong các nghiệp vụ tiêu thụ hàng hoá.
+ Biên bản hàng không đúng hợp đồng : phản ánh số hàng
không đúng hợp đồng bị khách hàng trả lại hoặc từ chối thanh toán.
+ Các chứng từ gốc phản ánh quá trình thu hồi tiền, thu hồi công
nợ. Cụ thể :
-Nếu thu bằng tiền mặt, ngân phiếu nhập quỹ thì căn cứ vào các
12
Thuế GTGT = Tổng giá thanh toán ì thuế suất thuế GTGT
Báo c áo c hu yê n đề
phiếu thu, nếu thu bằng séc thì căn cứ vào bảng kê nộp séc.
-Nếu thu qua ngân hàng thì là giấy báo có và bản sao kê của
ngân hàng.
+ Báo cáo bán hàng, bảng kê bán lẻ hàng hoá (với bán lẻ hàng
hoá )
+ Đối với nghiệp vụ tiêu thụ qua đại lý hoặc bán hàng trả góp kế
toán sử dụng các chứng từ : Biên bản giao nhận hàng hoá, hợp đồng
giao nhận đại lý và các chứng từ thanh toán khác
2.2. Vận dụng đúng tài khoản kế toán vào quá trình hạch toán.
2.2.1. Tài khoản sử dụng :
(1) Tài khoản 511 - doanh thu bán hàng : Tài khoản này dùng để
phản ánh doanh thu bán hàng thực tế của doanh nghiệp thực hiện
trong kỳ kinh doanh, Doanh thu phản ánh trên tài khoản 511 - đối với
doanh nghiệp tính thuế GTGT theo phơng pháp khấu trừ - là doanh thu
cha có thuế, còn đối với doanh nghiệp tính thuế GTGT theo ph ơng
pháp trực tiếp thì doanh thu này là doanh thu đã có thuế.
TK 511 đợc chi tiết thành các tài khoản cấp 2 sau:
+TK 5111- Doanh thu về hàng hoá đã đợc xác định là tiêu
thụ
+TK 5112 - Doanh thu về bán thành phẩm.
+TK 5113 - Doanh thu về dịch vụ, lao vụ.
+TK 5114 - Doanh thu trợ giá (chỉ sử dụng ở các doanh
nghiệp bán hàng theo chỉ đạo của Nhà n ớc ).
TK 511 có kết cấu nh sau :
13
- Phản ánh doanh thu thực tế về bán hàng
- Phản ánh thuế TTĐB hoặc thuế
XNK phải nộp.
- phản ánh doanh thu hàng bán bị
trả lại, giảm giá hàng bán.
- Kết chuyển doanh thu bán hàng
thuần để xác định kết quả.
Nợ TK 511 Có
TK 511không có số dư cuối kỳ
Báo c áo c hu yê n đề
Khi hạch toán trên tài khoản 511 cần chú ý :
Doanh thu phản ánh trên TK 511 là doanh thu đã thực hiện ( Khi
doanh nghiệp đã giao hàng và ngời mua đã thanh toán hoặc ký nhận
nợ ).
Trờng hợp đơn vị bán hàng theo phơng thức trả góp thì doanh thu
phản ánh trên TK511 là doanh thu tính theo giá bán thu tiền một
lần(Gía bán thông thờng ).
Trờng hợp đơn vị bán hàng nhận đại lý thì doanh thu phản ánh
trên TK511 là phần hoa hồng đơn vị đợc hởng.
Các trờng hợp sau không đợc phản ánh vào doanh thu :
Các khoản thu về nhợng bán hoặc thanh lý TSCĐ.
Các khoản thu về bán cổ phiếu, trái phiếu, thu đ ợc phân chia về
liên doanh.
Ngời mua ứng trớc tiền cho đơn vị.
Trị giá vật t, thành phẩm xuất giao cho bên ngoài gia công chế
biến.
(2) Tài khoản 512 - Doanh thu bán hàng nội bộ : Tài khoản này
dùng để phản ánh doanh thu nội bộ của số sản phẩm, hàng hoá, dịch
vụ, lao vụ tiêu thụ trong nội bộ doanh nghiệp, giữa các đơn vị trực
thuộc trong cùng một doanh nghiệp.
Tài khoản 512 đợc mở cho các tài khoản cấp 2 sau :
+ TK5121 - Doanh thu về hàng hoá đã đợc xác định là tiêu thụ
+ TK 5122 - Doanh thu về bán thành phẩm.
+ TK 5123 - Doanh thu về dịch vụ, lao vụ.
+ TK 5124 - Doanh thu trợ giá (chỉ sử dụng ở các doanh nghiệp
bánhàng theo chỉ đạo của Nhà nớc ).
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét