Thứ Ba, 11 tháng 2, 2014

Giải pháp hoàn thiện qui trình nhập khẩu thiết bị toàn bộ ở Công ty XNK thiết bị toàn bộ và kỹ thuật

Khoa Thơng mại
Thiết bị toàn bộ là tập hợp máy móc thiết bị, vật t dùng riêng cho một dự án
có trang bị công nghệ cụ thể có các thông số kinh tế-kỹ thuật đợc mô tả và qui
định trong thiết kế của dự án.
Nh vậy, nội dung của hàng hoá thiết bị toàn bộ bao gồm:
Khảo sát kỹ thuật.
Luận chứng kinh tế- kỹ thuật hoặc nghiên cứu khả thi công việc thiết kế.
Thiết bị , máy móc, vật t cho xây dựng dự án.
Các công tác xây dựng, lắp ráp, hiệu chỉnh, hớng dẫn vận hành.
Các dịch vụ khác có liên quan đến dự án nh chuyển giao công nghệ, đào
tạo
Việc nhập khẩu đợc tiến hành thông qua một hợp đồng(theo hình thức trọn
gói) với toàn bộ nội dung hàng hoá nêu trên, hoặc thực hiện từng phần tuỳ theo
yêu cầu.
Điều đó có nghĩa là khi nhập khẩu một công trình thiết bị toàn bộ nh một nhà
máy sản xuất xi măng, thì ngoài các thiết bị lẻ cũng nh phạm vi nhập khẩu của các
loại hình này bao gồm hình thức nhập khẩu hàng hoá vật chất và hàng hoá phi vật
chất. Tuy rằng ra đời hơi chậm và còn có những khiếm khuyết nhất định nhng có
thể nói Quyết định 91/TTg của Thủ tớng Chính Phủ đã đa ra định nghĩa rõ ràng và
chính xác về thiết bị toàn bộ và thiết bị lẻ cũng nh phạm vi của chúng, góp phần rõ
rệt vào việc nâng cao hiệu quả của việc nhập khẩu máy móc, thiết bị, xác định
chức năng nhiệm vụ của các cơ quan quản lý Nhà nớc cũng nh phơng thức và trình
tự để tiến hành việc nhập khẩu thiết bị, máy móc trong nền kinh tế thị trờng phù
hợp với xu hớng mở cửa, hội nhập với nền kinh tế khu vực và thế giới cũng nh chủ
trơng đơn giản hoá các thủ tục hành chính của Nhà nớc.
2. Hoạt động nhập khẩu thiết bị toàn bộ ở Việt Nam hiện nay.
2.1. Đối tợng đợc phép nhập khẩu thiết bị toàn bộ.
5
Khoa Thơng mại
Kinh doanh nhập khẩu thiết bị toàn bộ là quá trình giao dịch, ký kết thực hiện
hợp đồng nhập khẩu thiết bị(bao gồm thiết bị toàn bộ và thiết bị lẻ) và dịch vụ có
liên quan đến thiết bị trong quan hệ với bạn hàng nớc ngoài.
Công trình thiết bị toàn bộ thông thờng có tổng vốn đầu t rất lớn, nguồn vốn
sử dụng để nhập khẩu thiết bị toàn bộ thờng là vốn ngân sách nhà nớc hoặc từ các
nguồn tài trợ của nớc ngoài thông qua Chính Phủ hay các nguồn vay nớc ngoài có
sự bảo lãnh của Nhà nớc, các Ngân hàng thơng mại Việt Nam, v.v., vì vậy một
doanh nghiệp chỉ có thể đợc phép nhập khẩu thiết bị toàn bộ sau khi đã thực hiện
đầy đủ các thủ tục có liên quan theo qui định cụ thể của pháp luật.
Trớc kia, theo qui định của thông t 04/TM- ĐT ngày 30/7/1993 của Bộ thơng
mại, muốn kinh doanh xuất nhập khẩu thiết bị toàn bộ, doanh nghiệp phải đợc Bộ
thơng mại cấp giấy phép kinh doanh phù hợp với Điều 5 Nghị định số 144/HĐBT
ngày 7/7/1992 trong đó ở phần nhập khẩu có ghi ngành hàng thiết bị, máy móc.
Ngoài ra, doanh nghiệp cần phải đáp ứng các yêu cầu nh:
-Doanh nghiệp có bộ máy tổ chức, đội ngũ cán bộ có đủ năng lực chuyên
môn kỹ thuật, nghiệp vụ ngoại thơng, giá cả, pháp lý quốc tế trong kinh
doanh xuất nhập khẩu thiết bị toàn bộ.
-Doanh nghiệp đã kinh doanh nhập khẩu ngành hàng máy móc thiết bị lẻ
tối thiểu 5 năm và có mức doanh số nhập khẩu máy móc thiết bị trong năm
không dới 5 triệu USD.
-Doanh nghiệp có vốn lu động do nhà nớc giao tự bổ sung bằng tiền Việt
nam và tiền nớc ngoài tối thiểu tơng đơng với 500.000USD tại thời điểm
đăng ký kinh doanh nhập khẩu thiết bị.
Do đó, doanh nghiệp cần phải xin đăng ký kinh doanh nhập khẩu thiết bị
toàn bộ với Bộ thơng mại bằng cách gửi bộ hồ sơ đăng ký kinh doanh, bao gồm:
Đơn xin kinh doanh nhập khẩu thiết bị .
Giấy phép kinh doanh xuất nhập khẩu.
Hồ sơ hợp lệ xác nhận vốn lu động(bao gồm vốn Nhà nớc giao và vốn tự
bổ sung).
6
Khoa Thơng mại
Bảng tổng kết tài sản 5 năm cuối cùng(Biểu tổng hợp).
Sơ đồ tổ chức bộ máy kinh doanh và cán bộ cần thiết để đảm bảo đủ năng
lực kinh doanh thiết bị.
Tuy nhiên, sau này theo nội dung của nghị định 33/CP ngày19/4/1994 về
Quản lý Nhà nớc đối với hoạt động xuất nhập khẩu, nhập khẩu và tiếp đó là Nghị
định 57/1998/NĐ-CP ngày 31/7/1998 qui định chi tiết thi hành luật Thơng mại về
hoạt động xuất nhập khẩu, gia công, đại lý mua bán hàng hoá với nớc ngoài; để đ-
ợc phép kinh doanh xuất nhập khẩu(kể cả hàng hoá thiết bị toàn bộ), doanh nghiệp
phải đợc thành lập theo qui định pháp luật, đợc phép xuất nhập khẩu hàng hoá
theo ngành nghề đã đăng ký kinh doanh, đã đăng ký mã số kinh doanh với Cục
Hải Quan tỉnh, thành và hàng hoá đó không thuộc danh mục hàng hoá cấm xuất
nhập khẩu. Với cơ chế mới, để mở rộng sản xuất, doanh nghiệp có thể trực tiếp
nhập khẩu thiết bị toàn bộ thông qua đấu thầu; hoặc doanh nghiệp có thể uỷ thác
cho doanh nghiệp khác đợc phép kinh doanh xuất nhập khẩu thiết bị toàn bộ. Tuy
nhiên, điều đáng lu ý ở đây là đối với một doanh nghiệp muốn đợc phép kinh
doanh xuất nhập khẩu mặt hàng này thì trong những văn bản ban hành sau thông t
04/TM-ĐT nh đã kể trên lại cha đợc qui định cụ thể, trong các danh mục ngành
hàng mà doanh nghiệp đăng ký kinh doanh xuất nhập khẩu lại không có tên của
ngành hàng" thiết bị toàn bộ. Do vậy, trong thực tế, hiện nay các doanh nghiệp
muốn kinh doanh xuất nhập khẩu thiết bị toàn bộ vẫn áp dụng các qui định của
thông t 04/TM-ĐT. Bản thân giấy phép kinh doanh xuất nhập khẩu của Công ty
xuất nhập khẩu thiết bị toàn bộ và kỹ thuật cũng đợc cấp dựa theo giấy phép cũ mà
Bộ thơng mại đã cấp cho tiền thân là Tổng công ty xuất nhập khẩu thiết bị toàn bộ
và kỹ thuật trớc đó, chứ còn nếu áp dụng theo các qui định của Nghị định 33-CP
hay Nghị định 57/1998/NĐ-CP thì khó có thể cấp giấy phép kinh doanh xuất nhập
khẩu đối với ngành hàng thiết bị toàn bộ cho công ty.
2.2. Các phơng thức nhập khẩu thiết bị toàn bộ.
Nếu nh thực hiện hợp đồng nhập khẩu thiết bị lẻ không gặp nhiều vớng mắc
và chỉ mất một khoảng thời gian tơng đối ngắn thì việc thực hiện hợp đồng nhập
7
Khoa Thơng mại
khẩu thiết bị toàn bộ thờng kéo dài hơn nhiều với một khối lợng công việc đồ sộ
và phức tạp liên quan tới các công đoạn xây xựng nhà xởng, nhập khẩu hàng hoá,
lắp đặt, vận hành, đào tạo vận hành Chính vì vậy mà vấn đề đặt ra là nên tiến
hành nhập khẩu theo phơng thức nào là tối u nhất đảm bảo an toàn cho đầu t trong
khi chúng ta cha đủ khả năng và trình độ để có thể hoàn toàn an tâm về quyết định
nhập khẩu thiết bị toàn bộ và công nghệ của mình.
Hiện nay, có nhiều cách phân loại các phơng thức nhập khẩu thiết bị toàn bộ,
nếu theo cách phân loại của FIDIC (Hiệp hội quốc tế các kỹ s t vấn), trên thế giới
có bốn phơng thức nhập khẩu thiết bị toàn bộ chủ yếu(ở Việt nam các phơng thức
này không đợc gọi là các phơng thức nhập khẩu thiết bị toàn bộ mà đợc gọi là các
hình thức tổ chức quản lý thực hiện công trình thiết bị toàn bộ-đợc định nghĩa
trong Quy Chế Quản lý đầu t và xây dựng ra ngày (8/7/1999 ) bao gồm:
2.2.1. Ph ơng thức qui ớc(Conventional method):
Đây là phơng thức đợc sử dụng rất phổ biến, trong đó đầu t hay chủ công
trình thông qua một đơn vị t vấn chịu trách nhiệm lập dự án, thiết kế và soạn hồ sơ
đấu thầu, giúp chủ đầu t tổ chức việc đấu thầu và giám sát đợc gọi là phơng thức
chủ đầu t trực tiếp quản lý thực hiện dự án.
2.2.2. Ph ơng thức tự quản( In-house method):
Trong phơng thức tự quản, chủ đầu t không sử dụng đơn vị t vấn bên ngoài
mà sử dụng lực lợng nội bộ thuộc đơn vị mình để tiến hành mọi việc liên quan đến
việc xây lắp công trình từ khâu lập dự án, thiết kế, thi công đến vận hành thử và
bảo hành Trên thế giới, ngời ta áp dụng phơng thức này chủ yếu đối với các công
trình chuyên dụng đặc biệt nh các công trình thuộc lĩnh vực dầu khí, năng lợng
nguyên tử
Còn đối với Việt nam, đây chỉ là phơng thức tự làm và chỉ áp dụng đối với
các công trình sửa chữa, cải tạo quy mô nhỏ, các công trình chuyên ngành không
đòi hỏi trình độ chuyên môn kỹ thuật cao nh xây dựng nông, lâm nghiệp và các
công trình tự đầu t xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật của các doanh nghiệp xây
dựng
8
Khoa Thơng mại
2.2.3. Ph ơng thức quản lý dự án(Management method):
Trong phơng thức này, chủ đầu t sẽ thuê một công ty t vấn đứng ra chịu trách
nhiệm hoàn toàn đối với việc giao dịch với các đơn vị thiết kế, cung ứng vật t và
đơn vị nhận thầu thi công. Công ty t vấn chịu trách nhiệm giám sát mọi mặt nhng
không đồng nhất với vai trò tổng thầu xây dựng theo kiểu chìa khoá trao tay.
ở Việt nam, phơng thức này đợc gọi là Phơng thức chủ nhiệm điều hành dự
án. Đối với phơng thức này, sau khi tổ chức tuyển chọn, chủ đầu t sẽ trình lên cấp
có thẩm quyền để quyết định tổ chức t vấn đứng ra thay mặt ký kết các hợp đồng
nói trên và chịu trách nhiệm giám sát quản lý toàn bộ quá trình thực hiện dự án.
Theo đó thì phơng thức này chỉ áp dụng đối với các dự án có qui mô lớn, có kỹ
thuật phức tạp và thời gian xây dựng dài.
2.2.4. Ph ơng thức chìa khoá trao tay(turn -key method):
Một cách đơn giản, ngời ta thờng quan niệm nhập khẩu máy móc thiết bị là
nhập khẩu công nghệ và kỹ thuật. Nhập khẩu thiết bị toàn bộ hoặc nhà máy theo
hình thức" chìa khoá trao tay đợc coi là những hình thức phù hợp để tranh thủ đ-
ợc công nghệ và kỹ thuật của nớc ngoài.
Nếu tiến hành nhập khẩu theo phơng thức này, chủ đầu t chỉ quan hệ với một
ngời bán, nhà cung cấp hoặc tổng thầu chịu trách nhiệm đối với quá trình lập dự
án, thiết kế thi công, mua sắm vật t và xây lắp hoàn chỉnh để giao cho chủ đầu t
vận hành. Chủ đầu t chỉ đứng ra duyệt thiết kế kỹ thuật, nghiệm thu và nhận bàn
giao khi dự án đã hoàn thành đủ điều kiện đa vào sử dụng. Ngời bán có thể giao
thầu lại cho các nhà thầu phụ, nhng vẫn phải chịu trách nhiệm trực tiếp và toàn bộ
trớc chủ đầu t. Tuỳ theo mức độ dịch vụ mà ngời bán cung cấp, phơng thức chìa
khoá trao tay có thể đợc phân ra làm một số dạng nh:
2.2.4.1. Chìa khoá trao tay thuần tuý( Light turn key):
Ngời bán chịu trách nhiệm toàn bộ quá trình lập dự án, thiết kế thi công, mua
sắm vật t, xây lắp hoàn chỉnh, sau đó bàn giao công trình và cung cấp cho ngời
mua một số tài liệu hớng dẫn vận hành.
2.2.4.2. Chìa khoá kỹ thuật trao tay( Heay turn-key):
9
Khoa Thơng mại
Ngời bán giúp ngời mua về dịch vụ kỹ thuật nhng không đảm bảo kết quả
vận hành đạt đúng các chỉ tiêu thiết kế của công trình.
10
Khoa Thơng mại
2.2.4.3. Sản phẩm trao tay(Product-in-hand turn-key):
Ngời bán đảm bảo nhận thêm nhiệm vụ đào tạo cho ngời mua một đội ngũ
công nhân vận hành và cung cấp vật liệu sản xuất thử. Đến khi nào sản phẩm sản
xuất ra đạt tiêu chuẩn về qui cách phẩm chất và các chỉ tiêu thiết kế thì mới bàn
giao công trình cho ngời mua quản lý.
2.2.4.4. Thị tr ờng trao tay( Market-in hand turn-key):
Sau khi đã hoàn thành công trình, ngời bán giúp ngời mua một số hoạt động
marketing và đào tạo đội ngũ cán bộ quản lý kinh doanh cho ngời mua.
ở Việt Nam, phơng thức này cũng đợc gọi là phơng thức chìa khoá trao tay,
tuy nhiên không áp dụng phơng thức quản lý và triển khai hoàn toàn nh cách phân
loại phơng thức chìa khoá trao tay ở trên mà áp dụng pha trộn giữa phơng thức
chìa khoá kỹ thuật trao tay và sản phẩm trao tay. Điều đó có nghĩa là khi nhập
khẩu công trình thiết bị toàn bộ theo phơng thức này, ngời bán giúp ngời mua một
số dịch vụ về kỹ thuật, chịu trách nhiệm đào tạo cho ngời mua một đội ngũ công
nhân đảm bảo vận hành công trình cho đến khi đạt kết quả vận hành, đạt các chỉ
tiêu thiết kế thì mới bàn giao công trình cho ngời mua quản lý. Tuy nhiên, ngời
bán không chịu trách nhiệm cung cấp nguyên liệu sản xuất thử nh trách nhiệm quy
định của ngời mua theo phơng thức sản phẩm trao tay.
Nhợc điểm của phơng thức" Chìa khoá trao tay về cơ bản chính là ở chỗ nó
không nâng cao trình độ kỹ thuật của bên tiếp nhận nhà máy, vì phơng thức này
hầu nh không có chuyển giao công nghệ. Ngời bán(nhà thầu) bàn giao nhà máy đã
xây lắp, kèm theo phần kiến thức kỹ thuật để vận hành và bảo dỡng công trình
thiết bị toàn bộ đó. Phần thiết kế chế tạo chi tiết và bí quyết kỹ thuật(know-how)
nhà máy không đợc chuyển giao hoặc chuyển giao không có hệ thống và đầy đủ.
Với kiến thức ít ỏi nhận đợc, ngời mua nhiều khi không đủ khả năng tự mình làm
chủ đợc công nghệ của các nhà máy mới đợc xây lắp, vì thế nên thờng thấy sự có
mặt của các chuyên gia nớc ngoài tiếp tục ở lại sau khi công trình đã bàn giao. Nh
ở Malaysia, hầu hết các nhà máy công nghiệp hoá dầu đã đợc bàn giao cho ngời
11
Khoa Thơng mại
mua Malaysia từ đầu những năm 1980, nhng sau đó nhiều năm vẫn do nhà thầu n-
ớc ngoài vận hành và bảo dỡng.
Điều đó có nghĩa là, nhập khẩu theo phơng thức này, ngời mua mới chỉ mua
đợc"Sản phẩm của công nghệ mà cha mua đợc"Công nghệ, tức là các kiến thức
khoa học kỹ thuật và công nghệ đã sử dụng để tạo ra sản phẩm đó. Có thể hình
dung việc này nh một ngời mua một chiếc ôtô mới, đợc ngời bán chỉ dẫn chu đáo
để điều khiển và lái đợc một chiếc xe đó, nhng đến khi nó hỏng hóc thì lại không
hiểu tại sao và lại phải mời kỹ thuật viên đến giúp sửa chữa.
Ngày nay, ở Việt nam cũng đã xuất hiện nhiều hợp đồng nhập khẩu thiết bị
toàn bộ đợc ký kết theo phơng thức BOT(Build+Operate+Transfer) hoặc
BT(Build+Transfer).
Theo phơng thức BOT, chủ đầu t phải tự bỏ vốn ra xây dựng công trình, kinh
doanh khai thác trong một thời gian và sau chuyển giao không bồi hoàn lại cho
Chính Phủ Việt Nam. Phơng thức này thờng đợc áp dụng đối với việc đầu t xây
dựng cơ sở hạ tầng là một lĩnh vực đang đợc khuyến khích.
Nh vậy, phơng thức nhập khẩu thiết bị toàn bộ là hết sức đa dạng, song việc
áp dụng phơng thức nào còn tuỳ thuộc điều kiện và khả năng về nhiều mặt của
mỗi quốc gia nói chung và mỗi doanh nghiệp nói riêng. Vấn đề bức thiết đặt ra là
phải nghiên cứu, lựa chọn đợc phơng thức nhập khẩu nào phù hợp, giúp giảm thiểu
thời gian và kinh phí của chủ đầu t nhng vẫn đạt đợc yêu cầu đã định, có nh vậy
mới góp phần nâng cao hiệu quả nhập khẩu thiết bị toàn bộ trong giai đoạn hiện
nay.
2.3. Khung pháp lý hiện nay cho hoạt động nhập khẩu thiết bị toàn bộ ở
Việt Nam.
Từ những đặc điểm đã trình bày ở trên, có thể thấy rõ ràng, không giống nh
thực hiện một Hợp đồng mua bán thiết bị lẻ thông thờng, công tác nhập khẩu thiết
bị toàn bộ đòi hỏi cả một khoảng thời gian rất dài để có thể hoàn tất các khâu, từ
chuẩn bị nguồn vốn, chuẩn bị dự án, lựa chọn phơng thức thực hiện đến phê duyệt,
đàm phán, ký kết, tổ chức thực hiện, và vận hành công trình. Trong suốt quá trình
12
Khoa Thơng mại
thực hiện, các khâu này lại chịu sự quản lý chặt chẽ của nhà nớc thông qua hệ
thống các văn bản pháp luật, điều chỉnh hoạt động xuất nhập khẩu nói chung và
nhập khẩu thiết bị toàn bộ nói riêng. Yếu tố pháp luật có ý nghĩa hết sức quan
trọng đối với mọi quốc gia trong công cuộc phát triển kinh tế, xây dựng đất nớc.
Không chỉ có vậy, trong hoạt động kinh tế đối ngoại ngày càng phong phú và mở
rộng hiện nay, việc xây dựng hệ thống văn bản pháp luật phù hợp với điều kiện đất
nớc và không trái ngợc với các thông lệ quốc tế sẽ góp phần quan trọng kích thích
sức sản xuất xã hội, tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động xuất nhập khẩu, tạo đà
phát triển kinh tế.
Hoạt động nhập khẩu thiết bị toàn bộ là một công tác phức tạp, nó không chỉ
đòi hỏi sự hiểu biết về chuyên môn sâu sắc mà còn đòi hỏi sự am hiểu pháp luật có
liên quan ảnh hởng trực tiếp hay gián tiếp tới hiệu quả nhập khẩu thiết bị, đòi hỏi
phải có hệ thống văn bản pháp quy tạo điều kiện cho việc thực hiện phối hợp nhịp
nhàng giữa các ngành, các cấp có liên quan trong các giai đoạn nhập khẩu công
trình, đặc biệt đối với các công trình đợc nhập khẩu bằng nguồn vốn vay của nớc
ngoài.
2.3.1. Quyết định 91/TTg ngày 13/11/1992 của Thủ t ớng Chính phủ
Quyết định này ban hành Quy định về quản lý nhập khẩu máy móc thiết bị
bằng nguồn vốn ngân sách Nhà nớc, trong đó nêu định nghĩa và xác định rõ phạm
vi hàng hoá Thiết bị toàn bộ và thiết bị lẻ không chỉ bao gồm phần hàng hoá hữu
hình(máy móc, thiết bị, vật liệu ) mà còn bao gồm cả phần hàng hoá vô
hình(thiết kế, giám sát, đào tạo, chuyển giao công nghệ ). Đây cũng là điểm chi
tiết hơn so với"Điều kiện chung giao hàng và lắp ráp nhà máy và máy móc xuất
nhập khẩu số 188A của Uỷ ban kinh tế Liên Hợp Quốc cũng nh định nghĩa thiết
bị toàn bộ trong Thông t 07/TT ngày7/1/1961 của Thủ tớng Chính phủ.
Theo quyết định này thì Bộ thơng mại giữ vai trò chính thay nhà nớc quản lý
việc nhập khẩu, cụ thể trong các mặt sau:
- Quyết định cụ thể doanh nghiệp thực hiện việc nhập khẩu;
13
Khoa Thơng mại
- Cùng các ngành quản lý hữu quan và chủ đầu t xử lý cụ thể khi phải nhập
khẩu thiết bị đã qua sử dụng;
- Quy định cụ thể trình tự và phơng thức nhập khẩu máy móc thiết bị;
- Phê duyệt hợp đồng nhập khẩu cỏ trị giá nhỏ hơn 5 triệu USD, là chủ tịch
Hội đồng thẩm định nhà nớc phê duyệt dự án có vốn đầu t từ 5-10 triệu
USD, hoặc đề nghị Thủ tớng Chính phủ phê duyệt đối với các hợp đồng
nhập khẩu lớn hơn;
- Cấp giấy phép nhập khẩu cho từng chuyến giao hàng.
Việc đa ra định nghĩa thống nhất và tơng đối đầy đủ về thiết bị toàn bộ và
thiết bị lẻ đã góp phần làm nền tảng xây dựng hệ thống các văn bản tiếp sau đó
điều chỉnh việc nhập khẩu máy móc thiết bị, Quyết định 91/TTG ngày 13/11/1992
cùng với Thông t 04/TM-ĐT ngày 30/7/1993 sau này đã góp phần thể chế hoá quá
trình nhập khẩu và nâng cao hiệu quả nhập khẩu thiết bị toàn bộ.
2.3.2. Nghị định 52/1992/NĐ-CP ngày 8/7/1999 của Chính phủ.
Nghị định ban hành Quy chế Quản lý đầu t và xây dựng, đợc ra đời thay thế
cho nghị định 42/CP ngày 16/7/1996 và Nghị định 92/CP ngày 23/8/1997, với mục
đích khuyến khích các thành phần kinh tế đầu t sản xuất, kinh doanh phù hợp với
chiến lợc và quy hoạch phát triển kinh tế xã hội của đất nớc trong từng thời kỳ để
chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hớng công nghiêp hoá, hiện đại hoá, đẩy nhanh
tốc độ phát triển kinh tế, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân; sử
dụng hiệu quả các nguồn vốn huy động đợc do nhà nớc quản lý; đồng thời đảm
bảo quy hoạch xây dựng, áp dụng hiệu quả công nghệ và kỹ thuật tiên tiến trên thế
giới.
Quy chế đã quy định việc phân loại dự án đầu t theo 3 nhóm A, B, C cùng với
phân cấp trách nhiệm quản lý đầu t, quản lý vốn, thẩm định dự án đầu t, phê duyệt
thiết kế kỹ thuật và tổng dự toán của dự án đầu t, phê duyệt quyết toán vốn đầu t
của các Bộ ngành liên quan tơng ứng với từng nhóm.
Nhằm đảm bảo tính thống nhất của công tác quản lý đầu t và xây dựng, Quy
chế đã quy định trách nhiệm quyền hạn của chủ đầu t, tổ chức t vấn đầu t, nhà thầu
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét