Thứ Hai, 17 tháng 2, 2014

Đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu mặt hàng chè của Công ty Xuất nhập khẩu Nông sản và Thực phẩm chế biến Đà Nẵng


xuyên trong tư duy của mỗi nhà kinh doanh xuất khẩu, để có thể nắm bắt được các
cơ hội kinh doanh trong Thương mại Quốc tế.
Như vậy, hoạt động xuất khẩu phát triển chắc chắn sẽ góp phần to lớn trong
sự đi lên của đất nước, hội nhập cùng vào nền kinh tế thế giới.
Để có thể hiểu rõ hơn về hoạt động xuất khẩu, ta có thể tham khảo một số tư
tưởng của các trường phái sau:
2. Các lý thuyết về hoạt động xuất khẩu.
2.1. Lý thuyết của trường phái trọng thương.
Lý thuyết trọng thương là nền tảng cho các tư duy kinh tế vào khoảng những
năm 1450 đến năm 1650. Lý thuyết này cho rằng sự phồn vinh của một quốc gia
được đo bằng bằng lượng tài sản mà quốc gia đó cất giữ và thường được tính bằng
vàng. Theo lý thuyết này chính phủ nên xuất khẩu nhiều hơn nhập khẩu và nếu
thành công họ sẽ nhận được giá trị thặng dư mậu dịch tính theo vàng từ các nước
khác.
Để một nước có thể thặng dư mậu dịch thì:
+ Thặng dư (mậu dịch) thương mại phải được thực hiện bởi các công ty buôn
bán độc quyền của Nhà nước, hoạt động nhập khẩu bị hạn chế và hoạt động xuất
khẩu được trợ cấp.
+ Các cường quốc thực dân luôn cố tìm cách đạt được thặng dư mậu dịch với
các thuộc địa của họ. Họ coi đây như là một phương tiện khác để có thu nhập.
Đồng thời để thực hiện điều này không chỉ bằng cách giữ độc quyền thương mại
thực dân mà còn ngăn cản các nước thuộc địa sản xuất. Do đó mà các nước thuộc
địa phải xuất khẩu nguyên liệu thô, với gía trị kém hơn nhưng lại nhập khẩu những
sản phẩm có giá trị cao.
Lý thuyết trọng thương mang lại lợi ích cho các cường quốc thực dân, vì thế
chính sách ngoại thương của trường phái này theo hướng:
5

- Giá trị xuất khẩu càng nhiều càng tốt, nghĩa là không những số lượng hàng
hoá xuất khẩu phải nhiều mà còn phải ưu tiên xuất khẩu những hàng hoá có giá trị
cao. Đồng thời đánh giá thấp việc xuất khẩu nguyên liệu và cố sử dụng nguyên liệu
để sản xuất trong nưóc rồi đem xuất khẩu sản phẩm.
- Giữ nhập khẩu ở mức độ tối thiểu, giành ưu tiên cho nhập khẩu nguyên liệu,
hạn chế hoặc cấm nhập khẩu thành phẩm nhất là hàng xa xỉ.
- Khuyến khích chở hàng hoá bằng tàu của nước mình vì như vậy vừa bán được
hàng và tận dụng được cả những món lợi nhuận khác như: cước vận tải, phí bảo
hiểm
Ảnh hưởng của lý thuyết trọng thương đã bị mờ nhạt đi sau năm 1650. Lúc
này các cường quốc thực dân thường hạn chế sự phát triển công nghiệp của các
nước thuộc địa của họ, nhưng các thủ đoạn hợp pháp vẫn buộc chặt quan hệ thương
mại của các nước thuộc địa với chính quốc. Tuy nhiên quan điểm “Nội thương là
hệ thống ống dẫn, ngoại thương là máy bơm. Muốn tăng của cải phải có ngoại
thương nhập dẫn của cải qua nội thương”, cho đến nay vẫn luôn được các quốc gia
khai thác và phát triển một cách tối ưu nhất.
2.2. Lý thuyết lợi thế tuyệt đối của Adam Smith.
Khác với trường phái trọng thương, AdamSmith cho rằng: “sự giàu có của
mỗi quốc gia phụ thuộc vào số hàng hoá và dịch vụ có sẵn hơn là phụ thuộc vào
vàng”.
Theo Adam Smith, nếu thương mại không bị hạn chế theo nguyên tắc phân
công thì các quốc gia đều có lợi ích từ thương mại quốc tế - nghĩa là mỗi quốc gia
có lợi thế về mặt điều kiện tự nhiên hay do trình độ sản xuất phát triển cao sẽ sản
xuất ra những sản phẩm mà mình có lợi thế với chi phí thấp hơn so với các nước
khác. Ông phê phán sự phi lý của lý thuyết trọng thương và chứng minh rằng: mậu
dịch sẽ giúp cả hai bên đều gia tăng tài sản. Theo ông, nếu mỗi quốc gia đều
chuyên môn hoá vào những ngành sản xuất mà họ có lợi thế tuyệt đối, thì họ có thể
sản xuất được những sản phẩm có chi phí thấp hơn so với nước khác để xuất khẩu,
6

đồng thời lại nhập khẩu những hàng hoá mà nước này không sản xuất được hoặc
sản xuất được nhưng có chi phí cao hơn giá nhập khẩu.
Nhờ sự chuyên môn hoá các nước có thể gia tăng hiệu quả của mình bởi vì
người lao động sẽ lành nghề hơn do công việc được lặp lại nhiều lần, họ không
mất thời gian trong việc chuyển sản xuất sản phẩm này sang sản phẩm khác, do làm
một công việc lâu dài nên người lao động sẽ có nhiều kinh nghiệm, các sáng kiến
và các phương pháp làm việc tốt hơn.
Mặc dù Adam Smith cho rằng, thị trường chính là nơi quyết định nhưng ông
vẫn nghĩ lợi thế của một nước có thể là do lợi thế tự nhiên hay do nổ lực cả nước
đó. Lợi thế tự nhiên liên quan đến các điều kiện tự nhiên và khí hậu. Lợi thế do nổ
lực là lợi thế có thể có được do sự phát triển của kỹ thuật và sự lành nghề.
Ngày nay người ta thường buôn bán, trao đổi các loại hàng hoá đã được sản
xuất công phu hơn là các nông phẩm hay tài nguyên thiên nhiên nguyên khai thác
hoặc sản phẩm thô.Quá trình sản xuất ra loại hàng hoá này phần lớn phụ thuộc vào
lợi thế do nỗ lực, thường là kỹ thuật chế biến và khả năng sản xuất các loại sản
phẩm khác biệt với những sản phẩm khác.
Lợi thế tuyệt đối so sánh số lượng của một loại sản phẩm được sản xuất ra ở
hai nước khác nhau với cùng một điều kiện sản xuất. Giả sử Việt nam có lợi thế
tuyệt đối so với Hàn Quốc về sản xuất gạo trong khi đó Hàn Quốc có lợi thế tuyệt
đối về sản xuất vải. Đó là lợi thế tuyệt đối tương hỗ, trong trường hợp nếu mỗi
nước chuyên môn hoá loại sản phẩm mà nước đó có lợi thế tuyệt đối thì tổng sản
phẩm của cả hai nước có thể tăng lên.
2.3. Lý thuyết lợi thế so sánh của David Ricardo.
Theo lý thuyết này, nếu một quốc gia có hiệu quả thấp hơn so với các quốc
gia khác trong việc sản xuất tất cả các loại sản phẩm thì quốc gia đó vẫn có thể
tham gia vào thương mại quốc tế để tạo ra lợi ích. Nói cách khác trong điểm bất lợi
vẫn có những điểm thuận lợi để khai thác khi tham gia vào hoạt động xuất khẩu,
những quốc gia có hiệu quả thấp trong việc sản xuất ra các loại hàng hoá sẽ có thể
7

chuyên môn hoá sản xuất hàng hoá ít bất lợi nhất để trao đổi với các quốc gia khác
và nhập về những hàng hoá mà việc sản xuất ra nó gặp rất nhiều khó khăn và bất
lợi. Từ đó tiết kiệm được nguồn lực của mình và thúc đẩy sản xuất trong nước. Ta
có thể giải thích rõ điều này thông qua ví dụ sau:
8

Giả sử 2 quốc gia Việt Nam và Mĩ có năng lực sản xuất vải và máy tính như
sau:
Quốc gia
Mặt hàng
Mĩ Việt Nam
Vải (m/1 giờ công)
Máy tính (cái/ 1 giờ công)
4
6
2
1
Qua bảng trên ta thấy Mĩ có lợi thế tuyệt đối so với Việt Nam trong sản xuất
cả hai mặt hàng vải và máy tính. Tuy nhiên nếu phân tích cụ thể thì ta sẽ thấy năng
suất lao động của ngành chế tạo máy tínhcủa Mĩ gấp 6 lần của Việt Nam trong khi
đó ngành dệt chỉ gấp 2 lần. Như vậy, giữa chế tạo máy tính và sản xuất vải thì Mĩ
có lợi thế tương đối trong việc sản xuất máy tính còn Việt Nam có lợi thế tương đối
trong việc sản xuất vải. Theo quy luật của lợi thế so sánh hai quốc gia sẽ cùng có
lợi nếu mỗi quốc gia chuyên môn hoá sản xuất loại sản phẩm mình có lợi thế so
sánh hơn sau đó tiến hành trao đổi một phần sản phẩm cho nhau.
Giả sử tỉ lệ trao đổi là 6 máy tính lấy 6 m vải thì Mĩ vẫn có lợi 2 m vải tức là
đã tiết kiệm được 1/2 giờ công còn Việt Nam tiết kiệm được 3 giờ công do có lợi 3
máy tính.
Như vậy qua ví dụ trên ta thấy được lợi ích của việc trao đổi sản phẩm giữa
các quốc gia thông qua việc xuất nhập khẩu hàng hoá. Sự chuyên môn hoá sản xuất
những sản phẩm mà mình có lợi thế để xuất khẩu, nhập khẩu những sản phẩm bất
lợi hơn sẽ giúp cho việc sử dụng tốt nhất, hiệu quả nhất nguồn lực của mỗi nước.
Bên cạnh đó còn làm tăng sản lượng và chất lượng sản phẩm, tạo điều kiện mở
rộng khả năng tiêu dùng của mỗi quốc gia. Vì vậy đây chính là tính tất yếu của việc
mở rộng hoạt động xuất nhập khẩu này.
9

3. Các hình thức của hoạt động xuất khẩu.
Cũng là việc bán hàng hoá và dịch vụ cho một quốc gia khác, nhưng hiện
nay hoạt động xuất khẩu được các doanh nghiệp vận dụng dưới nhiều hình thức
khác nhau, thể hiện ở một số hình thức chủ yếu sau:
3.1. Xuất khẩu trực tiếp
Xuất khẩu trực tiếp là việc xuất khẩu các hàng hoá và dịch vụ mà doanh
nghiệp sản xuất ra hoặc thu mua từ các đơn vị sản xuất trong nước, sau đó xuất
khẩu những sản phẩm đó ra nước ngoài thông qua các tổ chức của mình.
Các bước tiến hành một thương vụ xuất khẩu trực tiếp trong trường hợp
doanh nghiệp không tự sản xuất ra sản phẩm:
+ Kí hợp đồng nội, mua hàng và trả tiền hàng cho các đơn vị sản xuất trong
nước.
+ Kí hợp đồng ngoại, giao hàng và thanh toán tiền hàng với bên nước ngoài.
Hình thức này có ưu điểm là lợi nhuận thu được của các đơn vị kinh doanh
thường cao hơn các hình thức khác. Với vai trò là người bán hàng trực tiếp, doanh
nghiệp có thể nâng cao uy tín của mình thông qua quy cách và phẩm chất hàng hoá,
tiếp cận thị trường và nắm bắt được nhu cầu thị hiếu của khách hàng. Tuy vậy hình
thức này đòi hỏi doanh nghiệp phải ứng trước một lượng vốn khá lớn để sản xuất,
thu mua hoặc có thể gặp rất nhiều khó khăn, rủi ro như: không xuất được hàng,
không thu mua được hàng, bị thanh toán chậm hay do thay đổi tỷ giá, lạm phát
3.2. Xuất khẩu gia công uỷ thác
Theo hình thức này các doanh nghiệp kinh doanh hàng xuất khẩu đứng ra
nhập nguyên liệu hoặc bán thành phẩm cho các doanh nghiệp gia công, sau đó thu
hồi thành phẩm để xuất lại cho bên nước ngoài. Doanh nghiệp sẽ được hưởng phí
uỷ thác theo thoã thuận với các doanh nghiệp trực tiếp chế biến.
Các bước tiến hành của hình thức này :
+ Ký kết hợp đồng gia công uỷ thác với các đơn vị trong nước.
10

+ Ký kết hợp đồng gia công với nước ngoài và nhập nguyên liệu.
+ Giao nguyên liệu gia công (theo định mức đã thoã thuận gián tiếp giữa
đơn vị chế biến trong nước với bên nước ngoài).
+ Xuất lại thành phẩm cho bên nước ngoài.
+ Thanh toán phí gia công cho đơn vị chế biến (do bên nước ngoài trả) và
được hưởng phí uỷ thác gia công.
Hình thức này có ưu điểm là không cần bỏ vốn vào kinh doanh nhưng vẫn
thu được lợi nhuận, ít rủi ro, việc thanh toán được bảo đảm vì đầu ra chắc chắn.
Song nó cũng đòi hỏi rất nhiều thủ tục xuất và nhập khẩu, do đó để thực hiện tốt
hình thức này các doanh nghiệp cần phải có những cán bộ kinh doanh kinh nghiệm
về nghiệp vụ xuất nhập khẩu.
Hình thức xuất khẩu theo đơn đặt hàng của nước ngoài cũng tương tự như
hình thức này, chỉ khác là đơn vị sản xuất phải tự tìm lấy nguồn nguyên liệu để sản
xuất ra các sản phẩm theo đúng yêu cầu theo đơn đặt hàng.
3.3. Xuất khẩu uỷ thác.
Trong hình thức này các doanh nghiệp kinh doanh hàng xuất khẩu đứng ra
đóng vai trò là trung gian xuất khẩu, làm thay cho các đơn vị sản xuất (bên có
hàng) những thủ tục cần thiết để xuất khẩu hàng và hưởng phần trăm theo giá trị
hàng xuất khẩu đã được thoã thuận.
Các bước tiến hành của hình thức này:
- Ký hợp đồng nhận uỷ thác xuất khẩu cho các đơn vị sản xuất trong
nước.
- Ký hợp đồng với bên nước ngoài, giao hàng và thanh toán tiền hàng .
- Nhận uỷ thác xuất khẩu cho các đơn vị trong nước.
Hình thức này có ưu điểm là mức độ rủi ro thấp, ít trách nhiệm, người đứng
ra xuất khẩu không phải là người chịu trách nhiệm cuối cùng, đặc biệt không cần
vốn để mua hàng, nhận tiền nhanh ít thủ tục và tương đối tin cậy.
11

3.4. Buôn bán đối lưu.
Buôn bán đối lưu là phương thức giao dịch mà trong đó xuất khẩu kết hợp
chặt chẽ với nhập khẩu, người bán đồng thời là người mua, lượng hàng trao đổi có
giá trị tương đương với giá trị lô hàng đã xuất. Mục đích xuất khẩu không phải là
nhằm thu ngoại tệ mà nhằm thu về một lượng hàng có giá trị xấp xỉ giá trị của lô
hàng đã xuất.
Có rất nhiều loại hình buôn bán đối lưu như: hàng đổi hàng, trao đổi bù trừ,
chuyển giao nghĩa vụ , mua lại sản phẩm trong đó
+ Hình thức hàng đổi hàng là việc một bên dùng hàng hoá để đổi lấy một
lượng hàng tương đương và không thanh toán trong hình thức này.
+ Hình thức trao đổi bù trừ là hình thức trong đó hai bên sẽ tiến hành trao đổi
hàng hoá trong một thời gian dài và sẽ dùng một tài khoản chung để theo dõi
nghiệp vụ giao nhận hàng của cả hai bên. Đến cuối kỳ hai bên sẽ thanh toán tiền
chênh lệch theo tính toán. Hàng hoá có thể là một hoặc nhiều mặt hàng khác nhau
trong một thời gian nhất định.
+ Mua đối lưu là hình thức một bên sẽ ký kết hợp đồng mua hàng có thanh
toán và cam kết, sau đó một khoảng thời gian nhất định sẽ bán cho bên kia một
lượng hàng hoá khác và cũng được nhận tiền thanh toán. Giá trị của hai hợp đồng
này không nhất thiết phải bằng nhau, thời gian thông thường từ 1đến 5 năm với
danh mục hàng hoá được mở rộng rãi.
+ Chuyển giao nghĩa vụ là hình thức mua bán đối lưu trong đó một bên có
quyền chuyển nghĩa vụ thanh toán cho bên thứ ba.
+ Hình thức mua lại sản phẩm là hình thức một bên tiến hành nhập khẩu máy
móc thiết bị nhưng không thanh toán ngay mà sẽ trả dần bằng sản phẩm do chính
máy móc thiết bị đó sản xuất ra.
3.5. Xuất khẩu theo nghị định thư.
12

Hình thức thường xuất khẩu hàng hoá (hàng trả nợ) được ký theo nghị định
thư giữa hai chính phủ. Xuất khẩu theo hình thức này có ưu điểm là khả năng thanh
toán được bảo đảm (do Nhà nước trả cho đơn vị sản xuất).
3.6. Xuất khẩu tại chỗ.
Đây là hình thức mới nhưng nó đã thể hiện rõ khá nhiều ưu điểm và đang
được phổ biến rộng rãi. Đặc điểm của hình thức này là hàng hoá không bắt buộc
phải vượt qua khỏi biên giới quốc gia để đến tay khách hàng. Do vậy không nhất
thiết phải có hợp đồng phụ trợ như hợp đồng vận tải, bảo hiểm, thủ tục hải quan
như vậy sẽ giảm được chi phí vận chuyển cũng như các chi phí khác có liên quan,
hơn nữa độ rủi ro thấp vì kinh doanh trong môi trường hoàn toàn quen thuộc.
3.7. Gia công quốc tế.
Gia công quốc tế là hình thức trong đó bên nhận gia công nhập nguyên liệu
hoặc bán thành phẩm của bên đặt gia công để chế biến ra thành phẩm theo yêu cầu
của bên đặt gia công sau đó giao lại và nhận thù lao gọi là phí gia công.
Ưu điểm của hình thức này là giúp bên nhận gia công tạo công ăn việc làm
cho người lao động, nhận được các thiết bị công nghệ tiên tiến để phát triển sản
xuất. Đây là hình thức được áp dụng phổ biến ở các nước đang phát triển có nguồn
nhân lực dồi dào. Đối với nước đặt gia công cũng được hưởng lợi vì họ tận dụng
được nguồn nhân công rất lớn với giá rẻ, cũng như tận dụng được nguồn nguyên
vật liệu sẵn có của bên nước nhận gia công.
3.8. Tạm nhập tái xuất.
Nội dung của hình thức này là xuất khẩu những hàng hoá đã nhập trước đây
và chưa tiến hành các hoạt động chế biến. Mục đích của hình thức này là thu về
một lượng ngoại tệ lớn hơn số bán ra ban đầu.
Hàng hoá có thể đi từ nước xuất khẩu tới nước tái xuất khẩu rồi từ nước tái
xuất khẩu sang nước nhập khẩu. Nước tái xuất khẩu sẽ thu tiền của nước nhập khẩu
và trả tiền cho nước nhập khẩu.
13

4. Vai trò của hoạt động xuất khẩu trong nền kinh tế quốc dân.
Xuất khẩu hàng hoá là hoạt động buôn bán được diễn ra trên phạm vi toàn
thế giới. Nó không phải là hình thức buôn bán đơn lẻ mà là cả một hệ thống các
quan hệ mua bán trong một nền thương mại có tổ chức ở bên trong và bên ngoài,
nhằm tiêu thụ sản phẩm hàng hoá sản xuất của các doanh nghiệp nói riêng và của
cả nước nói chung, ra nước ngoài theo ngoại tệ. Qua đó có thể thúc đẩy sản xuất
hàng hoá phát triển, chuyển đổi cơ cấu kinh tế, ổn định và từng bước nâng cao mức
sống của nhân dân. Như vậy, kinh doanh xuất nhập khẩu là hoạt động kinh doanh
mang lại hiệu quả kinh tế cao, có tác động to lớn trong việc liên kết sản xuất với
tiêu dùng ở các quốc gia khác nhau nhằm phát triển nền sản xuất của xã hội.
Đối với nước ta, một nước có nền kinh tế kém phát triển cơ sở vật chất còn
nghèo nàn, lạc hậu và không đồng bộ, các doanh nghiệp trong nước còn kém về
mọi mặt Nên việc đẩy mạnh xuất khẩu có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong việc
thúc đẩy đưa nền kinh tế của đất nước phát triển, thể hiện:
* Xuất khẩu tạo điều kiện cho các doanh nghiệp trong nước mở rộng thị
trường tiêu thụ sản phẩm do doanh nghiệp sản xuất ra, nhờ đó doanh nghiệp có thể
tiếp xúc không chỉ với những khách hàng trong nước mà còn cả khách hàng ở một
số thị trường nước ngoài. Với doanh nghiệp làm tốt công tác thâm nhập thị trường,
vận dụng Marketing quốc tế vào xuất khẩu thì tạo nên cơ hội rất tốt để mở rộng
hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp mình.
Bên cạnh đó việc mở rộng thị trường, sẽ tạo điều kiện mở rộng khả năng
cung cấp đầu vào, góp phần cho sản xuất và phát triển kinh tế ổn định.
* Xuất khẩu tạo nguồn vốn chủ yếu cho nhập khẩu phục vụ công nghiệp hoá
- Hiện đại hoá đất nước. Xuất khẩu tạo nguồn vốn ngoại tệ cho doanh nghiệp, tăng
dự trữ ngoại tệ, qua đó tăng khả năng nhập khẩu máy móc thiết bị, nguyên vật liệu,
phụ liệu phục vụ cho quá trình kinh doanh xuất khẩu. Xuất khẩu có vai trò tác
động đến sự thay đổi cơ cấu kinh tế nghành theo hướng sử dụng có hiệu quả nhất
lợi thế so sánh tuyệt đối của đất nước tạo cho hàng hoá có tính cạnh tranh cao trên
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét