Thứ Hai, 17 tháng 2, 2014

Tình hình hoạt động kinh doanh dịch vụ giao nhận kho vận tại Vietrans

Trong thực tế, việc giao và nhận hàng cũng như việc thực hiện các công
việc khác không phải chỉ diễn ra trong phạm vi một quốc gia mà nó đồng thời
diễn ra ở nhiều nước khác nhau. Do vậy một Công ty giao nhận không thể có
đủ cơ sở vật chất, phương tiện vận chuyển cũng như các điều kiện khác để
đáp ứng được yêu cầu này mà họ thường phải đi thuê các nhà chuyên chở :
hãng tàu, hãng hàng không, đường sắt. . . để hoàn thành công việc của mình.
Dây chuyền vận tải này có ảnh hưởng không nhỏ tới chất lượng dịch vụ. Do
vậy, khi tổ chức một dây chuyền vận tải, người giao nhận cần phải nắm rõ:
+ Các thị trường
+ Những trở ngại
+ Những yêu cầu về chứng từ
+ Các chi phí
+ Các phương tiện vận tải khác nhau, lợi ích và bất lợi của mỗi loại,
giá cả.
+ Theo kịp những thay đổi của các hãng tàu và các công hội hàng
hải
+ Tiến hành nghiên cứu vận tải đối với việc vận chuyển hàng công
trình.
Người giao nhận quốc tế có khả năng và sẵn sàng giải quyết mọi vấn đề
về hậu cần và vận tải trên quy mô toàn thế giới.
b. Đặc điểm:
+ Do đặc điểm của loại dịch vụ này là phụ thuộc rất nhiều vào yếu tố
bên ngoài như các đơn vị nguồn hàng, các đơn vị vận chuyển, các đơn vị nhận
hàng. . . nên trong quá trình thực hiện không thể hoàn toàn chủ động được.
+ Dịch vụ giao nhận mang tính thời vụ do chịu ảnh hưởng của tính thời
vụ trong hoạt động xuất nhập khẩu.
5
+ Dịch vụ giao nhận còn mang đặc điểm của dịch vụ vận tải, bởi dịch
vụ giao nhận bao hàm cả dịch vụ vận tải.
3. Dịch vụ kho vận
a. Khái niệm:
Dịch vụ kho vận là hình thức dịch vụ phục vụ khách hàng ở kho bao
gồm các dịch vụ chính như cho thuê kho để chứa, bảo quản và vận chuyển
hàng hoá ; ngoài ra còn có các dịch vụ khác như: xếp dỡ, đóng gói, giám
định chất lượng hàng hoá
Vì cũng là một loại hình dịch vụ nên dịch vụ kho vận cũng có những
điểm giống với các ngành dịch vụ khác. Tuy nhiên, dịch vụ kho cũng có
những đặc điểm riêng:
+ Phụ thuộc rất lớn vào nhu cầu khách hàng nên hoạt động dịch
vụ có thể diễn ra thất thường, không liên tục.
+ Khối lượng hàng gửi qua kho phụ thuộc vào tuyến đường và
phương tiện chuyên chở. Nếu phương tiện chuyên chở tiện lợi và liên tục thì
nhu cầu gửi hàng sẽ tăng.
II. VAI TRÒ CỦA DỊCH VỤ GIAO NHẬN KHO VẬN NGOẠI
THƯƠNG TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG
Giao nhận hàng hóa xuất nhập khẩu là ngành nghề dịch vụ thương mại
gắn liền và liên quan mật thiết tới hoạt động ngoại thương và vận tải đối
ngoại. Đây là một loại hình dịch vụ thương mại không cần đầu tư nhiều vốn
nhưng mang lại một nguồn lợi tương đối chắc chắn và ổn định nếu biết khéo
léo tổ chức và điều hành trên cơ sở tận dụng hệ thống cơ sở hạ tầng hiện có.
Trong xu thế quốc tế hoá đời sống như hiện nay thì hoạt động giao nhận càng
có vai trò quan trọng. Điều này thể hiện ở:
- Đặc điểm nổi bật của thương mại quốc tế là người mua và người bán
ở những nước khác nhau. Sau khi hợp đồng mua bán được ký kết, người bán
6
thực hiện việc giao hàng tức là hàng được vận chuyển từ người bán sang
người mua. Để cho quá trình vận chuyển đó được bắt đầu, tiếp tục và kết thúc
tức là hàng hoá tới tay người mua, cần phải thực hiện một loạt các công việc
khác nhau liên quan tới chuyên chở như: đưa hàng ra cảng, làm thủ tục gửi
hàng, xếp hàng lên tàu, chuyển tải hàng ở dọc đường, dỡ hàng ra khỏi tàu và
giao cho người nhận. . . tất cả những công việc đó là nghiệp vụ của người
giao nhận. Như vậy, trước tiên nghiệp vụ giao nhận là điều kiện không thể
thiếu cho sự tồn tại và phát triển của thương mại quốc tế.
- Hoạt động giao nhận tạo điều kiện cho hàng hoá lưu thông nhanh
chóng, an toàn, tiết kiệm mà không cần có sự tham gia hiện diện của người
gửi cũng như người nhận hàng.
- Giúp người chuyên chở đẩy nhanh tốc độ vòng quay của các phương
tiện vận tải; tận dụng một cách tối đa và có hiệu quả dung tích, trọng tải của
các phương tiện vận tải, các công cụ vận tải cũng như các phương tiện hỗ trợ
khác.
- Tạo điều kiện cho các nhà xuất nhập khẩu có thể tập trung vào hoạt
động kinh doanh của họ.
- Góp phần giảm giá thành hàng hoá xuất nhập khẩu.
- Bên cạnh đó, giao nhận cũng giúp các nhà xuất nhập khẩu giảm bớt
các chi phí không cần thiết khác như: chi phí xây dựng kho tàng, bến bãi nhờ
vào việc sử dụng kho tàng, bến bãi của người giao nhận, chi phí đào tạo nhân
công.
III. PHẠM VI CÁC DỊCH VỤ GIAO NHẬN
Các dịch vụ này bao gồm:
1. Thay mặt người gửi hàng (người xuất khẩu):
Theo chỉ dẫn của họ người giao nhận sẽ:
7
- Chọn tuyến đường, phương thức vận tải và người chuyên chở thích
hợp
- Lưu cước với người chuyên chở
- Nhận hàng từ người xuất khẩu và cấp những chứng từ thích hợp
- Nghiên cứu những điều khoản trong tín dụng thư và các điều kiện có
liên quan.
- Đóng gói hàng hoá (trừ phi việc này do người gửi hàng làm trước khi
giao hàng cho người nhận) có tính đến tuyến đường, phương thức vận tải, bản
chất của hàng hoá và những luật lệ áp dụng.
- Lo liệu việc lưu kho hàng hoá nếu cần.
- Cân đo hàng hoá.
- Lưu ý người gửi hàng mua bảo hiểm nếu được yêu cầu.
- Vận chuyển hàng hoá tới cảng, lo việc khai báo Hải quan và các thủ
tục chứng từ có liên quan, giao hàng cho người chuyên chở.
- Lo việc giao dịch ngoại hối nếu có.
- Thanh toán phí và những chí phí khác bao gồm cả tiền cước.
- Nhận vận đơn đã ký của người chuyên chở giao cho người gửi hàng.
- Thu xếp việc chuyển tải trên đường nếu cần.
- Giám sát việc vận chuyển hàng hoá trên đường đi
- Ghi nhận những tổn thất của hàng hoá nếu có.
- Giúp người gửi hàng khiếu nại nếu cần.
2. Thay mặt người nhận hàng.
Theo những chỉ dẫn giao hàng người giao nhận sẽ:
- Tổ chức và giám sát việc vận chuyển hàng hoá.
- Nhận và kiểm tra những chứng từ có liên quan.
- Nhận hàng của người chuyên chở nếu cần thì thanh toán cước.
- Khai báo Hải quan và trả lệ phí, thuế và những chi phí có liên quan.
8
- Thu xếp việc lưu kho quá cảnh nếu cần.
- Giao hàng đã làm thủ tục Hải quan cho người nhận hàng.
- Giúp người nhận hàng khiếu nại nếu cần.
- Giúp người nhận hàng trong việc lưu kho và phân phối hàng nếu cần.
3. Những dịch vụ khác.
Ngoài những dịch vụ nêu trên tuỳ thuộc vào yêu cầu của khách hàng,
người giao nhận cũng có thể cung cấp các dịch vụ khác như: cung cấp thông
tin về nhu cầu tiêu dùng mới, thông báo về tình hình cạnh tranh, thực hiện
dịch vụ tư vấn, cung cấp các dịch vụ đặc biệt khác( vận chuyển hàng công
trình, vận chuyển quần áo treo trên mắc, chuyên chở hàng triển lãm ở nước
ngoài).
Như vậy qua Phần 1 ta đã có một cái nhìn chung nhất về dịch vụ giao
nhận kho vận và vai trò của ngành này trong sự phát triển chung của nền kinh
tế. Nhưng để có một cái nhìn sâu sắc hơn cũng như có sự hiểu biết tường tận
chúng ta hãy tìm hiểu về hoạt động của Công ty VIETRANS ở phần 2 của bài
Báo Cáo này.
PHẦN II: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG GIAO NHẬN KHO VẬN TẠI
VIETRANS
I. VÀI NÉT VỀ CÔNG TY
1. Quá trình hình thành và phát triển của Công ty
Công ty giao nhận kho vận ngoại thương - VIETRANS là một doanh
nghiệp nhà nước thuộc Bộ Thương Mại, hoạt động theo chế độ hạch toán kinh
tế tự chủ tài chính. Là tổ chức giao nhận đầu tiên được thành lập ở Việt Nam
theo quyết định số 554/BNT ngày 13/8/1970 của Bộ Thương Mại. Khi đó
công ty lấy tên là cục kho vận kiêm Tổng Công Ty giao nhận ngoại thương.
9
Hiện nay tên chính thức của công ty là “ Công ty giao nhận kho vận ngoại
thương “, tên giao dịch là “ VietNam National Foreign Trade Forwarding and
Warehousing Corporation “, tên viết tắt là VIETRANS được thành lập theo
quyết định số 337/TCCB ngày 31/3/1993 của Bộ Thương Mại.
Trước năm 1986, do chính sách Nhà nước nắm độc quyền ngoại thương
nên VIETRANS là đơn vị duy nhất hoạt động trong lĩnh vực giao nhận kho
vận ngoại thương, nhưng hoạt động chủ yếu chỉ giới hạn ở các kho, cảng, cửa
khẩu. Sau đại hội đảng lần thứ VI, tình hình kinh tế nước ta có nhiều biến
chuyển mới. Việc buôn bán trao đổi hàng hoá giữa Việt nam với các nước
ngày càng phát triển, VIETRANS đã mở rộng phạm vi hoạt động và vươn lên
trở thành một công ty giao nhận quốc tế có quan hệ đại lý rộng khắp trên thế
giới. VIETRANS đã tham gia nhiều tổ chức, nhiều hiệp hội khác nhau và
chính thức trở thành hội viên của FIATA từ 1989. Thời kỳ từ 1989 tới nay,
nền kinh tế nước ta đã chuyển sang nền kinh tế thị trường. Trong bối cảnh đó,
VIETRANS mất thế độc quyền và phải bước vào cuộc cạnh tranh gay gắt với
các tổ chức kinh tế khác hoạt động trong lĩnh vực giao nhận kho vận. Để thích
ứng với môi trường hoạt động kinh doanh mới, VIETRANS đã tiến hành đổi
mới toàn diện từ định hướng chiến lược, phương thức hoạt động đến quy mô,
hình thức và cách tổ chức hoạt động, điều hành. Công ty không chỉ chú ý đặc
biệt tới tăng cường cơ sở vật chất mà còn chú ý đào tạo ngoại ngữ cho đội ngũ
cán bộ nhằm không ngừng nâng cao chất lượng dịch vụ cũng như uy tín của
công ty.
Cho tới nay, VIETRANS đã trở thành một công ty giao nhận quốc tế, là
một trong những sáng lập viên của VIFFAS , là một đại lý hàng không của
IATA và còn là thành viên của Phòng Thương Mại và Công nghiệp Việt
Nam. Hiện nay, VIETRANS có 6 chi nhánh ở các tỉnh thành phố: Hải Phòng,
Nghệ An, Đà Nẵng, Nha Trang, Quy Nhơn, thành phố Hồ Chí Minh, hai liên
10
doanh (TNT-VIETRANS; LOTUS) và văn phòng đại diện ở trong và ngoài
nước.
2. Chức năng và nhiệm vụ của công ty
2.1 Chức năng:
-Tiến hành và nhận uỷ thác dịch vụ kho vận, giao nhận, vận chuyển
hàng hoá, thuê và cho thuê kho bãi, lưu cước các phương tiện vận tải (tàu
biển, máy bay, sà lan ) và các dịch vụ khác có liên quan như gom hàng, làm
thủ tục Hải quan, mua bảo hiểm hàng hoá
- Tư vấn về các vấn đề giao nhận, vận tải và các vấn đề khác có liên
quan.
- Nhận uỷ thác xuất nhập khẩu hoặc kinh doanh xuất nhập khẩu trực
tiếp.
- Thực hiện kinh doanh vận tải công cộng phù hợp với quy định của
nhà nước.
- Làm đại lý cho các hãng tàu nước ngoài và làm các công tác phục vụ
cho tàu biển của nước ngoài vào cảng của Việt Nam.
- Liên doanh, liên kết với các tổ chức kinh tế trong và ngoài nước trong
các lĩnh vực vận chuyển, giao nhận hàng hoá xuất nhập khẩu, thuê tàu
2.2 Nhiệm vụ
- Xây dựng kế hoạch, tổ chức thực hiện, chỉ đạo hoạt động kinh doanh
của
Công ty và các đơn vị trực thuộc theo quy chế hiện hành.
- Bảo đảm việc bảo toàn và bổ sung vốn trên cơ sở tự tạo nguồn vốn, sử
dụng có hiệu quả các nguồn vốn, làm chọn nghĩa vụ nộp ngân sách Nhà nước.
- Thường xuyên cải tiến, nâng cấp các phương tiện kỹ thuật để đảm bảo
việc giao nhận, chuyên chở hàng hoá an toàn.
11
- Nghiên cứu tình hình thị trường dịch vụ giao nhận, kho vận, đề ra các
biện pháp nhằm thu hút khách hàng, củng cố và nâng cao uy tín của Công ty
trên thị trường trong nước và quốc tế.
- Đào tạo và bồi dưỡng nhằm nâng cao trình độ quản lý, nghiệp vụ
chuyên môn, ngoại ngữ cho cán bộ công nhân viên của Công ty để đáp ứng
được yêu cầu, nhiệm vụ kinh doanh ngày càng cao.
3. Mô hình tổ chức bộ máy quản lý của công ty VIETRANS
Đứng đầu Công ty là Tổng Giám đốc do Bộ trưởng Bộ Thương Mại bổ
nhiệm hoặc miễn nhiệm. Giúp việc có hai Phó giám đốc, trong đó có một Phó
tổng giám đốc thứ nhất. Các Phó giám đốc do tổng giám đốc đề nghị và được
thủ trưởng cơ quan chủ quản là Bộ thương Mại bổ nhiệm hoặc miễm nhiệm.
Trong trường hợp Tổng giám đốc vắng mặt thì Phó tổng giám đốc thứ nhất là
người thay mặt Tổng Giám Đốc điều hành mọi hoạt động của Công ty.
Hiện nay Công ty có các khối phòng ban sau:
+ Khối kinh doanh dịch vụ: Bao gồm các phòng ban có chức năng kinh
doanh nhằm tự trang trải và nuôi sống cán bộ văn phòng Công ty.
+ Khối quản lý: Các Phòng Ban trong khối có nhiệm vụ giúp Tổng
Giám Đốc trong công tác quản lý mọi hoạt động của Công ty: quản trị, quản
lý và theo dõi tình trạng máy móc, trang thiết bị, vật tư lập kế hoạch xây
dựng cơ bản cải tạo, mở rộng, sửa chữa, xây dựng mới Xí nghiệp, Văn phòng
công ty ., tham gia quản lý các công trình xây dựng, giải quyết các thủ tục
về xây dựng.
12
13
GIÁM ĐỐC
PHÓ GIÁM ĐỐC
KHỐI KINH
DOANH
DỊCH VỤ
Phòng h ng không à
Phòng công trình
Phòng vận tải quốc tế
Phòng xuất nhập khẩu
Phòng gửi h ng à
Phòng chuyển tải
Phòng giao nhận vận tải
Phòng Marketing
Xí nghiệp dịch vụ xây
dựng
Kho Yên Viên
Kho Pháp Vân
Đội xe
KHỐI PHÒNG
QUẢN LÝ
Phòng kế toán t i à
vụ
Phòng pháp chế
Phòng tổ chức cán
bộ
Phòng tổng hợp
Phòng h nh chính à
quản trị
CÁC CHI NHÁNH
TRỰC THUỘC
Vietrans Hải Phòng
Vietrans Nghệ An
Vietrans Đ Nà ẵng
Vietrans Nha Trang
Vietrans Quy Nhơn
Vietrans S i gònà
CÁC CÔNG TY LIÊN
DOANH
Lotus Joint Venture Co.Ltd
Vietrans- (Liên doanh giữa
Mỹ- Ucraina)
TNT- VIETRANS
Express worldwide VietNam
Ltd ( Việt Nam H Lan )– à
CÁC VĂN PHÒNG ĐẠI
DIỆN Ở NƯỚC NGOÀI

1 . ODESSA
MOSCOW
VLADIVOSTOCK
BANGKOK
SINGAPORE

GIÁM ĐỐC
II. THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH DỊCH VỤ
GIAO NHẬN KHO VẬN TẠI CÔNG TY
1. Tình hình hoạt động kinh doanh chung của Công ty trong
những năm qua
Là một trong những công ty hàng đầu trong lĩnh vực giao nhận ở Việt
Nam, sau những bước thăng trầm tưởng chừng không thể vượt nổi thì trong
những năm gần đây, do ổn định cơ cấu, Vietrans bước đầu đã có những bước
tiến vững chắc trong hoạt động kinh doanh.
Kết quả hoạt động kinh doanh của công ty Vietrans.
Đơn vị: triệu VND
Chỉ tiêu 1996
199
7
199
8
199
9
200
0
2001
Doanhthu(DT
)
27.87
6
28.8
76
27.7
62
25.3
08
27.5
42
28.05
1
Lợi
nhuận(LN)
2.389
2.16
3
1.
802
1.
684
1.
902
2.005
Nộp ngân
sách
5.805
4.95
5
5.67
2
7.45
2
6.32
2
6.872
LN/DT
0,07
5
0,06
5
0,06
6
0,06
9
0,071
(Nguồn: Báo cáo tổng kết cuối
năm)
Doanh thu của công ty trong những năm gần đây
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét