Thứ Hai, 17 tháng 2, 2014

Một số biện pháp nhằm phát triển thị trường tiêu thụ sản phẩm của Công ty Cao Su Sao Vàng

đồng nghĩa với việc đi ngược lại các hệ thống quy luật kinh tế vốn có trong thị
trường và hậu quả sẽ làm nền kinh tế khó phát triển.
2. Các yếu tố cấu thành của thị trường
2.1.Cung hàng hoá: Là toàn bộ khối lượng hàng hoá đang có hoặc sẽ được
đưa ra bán trên thi trường trong một khoảng thời gian nhất định và mức giá đã biết
trước.
Các nhân tố ảnh hưởng đến cung:
+ Các yếu tố về gía cả hàng hoá.
+ Các yếu tố về chi phí sản xuất.
+ Cầu hàng hoá.
+ Các yếu tố về chính trị xã hội.
+ Trình độ công nghệ.
+ Tài nguyên thiên nhiên.
Đồ thị biểu diễn đường cung có dạng.
P
(Giá)
0
Q(Số lượng cung)
Cung hàng hoá vĩ mô - vi mô
Cung hàng hoá vĩ mô gồm: Sản xuất trong nước; nguồn nhập khẩu; nguồn
đại lý cho nước ngoài; tồn kho đầu kỳ trong lưu thông.
5
Ở các doanh nghiệp (vi mô) nguồn hàng gồm: tồn kho đầu kỳ; nguồn tự huy
động; nguồn tiết kiệm và nguồn hàng từ ngoài.
2.2. Cầu hàng hoá: Là nhu cầu có khả năng thanh toán.
Các nhân tố ảnh hưởng.
+ Quy mô thị trường.
+ Giá cả hàng hoá.
+ Thu nhập.
+ Khẩu vị hay sở thích.
+ Cung hàng hoá.
+ Giá cả của những mặt hàng khác có liên quan.
Đồ thị có dạng:
P

Q(Số lượng cầu)
Cầu vĩ mô - vi mô:
Tổng cầu hàng hoá vĩ mô bao gồm nhu cầu cho sản xuất xây dựng trong
nước; nhu cầu cho an ninh quốc phòng; nhu cầu cho xuất khẩu; nhu cầu cho bổ
xung dự trữ và nhu cầu cho dự trữ cuối kỳ trong lưu thông.
Tổng cầu hàng hoá vi mô là toàn bộ nhu cầu về các hàng hoá dịch vụ của
doanh nghiệp trong kỳ có tính đến các lượng hàng tồn kho đầu kỳ, khả năng tự khai
thác và nguồn hàng tiết kiệm trong sản xuất kinh doanh.
6
Giá cả thị trường: Mức giá cả thực tế mà người ta dùng để mua và bán hàng
hoá trên thị trường, hình thành ngay trên thị trường. Các nhân tố ảnh hưởng đến giá
cả thị trường.
+ Nhóm nhân tố tác động thông qua cung hàng hoá.
+ Nhóm nhân tố tác động qua cầu hàng hoá.
+ Nhóm nhân tố tác động thông qua sự ảnh hưởng một cách đồng thời tới
cung, cầu hàng hoá.
Cạnh tranh.
Đó là sự ganh đua, sự kình địch giữa các nhà kinh doanh trên thị trường
nhằm tranh giành cùng một loại tài nguyên sản xuất hoặc cùng một loại khách hàng
về phía mình.
Cạnh tranh được xem xét dưới nhiều khía cạnh: Cạnh tranh tự do, cạnh tranh
thuần tuý, cạnh tranh hoàn hảo, cạnh tranh mang tính độc quyền, cạnh tranh lành
mạnh và cạnh tranh không lành mạnh.
Các quy luật của thị trường.
Trên thị trường có nhiều quy luật kinh tế hoạt động đan xen nhau, có quan hệ
mật thiết với nhau. Sau đây là một số quy luật quan trọng.
Quy luật giá trị.
Đây là quy luật kinh tế của kinh tế hàng hoá. Khi nào còn sản xuất và lưu
thông hàng hoá thì quy luật giá trị còn phát huy tác dụng. Quy luật giá trị yêu cầu
sản xuất và lưu thông hàng hoá phải dựa trên cơ sở giá trị lao động xã hội cần thiết
trung bình để sản xuất và lưu thông hàng hoá và trao đổi ngang giá. Việc tính toán
chi phí sản xuất và lưu thông bằng giá trị là cần thiết bởi đòi hỏi của thị trường của
xã hội là với nguồn lực có hạn phải sản xuất được nhiều của cải vật chất cho xã hội
nhất, hay là chi phí cho một đơn vị sản phẩm là ít nhất với điều kiện là chất lượng
sản phẩm cao. Người sản xuất kinh doanh nào có chi phí lao động xã hội cho một
đơn vị sản phẩm thấp hơn trung bình thì người đó có lợi, ngược lại người nào có
7
chi phí cao thì khi trao đổi sẽ không thu được giá trị đã bỏ ra, không có lợi nhuận
và phải thu hẹp sản xuất hoặc kinh doanh. Đây là yêu cầu khắt khe buộc người sản
xuất, người kinh doanh phải tiết kiệm chi phí, phải không ngừng cải tiến kỹ thuật
công nghệ, đổi mới sản phẩm, đổi mới kinh doanh – dịch vụ để thỏa mãn tốt nhất
nhu cầu của khách hàng để bán được nhiều hàng hoá và dịch vụ.
Quy luật cung cầu.
Cung cầu hàng hóa dịch vụ không tồn tại độc lập, riêng rẽ mà thường xuyên
tác động qua lại với nhau trên cùng một thời gian cụ thể. Trong thị trường, quan hệ
cung cầu là quan hệ cơ bản, thường xuyên lặp đi lặp lại, khi tăng khi giảm tạo
thành quy luật trên thị trường. Khi cung cầu gặp nhau, giá cả thị trường được xác
lập ( E0 ) . Đó là giá cả bình quân. Gọi là giá cả bình quân nghĩa là ở mức giá đó
cung và cầu gặp nhau.
P
E0
0 Q
Tuy nhiên mức giá Eo lại không đứng yên, nó luôn giao động trước sự tác
động của lực cung và lực cầu trên thị trường. Khi cung lớn hơn cầu giá sẽ hạ
xuống, ngược lại khi cầu lớn hơn cung giá lại tăng lên. Việc giá ở mức Eo cân bằng
chỉ là tạm thời, việc mức giá thay đổi là thường xuyên. Sự thay đổi trên là do hàng
loạt các nguyên nhân trực tiếp và gián tiếp tác động đến cung, đến cầu cũng như kỳ
vọng của người sản xuất, người kinh doanh và cả của khách hàng.
8
Quy luật giá trị thặng dư.
Yêu cầu hàng hoá bán ra phải bù đắp chi phí sản xuất và lưu thông đồng thời
phải có một khoản lơị nhuận để tái sản xuất sức lao động và tái sản suất mở rộng.
Quy luật cạnh tranh.
Trong nền kinh tế có nhiều thành phần kinh tế, có nhiều người mua, người
bán với lợi ích kinh tế khác nhau thì việc cạnh tranh giữa người mua nới người
mua, người bán với người bán và cạnh tranh giữa người mua với người bán tạo nên
sự vận động của thị trường và trật tự thị trường. Cạnh tranh trong kinh tế là một
cuộc thi đấu không phải với một đối thủ mà đồng thời với hai đối thủ. Đối thủ thứ
nhất là giữa hai phe của hệ thống thị trường và đối thủ thứ hai là giữa các thành
viên của cùng một phía với nhau. Tức là cạnh tranh giữa người mua và người bán
và cạnh tranh giữa người bán với nhau. Không thể lẩn tránh cạnh tranh mà phải
chấp nhận cạnh tranh, đón trước cạnh tranh và sẵn sàng sử dụng vũ khí cạnh tranh
hữu hiệu.
Trong các quy luật trên, quy luật giá trị là quy luật cơ bản của sản xuất hàng
hoá. Quy luật giá trị được biểu hiện thông qua giá cả thị trường. Quy luật giá trị
muốn biểu hiện yêu cầu của mình bằng giá cả thị trường phải thông qua sự vận
động của quy luật cung cầu. Ngược lại quy luật này biểu hiện yêu cầu của mình
thông qua sự vận động của quy luật giá trị là giá cả.
Quy luật cạnh tranh biểu hiện sự cạnh tranh giữa người bán và người bán,
giữa người mua với nhau và giữa người mua và người bán. Cạnh tranh vì lợi ích
kinh tế nhằm thực hiện hàng hoá, thực hiện giá trị hàng hoá. Do đó quy luật giá trị
cũng là cơ sở của quy luật cạnh tranh.
Các tiêu thức cơ bản phân loại thị trường.
Một trong những bí quyết quan trọng nhất để thành công là sự hiểu biết căn
kẽ tính chất của từng thị trường. Phân loại thị trường là cần thiết là khách quan để
9
nhận thức những đặc điểm chủ yếu của từng thị trường. Mỗi cách phân loại có một
ý nghĩa quan trọng riêng đối với quá trình kinh doanh.
Căn cứ vào nguồn gốc sản xuất ra hàng hoá người ta phân chia thành: thị
trường hàng công nghiệp và thị trường hàng nông nghiệp(Bao gồm cả hàng lâm
nghiệp và hàng ngư nghiệp).
Thị trường hàng công nghiệp bao gồm hàng của công nghiệp khai thác và
hàng của công nghiệp chế biến. Công nghiệp khai thác có sản phẩm là nguyên vật
liệu. Nguyên liệu được chế biến qua một số công đoạn thì trở thành vật liệu. Công
nghiệp chế biến có sản phẩm là hàng tinh chế. Các hàng hoá này có đặc tính cơ, lý,
hóa học và trạng thái khác nhau và có hàm lượng kỹ thuật khác nhau.
Thị trường hàng nông nghiệp bao gồm các hàng hoá có nguồn gốc từ thực
vật.
Căn cứ vào nơi sản xuất, người ta phân ra thành thị trường hàng sản xuất
trong nước và thị trường hàng xuất nhập khẩu.
Căn cứ vào khối lượng hàng hoá tiêu thụ trên thị trường người ta phân chia
thành thị trường chính, thị trường phụ, thị trường nhánh, thị trường mới.
Đối với mỗi doanh nghiệp, lượng hàng tiêu thụ trên thị trường chính là thị
trường chiếm đại đa số hàng hóa của doanh nghiệp.
Thị trường nhánh là thị trường chỉ tiêu thụ một lượng hàng chiếm tỷ trọng
nhỏ
Thị trường mới là thị trường mà doanh nghiệp đang xúc tiến, thăm dò và đưa
hàng vào, còn trong giai đoạn thử nghiệm chưa có khách hàng quen thuộc.
Căn cứ vào mặt hàng người ta chia thị trường thành thị trường mặt hàng khác
nhau.
Thị trường máy móc: Còn gọi là thị trường đầu tư.
Thị trường hàng nguyên vật liệu: Còn gọi là thị trường hàng trung gian. Như
vậy có rất nhiều tên gọi sản phẩm, mỗi tên gọi đó hiệp thành thị trường của một
10
loại hàng hoá cụ thể. Do tính chất và giá trị sử dụng của từng mặt hàng, nhóm hàng
khác nhau, các thị trường chịu tác động của các nhân tố ảnh hưởng với mức độ
khác nhau. Sự khác nhau này đôi khi ảnh hưởng tới cả phương thức mua bán, vận
chuyển, thanh toán.
Căn cứ vào vai trò của người mua và người bán trên thị trường có thị trường
người mua và thị trường người bán.
Trên thị trường người bán vai trò quyết định thuộc về người bán.Trên thị
trường người mua vai trò quyết định thuộc về người mua.
Thị trường người bán xuất hiện ở những nền kinh tế mà sản xuất hàng hoá
kém phát triển hoặc ở nền kinh tế kế hoạch tập trung. Trên thị trường này người
mua đóng vai trò thụ động.
Ngược lại, thị trường người mua xuất hiện ở những nền kinh tế phát triển
như ở trong nền kinh tế thị trường, người mua đóng vai trò trung tâm chủ động vì
họ được ví như “ thượng đế” của người bán. Người bán phải chiều chuộng, lôi kéo
người mua, khơi dậy và thoả mãn nhu cầu của người mua là quan tâm hàng đầu, là
sống còn của người sản xuất kinh doanh.
Căn cứ vào sự phát triển của thị trường người ta chia thành: Thị trường hiện
thực và thị trường tiềm năng.
Thị trường hiện thực ( truyền thống ) là thị trường đang tiêu thụ hàng hoá
của mình, khách hàng đã quen thuộc và đã có sự hiểu biết lẫn nhau.
Thị trường tiềm năng là thị trường có nhu cầu nhưng chưa được khai thác,
hoặc chưa có khả năng thanh toán.
Căn cứ vào phạm vi của thị trường người ta chia thành: Thị trường thế giới,
thị trường khu vực, thị trường toàn quốc, thị trường miền, thị trường địa phương,
thị trường tại chỗ(xã, huyện).
Thị trường thế giới là thị trường ở các nước Châu Âu, Châu Phi, Trung
Đông, Châu á.
11
Thị trường khu vực đối với nước ta như các nước NIC mới, Hồng Công, Đài
Loan, Nam Triều Tiên, Singapo, các nước Đông Nam á như Inđonesia, Thai Lan.
Căn cứ vào chế độ chính trị người ta chia thành thị trường XHCN và thị
trường TBCN.
Chức năng thị trường.
Thị trường có vai trò hết sức quan trọng trong nền kinh tế các quốc gia. Qua
thị trường có thể nhận biết được sự phân phối các nguồn lực sản xuất thông qua hệ
thống giá cả. Trên thị trường, giá cả hàng hoá và các nguồn lực về tư liệu sản xuất,
sức lao động… luôn luôn biến động nhằm đảm bảo các nguồn lực có hạn này được
sử dụng để sản xuất đúng những hàng hoá, dịch vụ mà xã hội có nhu cầu. Thị
trường là khách quan, từng doanh nghiệp không có khả năng làm thay đổi thị
trường. Nó phải dựa trên cơ sở nhận biết nhu cầu xã hội và thế mạnh kinh doanh
của mình mà có phương án kinh doanh phù hợp với đòi hỏi thị trường.
Sở dĩ thị trường có vai trò to lớn như nói trên là do các chức năng sau.
Chức năng thừa nhận.
Thị trường là nơi gặp gỡ giữa nhà sản xuất và người tiêu dùng trong quá
trình trao đổi hàng hoá, nhà doanh nghiệp đưa hàng hoá của mình vào thị trường
với mong muốn chủ quan là bán được nhiều hàng hoá với giá cả sao cho bù đắp
được mọi chi phí bỏ ra và có nhiều lợi nhuận, người tiêu dùng tìm đến thị trường để
mua những hàng hoá đúng công dụng, hợp thị hiếu và có khả năng thanh toán theo
mong muốn của mình. Trong quá trình diễn ra sự trao đổi, mặc cả trên thị trường
giữa đôi bên về một hàng hoá nào đó sẽ có hai khả năng xảy ra: Thừa nhận hoặc
không thừa nhận, tức có thể loại hàng hoá đó không phù hợp với công dụng và thị
hiếu của người tiêu dùng, trong trường hợp này quá trình tái sản xuất sẽ bị ách tắc
không thực hiện được. Ngược lại, trong trường hợp thực hiện chức năng chấp nhận,
tức là đôi bên đã thuận mua vừa bán thì quá trình sản xuất được giải quyết.
Chức năng thực hiện.
12
Chức năng thực hiện thể hiện ở chỗ thị trường là nơi diễn ra các hành vi mua
bán. Người ta thường cho rằng thực hiện về giá trị là quan trọng nhất. Nhưng sự
thực hiện về giá trị chỉ xảy ra khi giá trị sử dụng được thực hiện. Ví dụ: hàng hoá
dù sản xuất với chi phí thấp mà không hợp mục tiêu tiêu dùng thì vẫn không bán
được. Thông qua chức năng thực hiện của thị trường, các hàng hóa hình thành nên
giá trị trao đổi của mình, làm cơ sở cho việc phân phối các nguồn lực.
Chức năng điều tiết.
Thông qua sự hình thành giá cả dưới tác động của quy luật giá trị và quy luật
cạnh tranh trong quan hệ cung cầu hàng hoá mà chức năng điều tiết của thị trường
được thể hiện một cách đầy đủ.
Ta biết rằng số cung được tạo ra từ nhà sản xuất và số cầu được hình thành
từ người tiêu dùng, giữa hai bên hoàn toàn không có quan hệ với nhau mà quan hệ
ấy chỉ thể hiện khi diễn ra quá trình trao đổi, quan hệ giữa cung và cầu cũng bộc
lộ.Việc giải quyết quan hệ giữa số cung và số cầu nhằm bảo đảm quá trình tái sản
xuất trôi chảy, được thể hiện thông qua sự đánh giá trên thị trường giữa đôi bên.
Trong quá trình định giá chức năng điều tiết của thị trường được thể hiện thông qua
sự phân bổ lực lượng sản xuất từ ngành này sang ngành khác, từ khu vực này sang
khu vực khác đối với người sản xuất, đồng thời hướng dẫn tiêu dùng và hướng dẫn
cơ cấu tiêu dùng đối với người tiêu dùng.
Chức năng thông tin.
Chức năng thông tin thể hiện ở chỗ nó chỉ ra cho người sản xuất biết nên sản
xuất hàng hoá nào, khối lượng bao nhiêu, nên tung ra thị trường ở thời điểm nào,
nó chỉ ra cho người tiêu dùng biết nên mua một hàng hoá hay mua một mặt hàng
thay thế nào đó hợp với khả năng thu nhập của họ.
Chức năng này hình thành là do trên thị trường có chứa đựng các thông tin
về tổng số cung với tổng số cầu, cơ cấu của cung cầu, quan hệ cung cầu của từng
loại hàng hoá, chi phí sản xuất, giá cả thị trường, chất lượng sản phẩm, các điều
13
kiện tìm kiếm và tập hợp các yếu tố sản xuất và phân phối sản phẩm. Đấy là những
thông tin cần thiết để người sản xuất và tiêu dùng ra các quyết định phù hợp với lơị
ích của mình.
Trong công tác quản lý nền kinh tế thị trường, vai trò tiếp cận thông tin từ thị
trường đã quan trọng, song việc chọn lọc thông tin và sử lý thông tin lại là công
việc quan trọng hơn nhiều. Đưa ra những quyết định chính xác nhằm thúc đẩy sự
vận hành của mọi hoạt động kinh tế trong cơ chế thị trường tùy thuộc vào độ chính
xác của việc sàng lọc và sử lý thông tin.
Tóm lại các chức năng nói trên của thị trường có mối quan hệ gắn bó mật
thiết nhau. Sự cách biệt các chức năng ấy chỉ là ước lệ, mang tính chất nghiên cứu.
Trong thực tế, một hiện tượng kinh tế diễn ra trên thị trường thể hiện đầy đủ
và đan xen lẫn nhau giữa các chức năng trên.
Kinh doanh theo cơ chế thị trường của doanh nghiệp thương mại.
Kinh doanh là việc thực hiện một số hoặc tất cả các công đoạn từ sản xuất
đến tiêu thụ sản phẩm hoặc thực hiện dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh
lời.
Để đạt được mục đích cuối cùng là lợi nhuận, mỗi một doanh nghiệp đều có
những hướng đi cho riêng mình. Trong hoạt động kinh doanh của mình các doanh
nghiệp tự đặt ra cho mình những mục tiêu gần, có khả năng thực hiện lớn nhất sẽ
được ưu tiên ở vị trí hàng đầu.
Đối với doanh nghiệp thương mại, hoạt động trong lĩnh vực phân phối và lưu
thông hàng hoá thường có năm mục tiêu cơ bản như: Khách hàng, chất lượng, đổi
mới, lợi nhuận và cạnh tranh. Để thực hiện thắng lợi mục tiêu kinh doanh, các
doanh nghiệp thương mại hoạt động trên thương trường phải tuân thủ những
nguyên tắc sau:
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét