Trong số các tài sản mà doanh nghiệp nắm giữ có một loại tài sản đặc biệt
- đó là tiền. Chính dự trữ tiền cho phép các doanh nghiệp mua các hàng hoá
dịch vụ cần thiết để tạo ra những hàng hoá dịch vụ để phục vụ cho mục đích
trao đổi. Mọi quá trình trao đổi đều đợc thực hiện qua trung gian là tiền và khái
niệm dòng vật chất và dóng tiền phất sinh từ đó, tức sự dịch chuyển hàng hoá,
dịch vụ và sự dịch chuyển tiền giữa các đơn vị và tổ chức kinh tế.
Nh vậy ứng với dòng vật chất đi vào (hàng hoá, dịch vụ đầu vào) là dòng
tiền đi ra; ngợc lại, tơng ứng với dòng vật chất đi ra (hàng hoá, dịch vụ đầu ra)
là dòng tiền đi vào. Quy trình này đợc mô tả theo sơ đồ sau:
Dòng vật chất đi vào Dòng tiền đi ra (xuất quỹ)
Dòng vật chất đi ra Dòng tiền đi vào (nhập quỹ)
Sản xuất, chuyển hoá là một quá trình công nghệ. Một mặt, nó đợc đặc
trng bởi thời gian chuyển hoá hàng hoá và dịch vụ, mặt khác nó đặc trung bởi
yếu tố cần thiết cho sự vận hành - đó là t liệu lao động và sức lao động. Quá
trình công nghệ này có tác dụng quyết định đến cơ cấu vốn và hoạt động trao
đổi của doanh nghiệp.
Doanh nghiệp thực hiện trao đổi hoặc với thị trờng cung cấp hàng hoá
dịch vụ đầu vào, hoặc với thị trờng phân phối, tiêu thụ hàng hoá dịch vụ đầu ra
và tuỳ thuộc vào tính chất hoạt động sản xuất-kinh doanh của doanh nghiệp.
Các quan hệ tài chính của doanh nghiệp đợc phát sinh từ chính quá trình trao
đổi đó. Quá trình này quyết định đến sự vận hành của sản xuất làm thay đổi cơ
cấu vốn của doanh nghiệp. Phân tích các quan hệ tài chính của doanh nghiệp
cần dựa trên hai khái niệm căn bản là dòng và dự trữ. Dòng chỉ xuất hiện trên
cơ sở tích luỹ ban đầu mỗi hàng hoá, dịch vụ hoặc tiền trong mỗi doanh nghiệp
5
Sản xuất
chuyển hoá
và nó sẽ làm thay đổi khối lợng tài sản tích luỹ của doanh nghiệp. Một khối l-
ợng tài sản, hàng hoá, hoặc tiền đợc đo tại một thời điểm là một khoản dự trữ.
Quan hệ giữa dòng và dự trữ là cơ sở nền tảng của tài chính doanh nghiệp. Tuỳ
thuộc vào bản chất khác nhau của các dòng dự trữ mà ngời ta phân biệt dòng
tiền đối trọng và dòng tiền độc lập.
Hoạt động tài chính doanh nghiệp trả lời các câu hỏi chính sau đây:
- Đầu t vào đâu nh thế nào cho phù hợp với hình thức kinh doanh đã chọn,
nhằm đạt tới mục tiêu của doanh nghiệp? Từ đó đa ra tổng tiền cần đầu t.
- Nguồn vốn tài trợ đợc huy động ở đâu, vào thời điểm nào để đạt đợc cơ
cấu vốn tối u và chi phí vốn thấp nhất?
- Quản lý dòng tiền vào, dòng tiền ra sao cho đảm bảo mức ngân quỹ tối
u thông qua việc trả lời câu hỏi: lợi nhuận doanh nghiệp đợc sử dụng nh thế
nào?. Phân tích đánh giá kiểm tra các hoạt động tài chính nh thế nào để thờng
xuyên đảm bảo trạng thái cân bằng tài chính? và quản lý các hoạt động tài
chính ngắn hạn nh thế nào để đa ra quyết định thu, chi phù hợp?
Nghiên cứu tài chính doanh nghiệp thực chất trả lời ba câu hỏi trên.
2 - Phân tích tài chính doanh nghiệp
2.1 - Khái niệm, vai trò phân tích tài chính
Phân tích tài chính doanh nghiệp là một khâu cơ bản trong tài chính
doanh nghiệp, có quan hệ chặt chẽ với các hoạt động khác của doanh nghiệp.
Phân tích tài chính là sử dụng tập hợp các khái niệm, phơng pháp và các công
cụ cho phép xử lý các thông tin kế toán và các thông tin khác về quản lý nhằm
đánh giá tình hình tài chính của một doanh nghiệp, đánh giá rủi ro, mức độ và
chất lợng hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp. Nghiên cứu phân tích tài chính
là khâu quan trọng trong quản lý doanh nghiệp.
Trong hoạt động kinh doanh theo cơ chế thị trờng có sự quản lý của Nhà
nớc, các doanh nghiệp thuộc các loại hình sở hữu khác nhau đều bình đẳng nh
nhau trớc pháp luật trong việc lựa chọn ngành nghề và các lĩnh vực kinh doanh.
6
Do vậy sẽ có nhiều đối tợng quan tâm đến tình hình tài chính của doanh nghiệp
nh: chủ doanh nghiệp, nhà tài trợ, nhà cung cấp khách hàng, kể cả các cơ
quan nhà nớc và ngời làm công, mỗi đối tợng quan tâm đến tình hình tài chính
trên một góc độ khác nhau. Đối với chủ doanh nghiệp và các nhà quản trị
doanh nghiệp, mối quan tâm hàng đầu của họ là khả năng phát triển, tối đa hoá
lợi nhuận, tối đa hoá giá trị sở hữu tài sản doanh nghiệp, do đó họ quan tâm tr-
ớc hết tới lĩnh vực đầu t và tài trợ. Đối với ngời cho vay mối quan tâm chủ yếu
của họ là khả năng trả nợ hiện tại và tơng lai của doanh nghiệp. Đối với các
nhà đầu t khác mối quan tâm chủ yếu của họ là các yếu tố rủi ro, lãi suất, khả
năng thanh toán
Phân tích hoạt động tài chính doanh nghiệp mà trọng tâm là phân tích các
báo cáo tài chính và các chỉ tiêu đặc trng tài chính thông qua một hệ thống các
phơng pháp, công cụ, kỹ thuật phân tích giúp ngời sử dụng từ các góc độ khác
nhau, vừa đánh giá một cách toàn diện, tổng hợp khái quát, vừa xem xét một
cách chi tiết hoạt động tài chính doanh nghiệp, để nhận biết, phán đoán, dự
báo, đa ra quyết định tài chính, quyết định tài trợ và đầu t phù hợp.
Phân tích tài chính sẽ cung cấp các thông tin cần thiết về tình trạng tài
chính của doanh nghiệp để từ đó đa ra quyết định về hạng mục đầu t, quyết
định về cơ cấu vốn, là cơ sở để đa ra các quyết định tài chính. Đồng thời cung
cấp các thông tin cần thiết cho ngời cho vay, cho nhà đầu t, cơ quan thuế, cơ
quan quản lý cấp trên, ngời lao động, thanh tra, cảnh sát kinh tế, phân tích tài
chính tạo ra nguồn thông tin để hoạt động kiểm toán đợc thực hiện.
Các nhân tố ảnh hởng đến hoạt động phân tích tài chính:
- Nhân tố khách quan:
+ Điều kiện phát triển của nền kinh tế: Nền kinh tế càng phát triển thì
hoật động phân tích tài chính càng phổ biến và hiệu quả, các kết luận đa ra
chính xấc hơn do thông tin đợc cung cấp đầy đủ, chính xác, kịp thời, cán bộ
phân tích đợc nâng cao về kiến thức, kinh nghiệm, thiết bị đợc hiện đại hoá tạo
điều kiện thuận lợi cho công tác phân tích.
7
+ Chế độ kế toán, kiểm toán: Chế độ kế toán, kiểm toán quy định những
báo cáo tài chính bắt buộc phải đợc lập tạo điều kiện cung cấp đầy đỷ các
thông tin cho phân tích
+ Sự phát triển của hệ thống thông tin: Hệ thống thông tin phát triển cung
cấp đầy đủ các chỉ số ngành, thông tin về môi trờng kinh tế, môi trờng cạnh
tranh,
- Nhân tố chủ quan:
+ Trình độ của cán bộ quản lý: Nhận thức của ngời quản lý về tầm quan
trọng của hoạt động phân tích tài chính, từ đó dẫn đến hoạt động phân tích tài
chính sẽ đợc thực hiện có nghiêm túc hay không, các kết luân phân tích đợc sử
dụng vào việc đa ra các quuyết định tài chính hay không.
+ Nguồn thông tin: Đây là cơ sở để thực hiện phân tích tài chính, là nhân
tố ảnh hởng rất lớn đến hiệu quả phân.
+ Trình độ cán bộ phân tích: Đây cũng là nhân tố ảnh hởng trực tiếp đến
các kết luận của phân tích tài chính, bởi các kết luận chịu ảnh hởng rất nhiều
bởi ý kiến chủ quan của ngời phân tích,
2.2 - Mục tiêu phân tích tài chính
Phân tích tài chính là sử dụng tập hợp các khái niệm, phơng pháp và các
công cụ cho phép xử lý các thông tin kế toán và các thông tin khác về quản lý
nhằm đánh giá tình hình tài chính của một doanh nghiệp, đánh giá rủi ro, mức
độ và chất lợng hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp.
Quy trình phân tích tài chính hiện nay ngày càng đợc áp dụng rộng rãi ở
các đơn vị tự chủ nhất định về tài chính, các tổ chức xã hội, tập thể, các cơ
quan quản lý, tổ chức công cộng. Đặc biệt, sự phát triển của các doanh nghiệp,
của ngân hàng và của thị trờng vốn đã tạo nhiều cơ hội để chứng tỏ phân tích
tài chính thực sự có ích và cần thiết.
Những ngời phân tích tài chính ở những cơng vị khác nhau thì nhằm
những mục tiêu khác nhau
8
2.1.1- Đối với nhà quản trị
Nhà quản trị phân tích tài chính nhằm đánh giá hoạt động kinh doanh của
doanh nghiệp, xác định điểm mạnh, điểm yếu của doanh nghiệp. Đó là cơ sở
để định hớng đa ra quyết định của ban tổng giám đốc, giám đốc tài chính nh
quyết định đầu t, tài trợ, phân chia cổ tức, , dự thảo tài chính: kế hoạch đầu t,
ngân quỹ, kiểm soát các hoạt động quản lý. Mặt khác, tạo thành các chu kỳ
đánh giá đều đặn hoạt động kinh doanh trong quá khứ, tiến hành cân đối tài
chính, khả năng sinh lời, khả năng thanh toán trả nợ, rủi ro tài chính của doanh
nghiệp.
2.2.2- Đối với nhà đầu t
Các cổ đông là các cá nhân hoặc doanh nghiệp, quan tâm trực tiếp đến
tính toán các giá trị của doanh nghiệp vì họ bỏ vốn cho doanh nghiệp thực hiện
hoạt động kinh doanh sản xuất và họ có thể chịu rủi ro từ khoản vốn đó. Do
vậy, các cổ đông cần biết tình hình thu nhập của mình có tơng xứng với mức
rủi ro của khoản đầu t mà họ chịu. Nhà đầu t phân tích tài chính để nhận biết
khả năng sinh lãi của doanh nghiệp , đây là một trong những căn cứ giúp nhà
đầu t ra quyết có bỏ vốn vào doanh nghiệp hay không?
Thu nhập của các cổ đông tiền chia lợi tức cổ phần và giá trị tăng thêm
của vốn đầu t. Hai yếu tố này ảnh hởng đén lợi nhuận kỳ vọng của doanh
nghiệp. Các nhà đầu t thờng tiến hành đánh giá khả năng sinh lợi của doanh
nghiệp với câu hỏi trọng tâm: lợi nhuận bình quân cổ phiếu của công ty sẽ là
bao nhiêu?. Dự kiến lợi nhuận sẽ đợc nghiên cứu đầy đủ trong chính sách phân
chia lợi tức cổ phần và trong nghiên cứu rủi ro hớng các lựa chọn vào những cổ
phiếu phù hợp nhất.
2.2.3 - Đối với ngời cho vay
Ngời cho vay phân tích tài chính để nhận biết khả năng vay và trả nợ của
khách hàng phân tích. Để đa ra quyết định cho vay, thì một trong những vấn đề
mà ngời cho vay cần phải xem xét là doanh nghiệp thật sự có nhu cầu vay hay
không? Khả năng trả nợ của doanh nghiệp nh thế nào?Bởi nhiều khi một quyết
9
định cho vay có ảnh hởng nặng nề đến tình hình tài chính của ngời cho vay, có
thể dẫn đến tình trạng phá sản của ngời cho vay, hay đơn vị cho vay. Phân tích
tài chính đối với những khoản nợ dài hạn hay khoản nợ ngắn hạn cũng có sự
khác nhau.
Nếu là những khoản nợ ngắn hạn, ngời cho vay đặc biệt quan tâm đến khả
năng thanh toán nhanh của doanh nghiệp. Nghĩa là khả năng ứng phó của
doanh nghiệp khi khoản nợ tới hạn trả nợ.
Nếu là những khoản cho vay dài hạn, ngòi cho vay phải tin chắc khả năng
hoàn trả và khả năng sinh lời của doanh nghiệp vì việc hoàn trả vốn và lãi phụ
thuộc vào khả năng sinh lời này
Kỹ thuật phân tích thay đổi theo bản chất và theo thời hạn của khoản vay,
nhng cho đó là khoản vay dài hạn hay ngắn hạn thì ngời cho vay đều quan tâm
đến cơ cấu tài chính biểu hiện mức độ mạo hiểm của doanh nghiệp đi vay.
Ngoài ra, phân tích tài chính cũng rất cần thiết đối với ngời hởng lơng
trong doanh nghiệp, đối với cán bộ thuế, thanh tra, cảnh sát kinh tế, luật s, Dù
họ công tác ở các lĩnh vực khác nhau nhng đều muốn hiểu biết về doanh
nghiệp để thực hiện tốt hơn công việc của họ.
2.3 - Thông tin sử dụng trong phân tích tài chính
Trong phân tích tài chính, nhà phân tích phải thu thập, sử dụng mọi
nguồn thông tin: từ những thông tin nội bộ doanh nghiệp dến những thông tin
bên ngoài doanh nghiệp, từ thông tin số lợng đến thông tin giá trị. Những
thông tin đó đều giúp nhà phân tích có thể da ra đợc những nhận xét kết luận
tinh tế và thích đáng.
Những thông tin bên ngoài, cần lu ý thu thập thông tin chung nh các
thông tin liên quan đến cơ hội kinh doanh nghĩa là tình hình chung về kinh tế
tại một thời điểm cho trớc. Trạng thái kinh tế: sự suy thoái hay tăng trởng có
tác động mạnh mẽ đến kết quả kinh doanh. Khi cơ hội thuận lợi, các hoạt động
của doanh nghiệp đợc mở rộng, lợi nhuận của công ty, giá trị của công ty cũng
tăng lên, và ngợc lại. Khi phân tích tài chính doanh nghiệp, điều quan trọng
10
phải nhận thấy sự xuất hiện mang tính chu kỳ:qua thời kỳ tăng trởng thì sẽ đến
thời kỳ suy thoái và ngợc lại. Đồng thời thu thập thông tin về chính sách thuế,
lãi suất, các thông tin về ngành kinh doanh nh thông tin liên quan đến vị trí của
ngành trong nền kinh tế, cơ cấu ngành, và các sản phẩm của ngành, tình trạng
công nghệ, thị phần và các thông tin về pháp lý, kinh tế đối với doanh nghiệp:
các thông tin mà các doanh nghiệp phải báo cáo cho các cơ quan quản lý nh:
tình hình quản lý, kiểm toán, kế hoạch sử dụng kết quả kinh doanh của doanh
nghiệp
Tuy nhiên để đánh giá một cách cơ bản tình hình tài chính của doanh
nghiệp, có thể sử dụng thông tin kế toán trong nội bộ doanh nghiệp nh là một
nguồn thông tin quan trọng bậc nhất. Với những đặc trng hệ thống, đồng nhất
và phong phú, kế toán hoạt động nh một nhà cung cấp quan trọng nhng thông
tin đánh giá cho phân tích tài chính.Vả lại các doanh nghiệp có nghĩa vụ cung
cấp các thông tin kế toán cho đối tác bên trong và bên ngoài doanh
nghiệp.thông tin kế toán đợc phản ánh khá đầy đủ trong các báo cáo kế toán.
Phân tích tài chính đợc thực hiện trên cơ sở các báo cáo tài chính đợc hình
thành thông qua việc xử lý các báo cáo kế toán chủ yếu: đó là bảng cân đối kế
toán, báo cáo kết quả kinh doanh, ngân quỹ (báo cáo lu chuyển tiền tệ).
2.3.1- Bảng cân đối kế toán
Bảng cân đối kế toán là báo cáo tài chính mô tả tình trạng tài chính của
một doanh nghiệp tại một thời điểm nhất định nào đó. Đây là báo cáo tài chính
có ý nghĩa quan trọng đối với mọi đối tợng có quan hệ sở hữu, quan hệ kinh
doanh và quan hệ quản lý với doanh nghiệp. Thông thờng bảng cân đối kế toán
đợc trình bày dới dạng bảng cân đối các số d tài khoản kế toán: một bên phản
ánh tài sản, một bên phản ánh nguồn vốn của doanh nghiệp.
Bên tài sản của bảng cân đối kế toán phản ánh giá trị của toàn bộ tài sản
hiện có đến thời điểm lập báo cáo thuộc quyền quản lý và sử dụng của doanh
nghiệp: đó là tài sản lu động, tài sản cố định. Bên nguồn vốn phản ánh số vốn
11
để hình thành các loại tài sản của doanh nghiệp đến thời điểm lập báo cáo: đó
là vốn chủ và các khoản nợ.
Các khoản mục trên bảng cân đối kế toán đợc sắp xếp theo khả năng
chuyển hoá thành tiền giảm dần từ trên xuống.
Bên tài sản
Tài sản lu động: tiền chứng khoán ngắn hạn dễ bán, khoản phải thu, dự
trữ .Tài sản cố định hữu hình và tài sản cố định vô hình.
Bên nguồn vốn
Nợ ngắn hạn bao gồm nợ phải trả nhà cung cấp, các khoản phải nộp, phải
trả khác nợ ngắn hạn ngân hàng thơng mại và các tổ chức tín dụng khác. Nợ
dài hạn bao gồm nợ dài hạn vay ngân hàng thơng mại và các tổ chức tín dụng
khác, vay bằng cách phát hành trái phiếu. Vốn chủ sở hữu bao gồm vốn góp
ban đầu, lợi nhuận không chia, phát hành cổ phiếu mới.
Về mặt kinh tế, bên tài sản phản ánh quy mô và kết cấu các loại tài sản;
bên nguồn vốn phản ánh cơ cấu tài trợ, cơ cấu vốn cũng có khả năng độc lập về
tài chính của doanh nghiệp.
Bên tài sản và bên nguồn vốn của bảng cân đối kế toán đều có các cột chỉ
tiêu: số đầu kỳ, số cuối kỳ. Ngoài các khoản mục có trong tài khoản nội bảng
còn có một số khoản mục ngoài bảng cân đối kế toán nh: một số tài khoản thuê
ngoài, vật t, hàng hoá nhận giữ hộ, nhận gia công, hàng hoá nhận bán hộ, ngoại
tệ các loại
Dựa vào bảng cân đối kế toán, nhà phân tích có thể nhận biết đợc loại
hình doanh nghiệp, quy mô, mức độ tự chủ tài chính của doanh nghiệp. Bảng
cân đối kế toán là một t liệu quan trọng bậc nhất giúp các nhà phân tích đánh
giá đợc khả năng cân bằng tài chính, khả năng thanh toán, khả năng cân đối
vốn của doanh nghiệp.
2.3.2 - Báo cáo kết quả kinh doanh
12
Một thông tin không kém phần quan trọng đợc sử dụng trong phân tích tài
chính là thông tin phản ánh trong báo cáo kết quả kinh doanh. Khác với bảng
cân đối kế toán, báo cáo kết quả kinh doanh cho biết sự dịch chuyển tiền trong
quá trình sản xuất-kinh doanh của doanh nghiệp và cho phép dự tính khả năng
hoạt động của doanh nghiệp trong tơng lai. Báo cáo kết quả kinh doanh giúp
nhà phân tích so sánh doanh thu với số tiền thực nhập quỹ để vận hành doanh
nghiệp. Trên cơ sở doanh thu và chi phí, có thể xác định đợc kết quả sản xuất-
kinh doanh: lãi hay lỗ trong năm. Nh vậy báo cáo kết quả kinh doanh phản ánh
kết quả hoạt động sản xuất-kinh doanh, phản ánh tình hình tài chính của một
doanh nghiệp trong một thời kỳ nhất định. Nó cung cấp những thông tin tổng
hợp về tình hình và kết quả sử dụng tiềm năng về vốn, lao động, kĩ thuật và
trình độ quản lý sản xuất-kinh doanh của doanh nghiệp.
Những khoản mục chủ yếu đợc phản ánh trên báo cáo kết quả kinh
doanh: doanh thu từ hoạt động sản xuất kinh doanh, doanh thu từ hoạt động tài
chính, doanh thu từ hoạt động bất thờng và chi phí tơng ứng từ các hoạt động
đó.
Những loại thuế nh: VAT, thuế tiêu thụ đặc biệt, về bản chất không phải
là doanh thu cũng không phải là chi phí của doanh nghiệp nên không phản ánh
trên báo cáo kết quả kinh doanh. Toàn bộ các khoản thuế đối với doanh nghiệp
và các khoản phải nộp khác đợc phản ánh trong phần: Tình hình thực hiện
nghĩa vụ với Nhà nớc.
2.3.3-Ngân quỹ (báo cáo lu chuyển tiền tệ)
Báo cáo lu chuyển tiền tệ là một báo cáo tài chính. Nếu bảng cân đối kế
toán những nguồn lực của cải (tài sản) và nguồn gốc của những tài sản đó; và
báo cáo kết quả kinh doanh cho ta biết chi phí và thu nhập phát sinh để tính đ-
ợc kết quả lãi, lỗ trong một kỳ kinh doanh, thì báo cáo lu chuyển tiền tệ đợc
lập để trả lời những vấn đề liên quan đến luồng tiền vào, ra trong doanh
nghiệp, tình hình tài trợ, đầu t bằng tiền của doanh nghiệp trong từng thời kỳ.
13
Để đánh giá một doanh nghiệp có đảm bảo đợc khả năng chi trả hay
không cần tìm hiểu tình hình ngân quỹ của doanh nghiệp. Ngân quỹ thờng đợc
xác định trong thời gian ngắn hạn (thờng là từng tháng).
Xác định hoặc dự báo dòng tiền thực nhập (thu ngân quỹ), bao gồm: dòng
tiền nhập quỹ từ hoạt động kinh doanh (từ bán hàng hoá hoặc dịch vụ); dòng
tiền nhập quỹ từ hoạt động đầu t tài chính; dòng tiền nhập quỹ từ hoạt động bất
thờng.
Xác định hoặc dự báo dòng tiền thực xuất quỹ (chi ngân quỹ), bao gồm:
dòng tiền xuất thực hiện sản xuất kinh doanh, dòng tiền xuất quỹ thực hiện
hoạt động đầu t tài chính; dòng tiền xuất thực hiện hoạt động bất thờng.
Trên cơ sở dòng tiền nhập quỹ và dòng tiền xuất quỹ, nhà phân tích thực
hiện cân đối ngân quỹ với số d ngân quỹ đầu kỳ để xác định số d ngân quỹ
cuối kỳ. Từ đó có thể thiết lập mức ngân quỹ dự phòng tối thiểu cho doanh
nghiệp nhằm mục tiêu đảm bảo chi trả.
2.3.4 - Thuyết minh báo cáo tài chính
Thuyết minh báo cáo tài chính đợc lập nhằm cung cấp các thông tin về
tình hình sản xuất, kinh doanh cha có trong hệ thống các báo cáo tài chính,
đồng thời giải thích thêm một số chỉ tiêu mà các báo cáo tài chính cha đợc
trình bày, giải thích một cách rõ ràng và cụ thể.
Thuyết minh báo cáo tài chính bao gồm các nội dung sau:
-Đặc diểm hoạt động của doanh nghiệp: Hình thức sở hữu , hoạt động,
lĩnh vực kinh doanh, tổng số nhân viên những ảnh hởng quan trọng đến tình
hình tài chính trong năm báo cáo.
-Chế độ kế toán áp dụng tại doanh nghiệp: Niên độ kế toán, đơn vị tiền tệ
trong ghi chép kế toán, nguyên tắc, phơng pháp chuyển đổi các đồng tiền khác,
hình thức sổ kế toán, phơng pháp kế toán tài sản cố định, phơng pháp kế toán
hàng tồn kho, phơng pháp tính toán các khoản dự phòng, tình hình trích lập và
hoàn nhập dự phòng.
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét