Thứ Bảy, 15 tháng 2, 2014

Xác định hiệu quả kinh tế trong chăn nuôi lợn nái Móng Cái sinh sản tại công ty cổ phần đầu tư và phát triển nông nghiệp Hải Phòng

Đồ án tốt nghiệp Ngành: Kỹ thuật Nông nghiệp
2.1.4. Chu kỳ động dục
Khi gia súc thành thục về tính thì cơ thể con cái phát triển mạnh đặc
biệt là cơ quan sinh dục có biến đổi kèm theo sự rụng trứng. Sự phát triển của
trứng dưới sự điều tiết của hooc môn tùy theo tuyến yên làm cho trứng chín
và rụng một cách có chu kỳ. Nó biểu hiện bằng những triệu trứng động dục
theo chu kỳ, được gọi là chu kỳ động dục. Thời gian một chu kỳ động dục
được tính từ lần rụng trứng trước tới lần rụng trứng sau.
Theo John R.Dieh và các cộng tác viên (1996) thì chu kỳ động dục của
lợn thường kéo dài từ 20 - 33 ngày nhưng có thể xê dịch trong phạm vi
18 - 25 ngày, trung bình là 21 ngày và được chia làm 4 giai đoạn sau:
Giai đoạn trước động dục (1 - 2 ngày): quan sát thấy lợn nái có hiện
tượng xưng huyết ở âm hộ và âm hộ bắt đầu sưng lên, hơi mở ra và có màu
hồng tươi, có tiết chất nhờn loãng chảy ra. Lợn biếng ăn thích nhảy lên lưng
con khác nhưng không thích con khác nhảy lên lưng mình.
Giai đoạn động dục hay chịu đực (2 - 3 ngày): giai đoạn này gồm 3 thời
kì: hưng phấn, chịu đực, không chịu đực.
Ở giai đoạn này lợn nái có hoạt động sinh dục mãnh liệt, âm hộ mở to
hơn, chuyển sang màu mận chín, dịch nhờn keo đặc, lợn rất biếng ăn, nếu gặp
lợn đực nhảy lên lưng thì sẽ đứng yên (đây là hiện tượng chịu đực hay mê
đực). Ở giai đoạn này nếu trứng gặp tinh trùng và được thụ tinh thì sẽ chuyển
sang giai đoạn chửa, ngược lại nếu trứng không được thụ tinh sẽ chuyển sang
giai đoạn sau động dục.
Giai đoạn sau động dục (3 - 4 ngày): giai đoạn này có dấu hiệu sinh dục
giảm dần. Lợn giảm hưng phấn thần kinh, sự tăng sinh và tiết dịch của tử
cung ngưng lại, âm hộ teo dần và tái nhợt. Lợn cái không muốn gần con đực,
không cho con khác nhảy lên lưng nó. Con vật dần trở lại trạng thái bình
thường, ăn uống bình thường.
Sinh viên: Nguyễn Mạnh Đức
5
Đồ án tốt nghiệp Ngành: Kỹ thuật Nông nghiệp
Giai đoạn nghỉ ngơi hay giai đoạn yên lặng sinh dục (12 - 14 ngày):
đây là giai đoạn dài nhất thường bắt đầu từ ngày thứ tư sau khi trứng rụng mà
không thụ tinh và kết thúc khi thể vàng tiêu hủy. Ở giai đoạn này hoàn toàn
không có phản xạ sinh dục. Âm hộ teo nhỏ, màu trắng nhạt, lợn ăn uống bình
thường. Đây là giai đoạn nghỉ ngơi để khôi phục lại cấu tạo chức năng cũng
như khôi phục lại năng lượng cho chu kỳ tiếp theo.
Chu kỳ động dục, thời gian động dục cũng như các biểu hiện về hành vi
sinh dục ở lợn cái thay đổi tùy theo giống, lứa tuổi, mùa vụ, điều kiện nuôi
dưỡng, chăm sóc Hơn nữa, lợn nái hậu bị thường có chu kỳ động dục dài
hơn lợn nái cơ bản hoặc nếu chăm sóc nuôi dưỡng kém thì chu kỳ động sẽ
kéo dài.

2.2. Khả năng sinh sản của lợn nái
2.2.1. Khái quát về khả năng sinh sản
Sinh sản là một thuộc tính trọng yếu của sinh vật nói chung và gia súc
nói riêng, là một đặc trưng quan trọng vào loại bậc nhất của sinh vật nhằm
duy trì nòi giống và đảm bảo sự tiến hóa của con vật. Ở gia súc nói chung và
lợn nói riêng thì sinh sản là một chức năng quan trọng mang ý nghĩa tái sản
xuất ra sản phẩm phục vụ cho lợi ích của con người.
Chính vì vậy mà sinh sản là một tính trạng mà con người hết sức quan
tâm và chú trọng nhằm mục đích làm sao trong một thời gian ngắn nhất gia
súc sinh sản được nhiều nhất, thế hệ sau có những đặc tính tốt hơn thế hệ
trước, trong đó năng suất sinh sản được nâng cao thì mang lại hiệu quả kinh tế
cao nhất trong chăn nuôi.
Quá trình sinh sản chiụ sự điều khiển của thần kinh và thể dịch, có thể
được hoàn thiện dần trong quá trình phát triển nhằm đảm bảo cho sự điều tiết
trong quá trình sinh sản.
Sinh viên: Nguyễn Mạnh Đức
6
Đồ án tốt nghiệp Ngành: Kỹ thuật Nông nghiệp
Trong từng giai đoạn khác nhau của cơ thể luôn có sự gắn kết giữa thần
kinh và thể dịch.
Mối quan hệ này luôn luôn tuân theo một quy luật hệ thống kế tiếp và
thống nhất trong một cơ thể với cơ chế hoạt động nhiều chiều của thần kinh
và thể dịch.
Mối quan hệ này luôn luôn tuân theo một quy luật hệ thống kế tiếp và
thống nhất trong một cơ thể với cơ chế hoạt động nhiều chiều của thần kinh
và thể dịch. Nếu trong một khâu nào đó của mối quan hệ nhiều chiều này bị
rối loạn thì cơ thể gia súc sẽ thay đổi theo hướng có lợi hoặc có hại đến khả
năng sinh sản. Sự thay đổi này được thể hiện dưới hình thức chậm động dục ở
lợn cái hậu bị và chậm động dục trở lại ở lợn nái sinh sản hay ở gia súc động
dục mà không có trứng rụng dẫn đến hiện tượng vô sinh ở gia súc cái.
2.2.2. Một số chỉ tiêu đánh giá năng suất sinh sản của lợn nái và những yếu
tố ảnh hưởng đến các chỉ tiêu đó
Trong thực tế có rất nhiều chỉ tiêu đánh giá năng suất sinh sản của lợn
nái, nhưng các nhà di truyền và chọn giống lợn chỉ quan tâm đến một số tính
trạng có năng suất nhất định, mà theo họ là chỉ tiêu quan trọng nhất trong
chăn nuôi lợn nái sinh sản.
2.2.2.1. Số con cái đẻ ra trên ổ
Số con đẻ ra trên ổ được đánh gía bằng số lợn con còn sống và số con
chết trong một ổ, chỉ tiêu này nói lên mức độ đẻ sai của lợn nái.
Số con đẻ ra trên ổ phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố: Giống khác nhau thì
số con đẻ ra trên ổ cũng khác nhau.
Lợn Móng Cái đẻ 12 - 14 con/ lứa.
Số con đẻ ra trên ổ nhiều hay ít còn phụ thuộc vào số lượng trứng rụng,
mà số trứng rụng còn có nhiều yếu tố ảnh hưởng. Theo J. P. burger (1952), L.
N. Barker và cộng sự (1958) thì các giống lợn màu trắng có số trứng rụng
Sinh viên: Nguyễn Mạnh Đức
7
Đồ án tốt nghiệp Ngành: Kỹ thuật Nông nghiệp
nhiều hơn các giống lợn màu đen. C.E Hainer và cộng sự (1959) cho biết số
trứng rụng trong một chu kỳ động dục đầu tiên là: 1,3; chu kỳ thứ 2 là 12,3.
Theo J. S perry (1954) thì trứng rụng của nái tơ là 13,5 và nái trưởng thành là
21,4. O. Vangen (1981) cho rằng số trứng rụng trung bình của lợn nái là từ
15 - 20.
Thường thì số trứng rụng ở chu kỳ động dục đầu tiên ít hơn chu kỳ
động dục thứ hai và thứ ba, do đó trong phối giống thường phối giống ở chu
kỳ thứ hai và thứ ba.
Từ nhiều thí nghiệm nuôi dưỡng lợn nái hậu bị, chờ phối. L. L
Anderson và cộng sự (1982) rút kết luận: Thời gian thích hợp tập trung thức
ăn năng lượng cao để tăng số trứng rụng là 11 - 14 ngày trước khi động dục.
Theo Hughes và Varley (1980): Mức ăn cao trong vòng một ngày trước
động dục thì số trứng tăng 0,9 trứng, ăn cao trong vòng 10 ngày thì số trứng
tăng 1,6 trứng và trong vòng 21 ngày thì số trứng rụng tăng 3,1 trứng.
Trong một số quy định chăn nuôi lợn nái của Philippin, của tập đoàn
Cargill (Mỹ) đã áp dụng chế độ nuôi dưỡng bồi thực (Flushing) với thức ăn
hơn 3 kg cho lợn cái hậu bị trong vòng 14 ngày trước phối và chế độ bồi thực
cho lợn nái từ sau cai sữa cho đến phối giống nhằm tăng số lượng trứng rụng
để tăng số con đẻ ra/ ổ.
Số con đẻ ra/ ổ cũng bị ảnh hưởng bởi tỉ lệ chết phôi và chết thai trong
giai đoạn lợn nái chửa. Nhiều thí nghiệm đã chứng minh rằng: tỷ lệ chết phôi
thai và chết thai từ lúc thụ tinh đến khi đẻ chiếm từ 30 - 50% và gần 2/3 số đó
rơi vào giai đoạn đầu thời kỳ chửa.
J. S.Perry (1954) cho biết 28% phôi chết vào ngày chửa thứ 13 - 18 và
34,8% vào ngày chửa thứ 20 - 40.
Sinh viên: Nguyễn Mạnh Đức
8
Đồ án tốt nghiệp Ngành: Kỹ thuật Nông nghiệp
2.2.2.2. Số con sơ sinh còn sống đến 24 giờ sau khi đẻ
Đây là chỉ tiêu kinh tế, kỹ thuật rất quan trọng. Nó nói lên khả năng đẻ
nhiều con hay ít con của giống, nói lên kỹ thuật chăm sóc nuôi dưỡng lợn nái
có chửa và kỹ thuật thụ tinh của dẫn tinh viên. Trong vòng 24h sau khi đẻ
những lợn con được sinh ra nếu không đạt trọng lượng sơ sinh trung bình của
giống thì không phát dục hoàn toàn đầu to, mông bé v.v . . . thì sẽ bị chết.
Ngoài ra trong thời gian này, lợn con chưa nhanh nhẹn, dễ bị mẹ đè chết. Nếu
lợn nái được đẻ trong cũi có song sắt chắn, thì sẽ tránh được hiện tượng lợn
con bị mẹ đè chết.
Tỷ lệ sống (%) = số con sơ sinh sống đến 24h/số con đẻ ra * 100.
2.2.2.3. Số con đẻ ra/ ổ
Số con để nuôi/ổ là số lợn con đủ tiêu chuẩn giống được giữ lại nuôi.
Số con đẻ nuôi/ổ chịu ảnh hưởng từ số con đẻ ra còn sống trên ổ, độ đồng đều
của lợn con lúc sơ sinh cũng như khả năng tiết sữa nuôi con của lợn mẹ và
trình độ chăm sóc của công nhân viên.
Với thực tế tại trại chăn nuôi lợn Móng Cái thuộc công ty chăn nuôi
Hải Phòng thì số lợn con để nuôi/ổ phần lớn là ưu tiên cho những con cái, vì
mục đích cũng như nhu cầu của trại là cung cấp giống cho các tập thể chăn
nuôi và duy trì giống cho quốc gia, những con đực chỉ được giữ lại nuôi khi
trại có nhu cầu cần đực thay thế hay có sự đặt hàng từ trước của các cơ sở
chăn nuôi khác hoặc dùng ghép đàn khi số lợn cái vẫn chưa đáp ứng đủ số
lượng sữa của lợn nái, tránh tình trạng lãng phí nguồn sữa sẵn có của lợn mẹ.
2.2.2.4. Số con cai sữa/ổ
Là số lợn con được nuôi sống cho đến khi cai sữa mẹ. Thời gian cai sữa
dài hay ngắn tùy thuộc vào cơ sở chăn nuôi, khả năng nuôi con của lợn mẹ và
phụ thuộc vào trình độ kỹ thuật chế biến thức ăn cho lợn con.
Sinh viên: Nguyễn Mạnh Đức
9
Đồ án tốt nghiệp Ngành: Kỹ thuật Nông nghiệp
Tại các nước tiên tiến, người ta cho lợn con tách mẹ ở 21, 28, 35 ngày
tuổi. Tách lợn ra khỏi mẹ sớm sẽ làm cho số lứa đẻ của một nái/ năm tăng lên,
đồng thời hạn chế được một số bệnh hay lây lan từ mẹ chuyển sang con.
Tại nước ta các trại chăn nuôi nhà nước có thể cho lợn con tách mẹ lúc 35
ngày tuổi. Còn chăn nuôi trong các hộ nông dân thì vẫn cai sữa ở 60 ngày
tuổi.
Số con cai sữa/ổ là chỉ tiêu kinh tế, kỹ thuật rất quan trọng, quyết định
hiệu quả kinh tế của ngành chăn nuôi lợn. Nó phụ thuộc vào khả năng tiết sữa
của lợn mẹ, kỹ thuật chăn nuôi lợn con theo mẹ, cũng như khả năng hạn chế
các yếu tố bệnh tật cho lợn con.
Tỷ lệ nuôi sống (%) = số lợn con sống đến cai sữa/số lợn con để lại nuôi
*100.
2.2.2.5. Số con cai sữa/ nái/ năm
Chỉ tiêu này là đánh giá tổng quát nhất đối với nghề nuôi lợn nái.
Người nuôi lợn nái có thể thu được lãi hay không là nhờ ở số lượng lợn con
cai sữa/nái/năm. Nếu tăng số lứa đẻ/nái/năm và tăng số lượng lợn cai sữa
trong mỗi lứa thì số lượng lợn cai sữa/nái/năm sẽ cao.
2.2.2.6. Khoảng cách lứa đẻ
Là thời gian hình thành một chu kỳ sinh sản.
Bao gồm: Thời gian chửa + thời gian nuôi con + thời gian chờ động
dục lại sau cai sữa và phối giống có chửa.
Trong ba yếu tố trên thì thời gian mang thai là không thể thay đổi. Còn
thời gian nuôi con và thời gian chờ phối là có thể thay đổi để rút ngắn khoảng
cách giữa hai lứa đẻ.
Khoảng cách lứa đẻ ngắn sẽ làm tăng số lứa đẻ của nái/ năm.
Sinh viên: Nguyễn Mạnh Đức
10
Đồ án tốt nghiệp Ngành: Kỹ thuật Nông nghiệp
+ Thí dụ:
- Một lợn nái:
Thời gian mang thai: 114 ngày
Thời gian nuôi con: 28 ngày
Thời gian chờ phối: 10 ngày
Tổng cộng cả chu kỳ sinh sản hết 152 ngày. Vậy một năm một nái ấy
đẻ tối đa 2,4 lứa.
- Một lợn nái khác:
Thời gian chửa: 114 ngày
Thời gian nuôi con: 42 ngày
Thời gian chờ phối: 6 ngày
Tổng cộng hết 162 ngày cho một chu kỳ sinh sản. Vậy lợn nái này đẻ
được 2,2 lứa/năm.
2.2.2.7. Khối lượng cai sữa
Khối lượng cai sữa/ con là chỉ tiêu nói lên khả năng nuôi dưỡng lợn con
của lợn mẹ, kỹ thuật chăn nuôi, chăm sóc quản lý và phòng bệnh cho lợn nái
nuôi con và lợn con của một số cơ sở chăn nuôi. Do đó thành tích này là bao
gồm cả phần của lợn nái và phần nuôi dưỡng của con người, nhưng trước hết
là thành tích của lợn nái.
Khối lượng cai sữa càng cao thì càng tốt. Lợn sẽ tăng trọng nhanh ở các
giai đoạn phát triển sau.
2.2.2.8. Khối lượng lúc 90 ngày tuổi/con
Với cơ sở chăn nuôi lợn thuần như trại chăn nuôi lợn Móng Cái thì việc
xác định khối lượng lúc 90 ngày tuổi cũng đồng nghĩa với việc xác định khối
lượng bán.
Sinh viên: Nguyễn Mạnh Đức
11
Đồ án tốt nghiệp Ngành: Kỹ thuật Nông nghiệp
Do đây là cơ sở chăn nuôi còn mang nhiều hình thức thủ công, công
nghệ chăn nuôi còn hạn chế cho nên chưa đủ điều kiện cai sữa sớm và do nhu
cầu cũng như thị hiếu của người mua cho nên cơ sở chăn nuôi chỉ nuôi lợn
sau cai sữa trên dưới 90 ngày tuổi thì sẽ xuất lợn đem bán.
2.2.2.9. Số lứa đẻ/nái/năm
Đây là chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật, nó nói lên khả năng nuôi con của lợn
mẹ, cũng như kỹ thuật và điều kiện chăn nuôi của cơ sở chăn nuôi.
Số lứa đẻ /nái /năm càng cao thì càng tốt như vậy hiệu quả sử dụng của
nái càng cao, nó cũng nói lên hiệu quả của việc chọn và gây nái của giống và
của cơ sở. Ngoài ra số lứa đẻ/nái/năm còn phụ thuộc vào thời gian cai sữa của
lợn trong quá trình nuôi con.
2.2.2.10. Thời gian sử dụng lợn nái
Đây là chỉ tiêu phản ánh hiệu quả của việc chọn nái làm giống, cũng
như chất lượng, hiệu quả của nái được chọn làm giống. Thời gian sử dụng của
một nái càng nhiều thì càng nói lên chất lượng của nái đó tốt.
Trong thực tế chăn nuôi có những nái được sử dụng rất lâu, do khả
năng nuôi con khéo của nó. Với những nái này thì thường cho chúng ta những
con rất tốt và thế hệ sau sẽ được kế thừa yếu tố di truyền này.
Thời gian này được tính từ khi nái được chọn làm giống cho tới khi loại
thải.
2.3. Những nhân tố ảnh hưởng tới sức sản xuất của lợn nái
Trong các nhân tố ảnh hưởng tới sức sản xuất của lợn nái có thể chia
thành hai loại:
-Nhân tố tác động do di truyền.
-Nhân tố tác động do ngoại cảnh:
Sinh viên: Nguyễn Mạnh Đức
12
Đồ án tốt nghiệp Ngành: Kỹ thuật Nông nghiệp
+ Nhân tố tác động do thời tiết, khí hậu.
+ Nhân tố tác động do con người như thụ tinh nhân tạo, cai sữa sớm, bổ
sung thức ăn cho lợn con v.v. . .
2.3.1. Nhân tố tác động di truyền
2.3.1.1. Tính trạng số lượng
Tính trạng số lượng là tính trạng được quy định bởi nhiều cặp gen mà
mỗi cặp gen chỉ có hiệu ứng nhỏ (minorgene). Tính trạng số lượng bị tác động
rất lớn bởi môi trường và sự sai khác về mức độ hơn là sự sai khác về chủng
loại, đó là các tính trạng đa gen (polygene). Hầu hết, những tính trạng có giá
trị của gia súc đều là những tính trạng số lượng mà các tính trạng số lượng
thường có hệ số di truyền thấp và chịu nhiều tác động của ngoại cảnh.
Có hai hiện tượng di truyền cơ bản liên quan đến tính trạng số lượng.
Mỗi hiện tượng di truyền này là một cơ sở lí luận cải tiến di truyền giống vật
nuôi: trước hết là sự giống nhau giữa các con vật thân thuộc, quan hệ thân
thuộc càng gần con vật càng giống nhau. Đó là cơ sở di truyền của sự chọn
lọc. Thứ hai là hiện tượng suy thoái cận thân và hiện tượng ngược lại về sức
sống của con lai và ưu thế lai. Đây là cơ sở di truyền của sự chọn phối để
nhân thuần hoạc tạp giao.
Các tính trạng năng suất sinh sản và khả năng sản xuất là các tính trạng
số lượng do nhiều gen điều khiển, mỗi gen đóng góp một mức độ khác nhau
vào cấu thành năng suất của con vật. Giá trị kiểu hình của các tính trạng năng
suất sinh sản và khả năng sản xuất có sự phân bố liên tục và chịu tác động bởi
nhiều yếu tố ngoại cảnh.
2.3.1.2. Các nhân tố ảnh hưởng tới tính trạng số lượng
Giá trị kiểu hình (P) của bất kì một tính trạng số lượng nào cũng có thể
phân chia thành: giá trị kiểu gen (G) và sai lệch môi trường (E). Giá trị kiểu
gen có thể phân chia thành giá trị cộng gộp của các gen (A), giá trị trội của
Sinh viên: Nguyễn Mạnh Đức
13
Đồ án tốt nghiệp Ngành: Kỹ thuật Nông nghiệp
các gen (D) và giá trị át gen (E
G
) và sai lệch môi trường riêng (E
S
). Giá trị
kiểu hình (P) được biểu thị như sau:
P = G + E
P = A + D + I + E
G
+ E
S
* Giá trị kiểu gen
Giá trị kiểu gen (E) của tính trạng số lượng do nhiều cặp gen quy định.
Phương thức di truyền của các cặp gen này tuân theo các quy luật cơ bản của
di truyền: phân ly, tái tổ hợp, liên kết. Tác dụng của các gen khác nhau trên
cùng một tính trạng có thể là cộng gộp (A) nhưng cũng có thể là không cộng
gộp. Giá trị cộng gộp hay còn gọi là giá trị giống.
Bố mẹ chỉ truyền cho con các gen của chúng chứ không phải truyền
kiểu gen cho thế hệ sau, kiểu gen phải được sáng tạo lại mới ở mỗi thế hệ sau.
Để đo lường giá trị di truyền của bố mẹ cho đời con phải có một giá trị đo
lường có quan hệ với gen chứ không phải có liên quan đến kiểu gen, đó là
“ hiệu ứng trung bình ” của các gen.
Hiệu ứng trung binh của một gen là sai lệch trung bình của cá thể so
với trung bình của quần thể mà nó nhận gen từ một bố hoặc một mẹ nào đó
trong quần thể, còn gen kia nhận từ mẹ hoặc bố khác. Tổng các hiệu ứng
trung bình của các gen mà nó mang (tổng các hiệu ứng được thực hiện với
từng cặp gen ở mỗi locut và trên tất cả các locut) được gọi là giá trị cộng gộp
hoặc giá trị giống của cá thể. Giá tri giống là thành phần quan trọng của kiểu
gen vì nó cố định và có thể di truyền được, do đó nó là nguyên nhân chính
gây nên sự giống nhau giữa các con vật thân thuộc, nghĩa là nó là nhân tố chủ
yếu sinh ra đặc tính di truyền của quần thể và sự đáp ứng của quần thể đối với
sự chọn lọc. Hơn nữa nó là thành phần duy nhất mà người ta có thể xác định
được từ sự đo lường các tính trạng đó ở quần thể.
Tác động của các gen gọi là cộng gộp khi giá trị kiểu hình của kiểu gen
dị hợp luôn luôn là trung gian so với kiểu hình của hai kiểu gen đồng hợp. Giá
Sinh viên: Nguyễn Mạnh Đức
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét