Chủ Nhật, 9 tháng 2, 2014

Một số biện pháp nâng cao khả năng cạnh tranh của sản phẩm sứ vệ sinh Viglacera của Công ty Sứ Thanh Trì.doc

Sơ đồ
bảng
Biểu đồ
chơng I Một số vấn đề về cạnh tranh và khái
quát về công ty sứ thanh trì
Khi một nền kinh tế phát triển theo cơ chế thị trờng thì quy luật cạnh tranh
xuất hiện nh là một tất yếu khách quan và cạnh tranh chính là môi trờng kinh tế thị
trờng. Do vậy, tất cả các thành phần kinh tế khi tham gia vào thị trờng đều phải
chấp nhận quy luật này. Chơng này tập trung vào hai nội dung chính là một số vấn
đề về cạnh tranh và khái quát về một công ty trong cơ chế thị trờng hiện nay
Công ty Sứ Thanh Trì.
1. Một số vấn đề về cạnh tranh
Cạnh tranh và khả năng cạnh tranh
1.1.1. Khái niệm cạnh tranh và khả năng cạnh tranh
Nh chúng ta đã biết, kinh tế thị trờng có rất nhiều đặc trng, trong đó, cạnh
tranh là một đặc trng nổi bật và rất quan trọng.
Có thể hiểu cạnh tranh là cuộc đấu tranh gay gắt, quyết liệt giữa các đối thủ
thể hiện trên thị trờng nhằm giành giật những điều kiện sản xuất thuận lợi và nơi
tiêu thụ hàng hoá, dịch vụ có lợi nhất, đồng thời tạo điều kiện thúc đẩy sản xuất
phát triển.
Cạnh tranh kinh tế là quan hệ kinh tế mà ở đó các chủ thể kinh tế ganh đua
nhau tìm mọi biện pháp cả nghệ thuật lẫn thủ đoạn để đạt đợc mục tiêu kinh tế của
mình, thông thờng là chiếm lĩnh thị trờng, giành lấy khách hàng cũng nh các điều
kiện sản xuất, thị trờng có lợi nhất. Mục đích cuối cùng của các chủ thể kinh tế
trong quá trình cạnh tranh là tối đa hoá lợi ích ( Đối với ngời sản xuất kinh doanh
là lợi nhuận, đối với ngời tiêu dùng là lợi ích tiêu dùng và sự tiện lợi).
Để có thể tồn tại trong nền kinh tế thị trờng, một trong những yêu cầu đặt ra
cho tất cả doanh nghiệp là phải chấp nhận cạnh tranh để giành đợc khách hàng
bằng những sản phẩm hay dịch vụ có khả năng cạnh tranh của mình với các đối
thủ, tức là giành đợc thị trờng. Một sản phẩm có khả năng cạnh tranh và có thể
đứng vững trên thị trờng khi sản phẩm đó có mức giá thấp hơn hoặc cung cấp các
sản phẩm tơng tự với chất lợng hay dịch vụ ngang bằng hoặc cao hơn. Muốn nh
vậy, các doanh nghiệp phải có khả năng cạnh tranh.
Khả năng cạnh tranh là năng lực cần thiết để doanh nghiệp có thể duy trì vị
trí của mình một cách lâu dài và có ý thức, ý chí trên thị trờng cạnh tranh, đảm bảo
2
thực hiện một tỷ lệ lợi nhuận ít nhất phải bằng tỷ lệ cho đầu t vào những mục tiêu
của doanh nghiệp để đảm bảo cho sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp.
Nh vậy có thể thấy, khả năng cạnh tranh là đặc biệt quan trọng đối với mỗi
doanh nghiệp. Với tầm quan trọng đó, các doanh nghiệp không chỉ phải duy trì
khả năng cạnh tranh mà còn phải ngày càng nâng cao khả năng cạnh tranh của
doanh nghiệp mình, phải coi đó là một quá trình lâu dài, để doanh nghiệp không
chỉ tồn tại mà ngày càng phát triển trong cơ chế thị trờng hiện nay.
1.1.2. Vai trò của cạnh tranh
Có thể nói rằng khi nền kinh tế thị trờng ra đời thì cạnh tranh xuất hiện, và
cạnh tranh là môi trờng của kinh tế thị trờng. Quy luật cơ bản của cạnh tranh là
quy luật điều chỉnh tỷ suất lợi nhuận, đợc dựa trên sự chênh lệch giữa giá trị và chi
phí sản xuất và khả năng có thể bán đợc hàng hoá dới giá trị của nó mà vẫn thu đ-
ợc lợi nhuận. Vì lẽ đó mà các doanh nghiệp luôn luôn phải tìm hiểu, đa ra các biện
pháp để không chỉ cạnh tranh với các đối thủ khác trên thị trờng mà còn để doanh
nghiệp hoạt động vẫn có lãi, duy trì và phát triển doanh nghiệp.
Cạnh tranh là một trong những quy luật khách quan của nền kinh tế thị trờng
và nó có tầm quan trọng rất lớn đối với nhiều đối tợng.
Đối với doanh nghiệp, cạnh tranh là một điều kiện tốt để doanh nghiệp quan
tâm cải tiến sản phẩm, nâng cao chất lợng, dịch vụ, giá cả, tạo cho sản phẩm có sự
khác biệt; đầu t những công nghệ, dây chuyền sản xuất hiện đại để hoạt động sản
xuất có hiệu quả; từ đó làm cho lợi nhuận của doanh nghiệp ngày một tăng, giúp
cho doanh nghiệp có đợc chỗ đứng vững chắc trên thị trờng.
Nhờ có cạnh tranh, ngời tiêu dùng có thể thoải mái, dễ dàng trong việc lựa
chọn những hàng hoá phù hợp với sở thích và khả năng chi trả của mình; không
những thế, khách hàng ngày càng đợc quan tâm hơn bởi các dịch vụ trớc và sau
bán. Bởi vậy, trong cơ chế thị trờng, nhu cầu của khách hàng ngày một tăng và lợi
ích mà khách hàng thu đợc ngày càng nhiều.
Cạnh tranh có tác động rất lớn đến nền kinh tế của một quốc gia. Cạnh tranh
đã khiến cho nền kinh tế xuất hiện nhiều thành phần kinh tế và nó đồng thời cũng
là một công cụ hữu hiệu để Nhà nớc chống độc quyền. Cạnh tranh cũng là một
chất xúc tác khiến cho tình hình sản xuất của một đất nớc đợc phát triển, năng suất
đợc nâng cao do các doanh nghiệp buộc phải quan tâm đến việc nghiên cứu, áp
3
dụng khoa học kỹ thuật hiện đại vào sản xuất kinh doanh để cạnh tranh với các
doanh nghiệp khác.
Nh vậy, cạnh tranh có vai trò rất lớn đối với không chỉ ngời dân, mà còn rất
quan trọng đối với các doanh nghiệp và cả nền kinh tế của một nớc. Cạnh tranh
chính là động lực phát triển cơ bản nhằm kết hợp một cách hợp lý giữa lợi ích của
doanh nghiệp với lợi ích của xã hội, tạo điều kiện để doanh nghiệp sản xuất kinh
doanh có hiệu quả. Chính vì tầm quan trọng rất lớn đó của cạnh tranh mà buộc các
doanh nghiệp phải quan tâm, duy trì và ngày càng phải nâng cao khả năng cạnh
tranh của doanh nghiệp mình bằng nhiều biện pháp khác nhau để doanh nghiệp
tồn tại và phát triển.
1.1.3. Các loại hình cạnh tranh
Cạnh tranh có thể đợc chia thành nhiều loại dựa trên nhiều góc độ. Dới đây là
một số căn cứ và các loại hình cạnh tranh.
- Căn cứ vào chủ thể tham gia thị trờng: có ba loại là
+ Cạnh tranh giữa ngời bán với ngời mua: Đây là sự cạnh tranh đợc diễn ra
theo quy luật mua rẻ bán đắt, tức là ngời bán muốn bán với giá cao, còn ngời
mua muốn mua với giá rẻ.
+ Cạnh tranh giữa ngời mua với ngời mua: Nó đợc diễn ra khi lợng hàng hoá
bán ra (lợng cung) nhỏ hơn nhu cầu của ngời tiêu dùng (lợng cầu). Điều này làm
cho giá tăng và ngời mua chấp nhận giá đó để mua đợc hàng cần mua.
+ Cạnh tranh giữa ngời bán với ngời bán: Đây là cạnh tranh giữa các doanh
nghiệp, làm cho giá giảm xuống do lợng cung lớn hơn lợng cầu. Loại hình cạnh
tranh này có lợi cho thị trờng, khiến cho các doanh nghiệp phải chịu sức ép lớn
của thị trờng
- Căn cứ vào phạm vi ngành kinh tế: Có hai loại là
+ Cạnh tranh nội bộ ngành: là sự cạnh tranh diễn ra giữa các doanh nghiệp
trong cùng một ngành.
+ Cạnh tranh giữa các ngành: là cạnh tranh giữa các doanh nghiệp trong các
ngành với nhau để giành lợi nhuận lớn nhất.
- Căn cứ vào mức độ cạnh tranh: Có ba loại là
+ Cạnh tranh hoàn hảo: là cạnh tranh mà trên thị trờng không một ai (kể cả
ngời bán và ngời mua) có tác động và ảnh hởng đến giá cả và sản lợng của thị tr-
4
ờng, nghĩa là họ không có sức mạnh thị trờng. Sản phẩm bán ra đợc ngời mua xem
là đồng nhất. Ngời bán và ngời mua chỉ có thể chấp nhận giá thị trờng.
+ Cạnh tranh không hoàn hảo: Là cạnh tranh mà ở đó các sản phẩm đợc dị
biệt hoá và có thể thay thế cho nhau ở mức độ cao nhng không phải là thay thế
hoàn hảo, thị trờng có một số ngời bán và nhiều ngời mua.
+ Cạnh tranh độc quyền: Là cạnh tranh trên thị trờng ở đó chỉ có một số ngời
bán sản phẩm thuần nhất.
- Căn cứ vào tính chất cạnh tranh: có hai loại là cạnh tranh lành mạnh và
cạnh tranh không lành mạnh.
- Căn cứ vào khả năng cạnh tranh
+ Cạnh tranh quốc gia
+ Cạnh tranh ngành
+ Cạnh tranh của doanh nghiệp
+ Cạnh tranh của sản phẩm
Với những hiểu biết về cạnh tranh và quá trình thực tập tại Công ty Sứ Thanh
Trì, với đề tài đã chọn, giới hạn phạm vi nghiên cứu của đề tài chỉ dừng lại ở việc
nghiên cứu về cạnh tranh sản phẩm, là khả năng cạnh tranh đợc đánh giá bằng thị
phần mà sản phẩm chiếm đợc trên thị trờng, để qua đó đánh giá khả năng cạnh
tranh của Công ty Sứ Thanh Trì so với các đối thủ cạnh tranh đang có mặt tại thị
trờng Việt Nam để tìm ra một số biện pháp nâng cao khả năng cạnh tranh của sản
phẩm sứ vệ sinh Viglacera của Công ty Sứ Thanh Trì.
1.2. Các chỉ tiêu đánh giá khả năng cạnh tranh
Khả năng cạnh tranh có thể đợc đánh giá thông qua những chỉ tiêu sau:
1.2.1. Thị phần:
Để có thể đánh giá khả năng cạnh tranh sản phẩm của doanh nghiệp, ngời ta
thờng sử dụng chỉ tiêu này. Chỉ tiêu này đánh giá mức độ chiếm lĩnh thị trờng của
một doanh nghiệp so với đối thủ cạnh tranh.
+ Thị phần sản phẩm của doanh nghiệp so với toàn thị trờng sản phẩm:
Công thức:
5

100
trường thị lượng Dung
DN của phẩm nsả từ thu Doanh
DN của phẩm nsả phần Thị ì=
+ Thị phần sản phẩm của doanh nghiệp so với phân đoạn thị trờng mà nó
phục vụ:
Công thức:
100
vụ phục dã trường thị oạn lượng Dung
DN của phẩm nsả từ thu Doanh
DN của phẩm nsả phần Thị ì=
d
Chỉ tiêu này sẽ cho biết doanh nghiệp đứng ở vị trí nào trên thị trờng, đánh
giá khả năng cạnh tranh của sản phẩm của doanh nghiệp, xem xem doanh nghiệp
chiếm đợc bao nhiêu phần trăm thị trờng.
1.2.2. Tốc độ tăng trởng của doanh nghiệp tính theo doanh thu từ sản
phẩm cạnh tranh
Công thức:
1
1



=
t
tt
t
DT
DTDT
Gt

Trong đó: Gt
1
: Tốc độ tăng trởng thời kỳ nghiên cứu
DT
t
: Doanh thu kỳ nghiên cứu
DT
t-1
: Doanh thu kỳ trớc
ý nghĩa: Chỉ tiêu này đánh giá mức độ tăng hoặc giảm doanh thu của doanh
nghiệp trên thị trờng qua các năm liên tiếp, qua đó cho thấy tình hình tiêu thụ sản
phẩm của doanh nghiệp tăng hay giảm để đánh giá khả năng cạnh tranh của sản
phẩm, khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp.
1.2.3. Tốc độ tăng trởng của doanh nghiệp theo lợi nhuận thu đợc từ sản
phẩm cạnh tranh
Công thức:
1
1
Pr
PrPr



=
t
tt
t
Gr
Trong đó: Gr
t
: Tốc độ tăng trởng kỳ nghiên cứu
Pr
t
: Lợi nhuận kỳ nghiên cứu
Pr
t-1
: Lợi nhuận kỳ trớc
ý nghĩa: Chỉ tiêu này phản ánh thực chất và chính xác hơn chỉ tiêu trên vì
nó so sánh tốc độ tăng, giảm lợi nhuận và lợi nhuận mới thực sự phản ánh kết quả
kinh doanh của doanh nghiệp.
6
1.2.4. Tốc độ tăng của hoạt động xuất khẩu sản phẩm qua các năm
Công thức:
1
1



=
t
tt
t
EX
EXEX
EG
Trong đó: EG
t
: Tốc độ tănng kim ngạch xuất khẩu kỳ nghiên cứu
EX
t
: Kim ngạch xuất khẩu kỳ nghiên cứu
EX
t-1
: Kim ngạch xuất khẩu kỳ trớc
ý nghĩa: Chỉ tiêu này nói lên khả năng xuất khẩu của doanh nghiệp tăng
hoặc giảm; nếu khả năng xuất khẩu của doanh nghiệp tăng thì có thể cho biết khả
năng cạnh tranh của doanh nghiệp có phần tăng lên.
Ngoài ra, ngời ta cũng có thể đánh giá khả năng cạnh tranh của sản phẩm của
doanh nghiệp thông qua những chỉ tiêu về giá hay mức độ nổi tiếng, uy tín của th-
ơng hiệu của sản phẩm đó.
1.3. Các biện pháp nâng cao khả năng cạnh tranh của sản phẩm của doanh
nghiệp
Các doanh nghiệp trong cơ chế thị trờng luôn luôn cố gắng nâng cao năng lực
cạnh tranh của mình bằng nhiều cách. Và doanh nghiệp phải luôn tìm ra những
thuận lợi, khai thác nội lực của doanh nghiệp mình để có thể cạnh tranh với các
đối thủ. Điều đó có nghĩa là các doanh nghiệp phải khai thác lợi thế cạnh tranh
của doanh nghiệp mình.
Lợi thế cạnh tranh là u thế đạt đợc của doanh nghiệp (so với các doanh
nghiệp khác cùng ngành) một cách tơng đối dựa trên các nguồn lực và năng lực
sản xuất của doanh nghiệp đó.
Muốn có đợc lợi thế cạnh tranh, doanh nghiệp phải hoạt động thực sự có hiệu
quả, cùng với đó, sản phẩm tung ra thị trờng phải có chất lợng ngang bằng hoặc
cao hơn đối thủ cạnh tranh. Hơn nữa, sản phẩm và dịch vụ doanh nghiệp cung cấp
phải luôn có sự đổi mới và phù hợp với nhu cầu ngày càng cao và luôn thay đổi
của khách hàng.
Để có thể nâng cao khả năng cạnh tranh, doanh nghiệp có thể sử dụng các
biện pháp sau:
7
1.3.1. Cạnh tranh bằng sản phẩm
Để doanh nghiệp có thể cạnh tranh trên thị trờng thì yếu tố quyết định đầu
tiên và cũng là quan trọng nhất đó là sản phẩm của doanh nghiệp có thể cạnh tranh
với các sản phẩm khác trên thị trờng hay không. Bởi một doanh nghiệp muốn có
đợc thị trờng thì đồng nghĩa với đó, doanh nghiệp phải có đợc khách hàng, nghĩa
là sản phẩm của doanh nghiệp phải đợc khách hàng chấp nhận. Muốn nh vậy thì
sản phẩm đó phải thoã mãn các nhu cầu của ngời tiêu dùng, không những thế, sản
phẩm phải ngang bằng hoặc cao hơn các sản phẩm cùng loại của các đối thủ cạnh
tranh về cả chất lợng, kiểu dáng, mầu sắc
Một doanh nghiệp có thể nâng cao khả năng cạnh tranh của mình bằng biện
pháp này nếu doanh nghiệp biết đa ra những chiến lợc sản phẩm đúng đắn, tạo ra
những sản phẩm phù hợp với những nhu cầu khác nhau của ngời tiêu dùng.
Với chiến lợc này, doanh nghiệp có thể có những hớng sau:
Đa dạng hoá sản phẩm là việc mở rộng danh mục các chủng loại sản phẩm,
tạo ra một cơ cấu sản phẩm giúp khách hàng dễ dàng trong việc lựa chọn.
Có một số cách phân loại hình thức đa dạng hoá sản phẩm:
- Xét theo sự biến đổi danh mục sản phẩm:
+ Biến đổi chủng loại: tức là hoàn thiện, cải tiến những sản phẩm đang sản
xuất để vừa giữ thị trờng hiện tại, vừa thâm nhập vào thị trờng mới.
+ Đổi mới chủng loại: là không sản xuất những sản phẩm đã lỗi thời hay khó
tiêu thụ để sản xuất những sản phẩm mới.
- Xét theo tính chất của nhu cầu về sản phẩm:
+ Đa dạng hoá theo chiều sâu của mỗi loại sản phẩm: biện pháp này sẽ làm
tăng thêm mẫu mã, kiểu dáng của cùng một loại sản phẩm để thoả mãn nhu cầu đa
dạng của ngời tiêu dùng.
+ Đa dạng theo bề rộng nhu cầu các loại sản phẩm: bằng biện pháp này, mỗi
sản phẩm chế tạo ra sẽ có kết cấu, công nghệ và giá trị sử dụng cụ thể khác nhau
để thoả mãn đồng bộ một số nhu cầu có liên quan tới một đối tợng cụ thể.
- Xét theo phơng thức thực hiện:
+ Đa dạng hoá trên cơ sở nguồn lực hiện có
+ Đa dạng hoá trên cơ sở nguồn lực hiện có, cộng với đầu t bổ sung
8
+ Đa dạng hoá sản phẩm bằng đầu t mới
Chất lợng của sản phẩm là một chỉ tiêu quan trọng đối với việc tăng khả
năng cạnh tranh của doanh nghiệp. Chất lợng sản phẩm là tổng thể các chỉ tiêu,
những đặc trng kinh tế kỹ thuật thể hiện sự thoả mãn nhu cầu trong những điều
kiện xác định, phù hợp với công dụng sản phẩm mà ngời tiêu dùng mong muốn.
Chất lợng của sản phẩm đợc hình thành từ quá trình thiết kế đến quá trình sản
xuất và đến cả quá trình tiêu dùng. Chính vì vậy khi sản xuất sản phẩm, doanh
nghiệp cần phải chú ý đến chất lợng của sản phẩm sao cho chất lợng không chỉ đạt
các tiêu chuẩn về kinh tế kỹ thuật mà chất lợng sản phẩm còn phải phù hợp với
nhu cầu của thị trờng. Có nh vậy, doanh nghiệp mới có thể nâng cao năng lực cạnh
tranh của mình trên thị trờng.
1.3.2. Cạnh tranh bằng giá bán sản phẩm
Cạnh tranh bằng giá bán sản phẩm là một biện pháp quan trọng trong việc
nâng cao khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp.
Việc định giá của sản phẩm sau khi sản xuất để có thể tiêu thụ đợc trên thị tr-
ờng phụ thuộc vào nhiều yếu tố nh chi phí sản xuất, chi phí bán hàng chi phí lu
thông, chi phí yểm trợ và xúc tiến bán hàng (những yếu tố kiểm soát đợc); hay
việc cạnh tranh với các đối thủ, quan hệ cung cầu trên thị trờng, sự điều tiết của
Nhà nớc (những yếu tố không kiểm soát đợc). Chính vì thế, doanh nghiệp cần phải
cân nhắc trong việc ấn định giá bán sao cho sản phẩm vừa có thể tiêu thụ đợc,
cạnh tranh đợc mà lại có thể bù đắp đợc chi phí sản xuất và đảm bảo có lãi.
1.3.3. Cạnh tranh bằng hệ thống kênh phân phối sản phẩm
Theo định nghĩa của Marketing: Kênh phân phối là một tập hợp các doanh
nghiệp và cá nhân độc lập và phụ thuộc lẫn nhau, tham gia vào quá trình đa hàng
hoá từ ngời sản xuất tới ngời tiêu dùng.
Kênh phân phối có các chức năng rất quan trọng nh: nghiên cứu thị trờng,
xúc tiến khuếch trơng cho những sản phẩm mà họ bán, thơng lợng, phân phối vật
chất, thiết lập mối quan hệ, hoàn thiện hàng hoá, tài trợ, san sẻ rủi ro. Các chức
năng này đã khẳng định vai trò không thể thiếu của kênh phân phối.
Có nhiều loại kênh phân phối:
Phân phối trực tiếp: Nhà sản xuất > Ngời tiêu dùng
Kênh một cấp: Nhà sản xuất > Nhà bán lẻ > Ngời tiêu dùng
9
Kênh 2 cấp: Nhà sản xuất >Bán buôn >Bán lẻ > Ngời tiêu dùng
Kênh 3cấp: Nhà sản xuất >Đại lý >Bán buôn >Bán lẻ >Ngời tiêu dùng
Mỗi loại kênh phân phối có đặc điểm và những u nhợc diểm riêng. Bởi thế,
việc lựa chọn kênh phân phối phải đợc các doanh nghiệp cân nhắc kỹ nếu muốn
việc tiêu thụ của doanh nghiệp mình đạt hiệu quả. Cùng với việc lựa chọn hệ thống
kênh phân phối, các doanh nghiệp cũng cần phải đa ra các chính sách phân phối
sản phẩm sao cho phù hợp, có hiệu quả đồng thời đáp ứng đợc nhu cầu của khách
hàng.
Ngoài ba biện pháp chính đã nêu, còn có những biện pháp khác nh cạnh
tranh bằng các dịch vụ sau bán, bằng các phơng thức thanh toán hay cạnh tranh
bằng không gian và thời gian. Do các biện pháp này ảnh hởng không nhiều đến
khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp nên không đề cập đến trong đề tài.
1.4. Các nhân tố ảnh hởng tới khả năng cạnh tranh sản phẩm của doanh
nghiệp
Có rất nhiều yếu tố khách quan và chủ quan ảnh hởng đến khả năng cạnh
tranh của doanh nghiệp. Doanh nghiệp luôn luôn phải quan tâm để điều chỉnh hoạt
động của doanh nghiệp mình để không chỉ duy trì khả năng cạnh tranh mà còn để
ngày càng cải thiện và nâng cao khả năng cạnh tranh của mình.
1.4.1. Các nhân tố khách quan
- Môi trờng vĩ mô
+ Môi trờng tự nhiên
+ Môi trờng chính trị
+ Môi trờng kinh tế
+ Môi trờng luật pháp
+ Môi trờng văn hoá
+ Điều kiện cơ sở hạ tầng
- Môi trờng vi mô
+ Đối thủ cạnh tranh hiện tại
+ Khách hàng
+ Nhà cung ứng
10

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét