Chủ Nhật, 9 tháng 2, 2014

Giải pháp hạn chế rủi ro tín dụng đối với khu vực kinh tế ngoài quốc doanh (nghiên cứu tại NHTM cổ phần hàng hải - chi nhánh Hà Nội)

Luận văn tốt nghiệp Nguyễn Thị Ngọc Hà
trọng tới việc thực hiện nghiêm túc các nguyên tắc cho vay để đảm bảo thu về
cả gốc lẫn lãi đúng hạn.
1.1.2.3. Nghiệp vụ thanh toán.
Các ngân hàng thơng mại thực hiện nghiệp vụ thanh toán thông qua việc
phát hành các công cụ thanh toán (thẻ thanh toán, thẻ tín dụng, séc) cung cấp
các dịch vụ thanh toán cho công chúng, thực hiện các dịch vụ thu hộ, chi hộ.
Để thực hiện các chức năng trung gian thanh toán của mình, các ngân hàng th-
ơng mại đều tham gia vào các hệ thống thanh toán nh: hệ thống thanh toán bù
trừ, hệ thống thanh toán liên hàng hay thông qua các ngân hàng đại lý.
1.1.2.4. Tham gia hoạt động trên thị trờng hối đoái.
Các ngân hàng thơng mại tham gia mua bán ngoại tệ, kim loại quý
trên thị trờng hối đoái. Trong sự phát triển của mình các ngân hàng thơng mại
đã hình thành và phát triển nghiệp vụ kinh doanh ngoại tệ và kim loại quý. Nó
xuất phát từ sự phát triển sản xuất kinh doanh theo xu hớng hội nhập và phân
công lao động quốc tế. Đồng thời, nó cũng là động lực thúc đẩy trở lại sự phát
triển của hoạt động này. Về phía ngân hàng, việc mua bán ngoại tệ và kim loại
quý đã đem lại lợi nhuận trên cơ sở mua vào với giá thấp và bán ra với giá
cao. Kinh doanh trên cơ sở chênh lệch tỷ giá thông qua các giao dịch giao
ngày, giao dịch kỳ hạn, arbit cũng đem lại lợi nhuận cho ngân hàng.
1.1.2.5. Tham gia hoạt động trên thị trờng chứng khoán.
Thị trờng chứng khoán, ngân hàng thơng mại tham gia với t cách là ngời
cung cấp (phát hành), ngời mua bán, ngời bảo lãnh phát hành, ngời môi giới,
ngời đầu t .Trong đó, chức năng môi giới của ngân hàng trên thị tr ờng chứng
khoán đợc mọi ngời biết tới thông qua các hoạt động bảo lãnh phát hành chứng
khoán cho các công ty, mua bán chứng khoán cho khách hàng
1.1.2.6. Cung cấp các dịch vụ khác cho khách hàng.
Các ngân hàng thơng mại hiện đại nhận thấy lợi nhuận đem lại từ việc
cung cấp các dịch vụ cho khách hàng chiếm tỷ trọng ngày một lớn trong tổng
Tài chính doanh nghiệp 41B
5
Luận văn tốt nghiệp Nguyễn Thị Ngọc Hà
lợi nhuận. Do vậy đa dạng hóa các dịch vụ, nâng cao hiệu quả chất lợng dịch
vụ luôn là mối quan tâm của ngân hàng. Ngày nay, các dịch vụ của ngân hàng
thơng mại rất đa dạng, phong phú từ việc bảo lãnh, đến cung cấp các dịch vụ t
vấn tài chính, quản lý tài sản cho khách hàng lu giữ, bảo quản các chứng từ, tài
sản có giá, cho thuê két, thực hiện nghiệp vụ đại lý uỷ thác, quản lý danh mục
đầu t
1.2.Vài nét về rủi ro trong hoạt động kinh doanh của
ngân hàng thơng mại.
1.2.1. Khái niệm rủi ro trong kinh doanh của Ngân hàng thơng mại.
Mục đích chung nhất của mọi hoạt động của con ngời là vơn tới thành
công theo những mục tiêu đã định. Trong quá trình thực hiện hoạt động ấy luôn
có những khó khăn nhiều, dự định ban đầu có thể không đạt đợc nh ý muốn.
Tất cả những cái đó có thể gọi là rủi ro.
Tuỳ theo điều kiện khác nhau mà có cách nhìn về rủi ro không giống
nhau:
- Theo Franknight(1921) thì :Rủi ro là sự bất chắc có thể đo lờng đợc
- Theo Marilic Mr Carty(1986) cho rằng Rủi ro là một tình trạng trong
đó biến cố xảy ra trong tơng lai có thể xác định đợc.
- Theo H.Kinh nhà kinh tế học Mỹ: Rủi ro là các kết quả bất lợi có thể
đo lờng đợc. Nh vậy theo ông những gì cha biết thì không phải là rủi ro mà là
bất chắc.
- Còn theo Allan Willet thì Rủi ro là bất chắc có liên quan đến việc
xuất hiện một biến cố không mong đợi.
- Theo lý thuyết chứng khoán: Rủi ro là sự chênh lệch giữa lợi nhuận
thực tế và lợi nhuận bất lợi cho nhà đầu t.
Nhìn chung mỗi định nghĩa đều khẳng định đợc rằng Rủi ro là khả năng
xuất hiện những biến cố không mong đợi gây thiệt hại cho một công việc cụ
thể.
Tài chính doanh nghiệp 41B
6
Luận văn tốt nghiệp Nguyễn Thị Ngọc Hà
Trong nền kinh tế thi trờng, rủi ro đựơc xem nh một yếu tố không thể
tách rời với quá trình hoạt động của các doanh nghiệp, doanh nhân trên thị tr-
ờng. Các chuyên gia về Tài chính- Ngân hàng cho rằng: hơn mọi doanh
nghiệp khác, Ngân hàng phải đối phó với các loại rủi ro từ mọi nguồn gốc.
Rủi ro tín dụng là đặc trng nhất và dễ xảy ra nhất trong hoạt động kinh
doanh tiền tệ của Ngân hàng. Rủi ro tín dụng là một rủi ro trong kinh doanh
của Ngân hàng do một hoặc một nhóm khách hàng không thực hiện đợc các
nghĩa vụ về tài chính với Ngân hàng. Rủi ro tín dụng đợc hiểu là khoản lỗ tiềm
tàng vốn có đợc tạo ra khi cấp tín dụng cho một khách hàng. Hoặc nói một
cách cụ thể hơn, luồng thu nhập dự tính mang lại từ tài sản có sinh lời của các
Ngân hàng có thể không đợc hoàn trả đầy đủ xét cả về mặt số lợng và thời hạn.
Điều đó có nghĩa là một khi còn có hoạt động Ngân hàng thì còn có rủi
ro trong hoạt động tín dụng và buộc Ngân hàng phải có những giải pháp đồng
bộ, hữu hiệu mới có thể hạn chế, ngăn ngừa bớt rủi ro, giảm tới mức thấp nhất
thiệt hại do chúng gây ra.
1.2.2. Các loại hình rủi ro trong hoạt động kinh doanh của Ngân hàng th-
ơng mại.
1.2.2.1. Rủi ro tín dụng (rủi ro cho vay).
Hoạt động tín dụng là một trong các hoạt động lớn nhất và chủ yếu nhất
của Ngân hàng thơng mại vì vậy lợi nhuận của Ngân hàng chủ yếu là thu từ lãi
do việc cấp tín dụng. Đơng nhiên ở khâu này chứa đựng nhiều rủi ro nhất, nói
cách khác việc cho vay bao giờ cũng thực hiện các đảm bảo để giảm thiểu các
rủi ro có liên quan đến tiền vay nh: Phân tích khách hàng, quy định hạn mức
cho vay, yêu cầu thế chấp, thỏa thuận về vay, trả nợ. Nhng dẫu sao Ngân hàng
cũng không thể đánh gía đợc hết các bất ngờ hoặc chính xác đợc.
Rủi ro cho vay biểu hiện ra bên ngoài là việc không hoàn thành nghĩa vụ
trả nợ, vốn bị ứ đọng khó có khả năng thu hồi hoặc xảy ra nợ quá hạn ngày
càng tăng, các khoản lãi cha thu ngày càng lớn dẫn đến Ngân hàng không thu
Tài chính doanh nghiệp 41B
7
Luận văn tốt nghiệp Nguyễn Thị Ngọc Hà
hồi đợc vốn để hoàn trả vốn cho ngời gửi tiền, thậm chí Ngân hàng bị thiếu và
không có khả năng thanh toán.
Nói tóm lại, rủi ro trong khâu cho vay liên quan đến ba vấn đề chính: ý
thức về nghĩa vụ trả nợ của khách hàng, khả năng trả nợ hiện tại và tơng lai,
khả năng chịu nợ theo thời hạn thoả thuận với mức vay đã thực hiện.
1.2.2.2. Rủi ro mất khả năng thanh toán.
Trờng hợp này xảy ra khi ngân hàng không đáp ứng đợc các nhu cầu
thanh toán của mình và của khách hàng. Có hai nguyên nhân chủ yếu dẫn tới
tình trạng này. Thứ nhất, do ngân hàng huy động vốn ngắn hạn song lại cho
vay dài hạn bởi vậy nó không đủ số vốn cần thiết để đáp ứng nhu cầu vay của
khách hàng. Thứ hai, do khách hàng đột ngột mất lòng tin ở ngân hàng, cùng
lúc ồ ạt đến rút tiền làm cho ngân hàng không có đủ tiền thanh toán cho khách
hàng. Rủi ro này thể hiện ngân hàng đang thiếu vốn hoạt động. Trong trờng
hợp này các Ngân hàng bị rủi ro thờng bị mất tiền lãi và bỏ ra chi phí cho các
việc nhằm cứu vãn tình hình nh:
Bán chứng khoán.
Vay tái chiết khấu từ Ngân hàng trung ơng.
Vay các ngân hàng thơng mại và các tổ chức tín dụng khác.
Thu hồi hay bán lại các món vay cha đến hạn.
Do sự cạnh tranh giữa các thể chế tài chính trên thị trờng vốn và thị trờng
tiền tệ nếu khả năng thanh toán của ngân hàng kém thì ngân hàng càng khó
huy động đợc nguồn vốn dồi dào, phạm vi hoạt động ngày càng thu hẹp. Từ đó,
Ngân hàng sẽ lâm vào vòng xoáy đã thiếu vốn lại càng thiếu vốn hơn và sẽ vỡ
nợ nếu không đợc sự trợ giúp kịp thời của Ngân hàng trung ơng.
1.2.2.3. Rủi ro lãi suất.
Rủi ro lãi suất là rủi ro phát sinh khi có biến động chênh lệch lãi suất giữa
lãi suất cho vay của Ngân hàng với lãi suất phải trả cho việc đi vay dẫn đến giảm
Tài chính doanh nghiệp 41B
8
Luận văn tốt nghiệp Nguyễn Thị Ngọc Hà
thu nhập của Ngân hàng. Rủi ro này là hậu quả của những thay đổi lãi suất.
Trong nền kinh tế, lãi suất là yếu tố rất nhạy cảm đối với những biến động của
nền kinh tế, hơn nữa nó là công cụ trong việc thực hiện chính sách tài chính
tiền tệ của chính phủ. Vì vậy, rủi ro lãi suất xuất hiện thờng xuyên trong hoạt
động kinh doanh của Ngân hàng.
1.2.2.4. Rủi ro tỷ giá.
Kinh doanh ngoại hối là một trong những hoạt động của Ngân hàng
nhằm phục vụ cho nhu cầu đa dạng của nền kinh tế, tạo điều kiện cho các nhà
kinh doanh hoạt động xuất nhập khẩu thuật lợi. Rủi ro tỷ giá xuất hiện do sự
thay đổi tỷ giá giữa các đồng tiền. Rủi ro này xuất hiện hầu hết trong các hoạt
động kinh doanh Ngân hàng, đặc biệt trong khâu đi vay và cho vay. Khi tỷ
giá tăng sẽ tạo ra lãi về hối đoái, tỷ giá giảm sẽ tạo ra lỗ về hối đoái.
Những điều này sẽ tạo ra ảnh hởng trực tiếp đến Ngân hàng cũng nh đối với
khách hàng của Ngân hàng.
1.2.2.5. Rủi ro bị đọng vốn.
Rủi ro này xuất hiện trong trờng hợp nguồn vốn của Ngân hàng bị ứ
đọng, không cho vay đợc hay không thể chuyển sang các tài sản có sinh lời
khác. Điều này gây rủi ro lớn cho Ngân hàng. Bởi vì NHTM là doanh nghiệp
kiếm lợi nhuận bằng cáchđi vay để cho vay nguồn vốn tự có rất ít ỏi, chỉ là
một cái đệm chống đỡ sự sụt giảm của tài sản có mà thôi. Và nguồn vốn huy
động chủ yếu của ngân hàng chính là vốn huy động. Nếu vì một lý do nào đó,
ngân hàng không cho vay đợc nguồn vốn này hoặc không sử dụng hết nghĩa là
tồn tại tiền dự trữ qúa mức không sinh lãi trong khi đến hạn ngân hàng vẫn phải
trả lãi cho số tiền huy động và các chi phí nghiệp vụ khác có liên quan sẽ làm
ảnh hởng đến lợi nhuận của ngân hàng. Tình trạng này kéo dài và đến một mức
độ nào đó sẽ đẩy ngân hàng vào hoàn cảnh khó khăn thua lỗ hoặc thậm chí phá
sản.
1.2.2.6. Các rủi ro thuần tuý.
Tài chính doanh nghiệp 41B
9
Luận văn tốt nghiệp Nguyễn Thị Ngọc Hà
Đó là những rủi ro của tự nhiên mang lại nh thiên tai, hoả hoạn, động đất
hoặc các rủi ro nh lừa đảo, trộm cắp làm thiệt hại hay phá huỷ tài sản của
Ngân hàng.
1.3. Rủi ro tín dụng đối với khu vực kinh tế ngoài quốc
doanh.
Với khả năng điều hòa vốn trong nền kinh tế, Ngân hàng thơng mại từ
lâu đã đợc xem có vai trò quan trọng đối với sự phát triển nền kinh tế của đất n-
ớc nói chung và sự phát triển của khu vực kinh tế ngoài quốc doanh nói riêng.
Nhng trớc khi xem xét rủi ro tín dụng Ngân hàng đối với khu vực kinh tế ngoài
quốc doanh, chúng ta cần phải biết đặc điểm khu vực kinh tế này trong nền
kinh tế thị trờng.
1.3.1 Đặc điểm khu vực kinh tế ngoài quốc doanh.
Kinh tế ngoài quốc doanh(KT NQD) là một bộ phận cấu thành nền kinh
tế quốc dân. Sự tồn tại và sự phát triển khu vực kinh tế này có cơ sở về mặt kinh
tế và thể chế chính trị. Xét về mặt kinh tế xã hội, Marx đã từng khái quát rằng
một kết cấu xã hội không bị loại trừ khi bản thân nó vẫn còn sức sống và một
cấu trúc Xã hội mới cha thể ra đời khi những điều kiện này nảy sinh nó cha
xuất hiện.
Trên ý nghĩa đó, KT NQD có cơ sở kinh tế xã hội ở nớc ta. Về mặt thể
chế chính trị từ Đại hội Đảng lần VI(1986) đến nay, Đảng và nhà nớc ta đã
kiên trì và nhất quán thực hiện chiến lợc nền kinh tế hàng hoá nhiều thành
phần, vận động theo cơ chế thị trờng có sự quản lý của Nhà nớc theo hớng Xã
hội chủ nghĩa.
Theo đó, sở hữu t nhân đợc chấp nhận, KT NQD đợc tồn tại và phát triển
cùng kinh tế Nhà nớc. KTNQD là khu vực kinh tế đợc hình thành trong quan hệ
sở hữu t nhân, không có sự góp vốn của Nhà nớc. Xét cụ thể về loại hình doanh
nghiệp KT NQD bao gồm: hợp tác xã, công ty, doanh nghiệp t nhân, hộ cá thể
và cá nhân kinh doanh.
Tài chính doanh nghiệp 41B
10
Luận văn tốt nghiệp Nguyễn Thị Ngọc Hà
Nghiên cứu hoạt động của KT NQD trong mối quan hệ với khu vực quốc
doanh, ta sẽ thấy rõ đợc vai trò tất yếu của KT NQD trong quá trình phát triển
kinh tế-xã hội. Thành phần KT NQD có đặc điểm nổi trội sau:
1.3.1.1 Đa số các doanh nghiệp ngoài quốc doanh đều tập trung vào lĩnh
vực thơng mại, dịch vụ và tập trung chủ yếu ở các vùng đô thị lớn.
Qua số liệu thống kê cho thấy phạm vi hoạt động của khu vực KT NQD
có mặt hầu hết các ngành Kinh tế quốc dân(26000 doanh nghiệp vừa và nhỏ,
tính đến đầu năm 1998), công nghiệp chế biến, nông lâm nghiệp, xây dựng,
thơng mại và dịch vụ.
Tuy nhiên trong vòng 10 năm trở lại đây, mức đầu t nhiều nhất vẫn là th-
ơng mại và dịch vụ, ngành chiếm tỷ trọng nhiều cả về số lợng lẫn giá trị tổng
sản phẩm quốc nội.
Sự phát triển của thơng mại dịch vụ ngoài việc xuất phát từ nhu cầu
thực tế của nền kinh tế còn là tất yếu của thời đại và xu thế hội nhập nên quy
mô hoạt động của nó đã vợt ra ngoài biên giới của một nớc. Hơn nữa, đặc điểm
của ngành thơng mại và dịch vụ là vốn đầu t thấp hơn các ngành khác, thời gian
thu hồi vẫn nhanh, tỷ suất doanh lợi hấp dẫn, có thị trờng, có kinh nghiệm kinh
doanh.
Trong lĩnh vực sản xuất khu vực KT NQD chiếm tỷ trọng thấp năng lực
sản xuất nhỏ nên dễ bị tác động bởi sự cạnh tranh trong cơ chế thị trờng và chủ
đầu t vào các ngành công nghiệp nhẹ, công nghiệp chế biến.
1.3.1.2 Năng động nhạy bén và dễ thích ứng với sự thay đổi của thị trờng.
Ngời quản lý doanh nghiệp ngoài quốc doanh thờng xuyên đồng thời là
chủ sở hữu nên các quyết định trong kinh doanh thờng có hiệu lực ngay. Sự gắn
bó sát sao giữa quyền lợi của doanh nghiệp với quyền lợi của ngời lãnh đạo
khiến họ phải tập trung hết trí lực cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.
Tài chính doanh nghiệp 41B
11
Luận văn tốt nghiệp Nguyễn Thị Ngọc Hà
Do có khả năng tự quyết, họ có thể chớp lấy những cơ hội kinh doanh thuận lợi
đồng thời họ có thể chuyển hớng kinh doanh khi có những bất lợi. Vì vậy các
DN NQD có khả năng thích ứng nhanh với sự thay đổi của thị trờng và sự tiến
bộ không ngừng của Khoa học-Kĩ thuật. Đây là một lợi thế của các DN NQD
so với các doanh nghiệp quốc doanh(DNQD).
1.3.1.3 Có cơ cấu tổ chức gọn nhẹ.
Các DN NQD hoạt động vì mục tiêu lợi nhuận là chủ yếu. Nếu thờng
thích hợp với cơ cấu tổ chức đơn giản, số lợng nhân viên ít và các nhân viên th-
ờng phải đảm bảo nhận nhiều công việc theo kiểu đa năng. Phần lớn chủ doanh
nghiệp vừa phải đảm nhiệm vai trò điều hành, chỉ huy nhân viên vừa phải đảm
nhiệm vai trò lãnh đạo kinh doanh.
DN NQD thờng sử dụng lực lợng lao động thời vụ, góp phần làm giảm
chi phí, tạo lợi thế cạnh tranh về giá. Cũng vì vậy mà họ đòi hỏi nhân viên của
mình làm việc nghiêm túc với cờng độ cao, giảm thiểu lãng phí nguồn nhân lực
vẫn thờng gặp ở DNQD. Doanh nghiệp có thể tận dụng lao động thay thế cho
vốn từ đó có thể đạt hiệu quả kinh tế cao hơn.
Rõ ràng là phát triển KT NQD là phù hợp với điều kiện và khả năng về
vốn, kỹ thuật cũng nh trình độ quản lý của các nhà đầu t trong nớc. Đồng thời
nó có khả năng linh hoạt và dễ điều chỉnh hơn so với các doanh nghiệp có quy
mô lớn trong nền kinh tế thị trờng ở nớc ta. Do vậy, khối lợng vốn để hỗ trợ cho
từng doanh nghiệp sẽ không lớn hiệu quả sử dụng vốn cao và thời gian thu hồi
vốn nhanh. Tuy nhiên khu vực KT NQD cũng có không ít đặc điểm mang tính
hạn chế, cần phải chú ý tới khi xây dựng mối quan hệ tín dụng với họ.
1.3.1.4 Dễ dàng tạo lập sự phát triển cân đối giữa các vùng của đất nớc.
Các doanh nghiệp ngoài quốc doanh với sự tạo lập dễ dàng có thể phát
triển rộng rãi ở mọi vùng của đất nớc tạo ra các sản phẩm phong phú và đa
dạng và phát triển cân đối giữa các vùng của đất nớc. Khối lợng kinh doanh có
thể đáp ứng tốt nhu cầu của địa phơng, từng vùng. Bên cạnh đó khu vực KT
NQD có xu hớng tập trung phát triển ở các đô thị lớn nh Hà Nội, Hải phòng,
Tài chính doanh nghiệp 41B
12
Luận văn tốt nghiệp Nguyễn Thị Ngọc Hà
Thành phố Hồ Chí Minh ch a phát triển ở các tỉnh miền núi, trung du dù
rằng ở những nơi này có nhiều nguồn nguyên liệu để phát triển.
1.3.1.5 Hạn chế về vốn.
Hiện nay các DN NQD đang gặp phải một cản trở rất lớn đến sự phát
triển sản xuất và mở rộng kinh doanh là tình trạng thiếu vốn. Trong khi đó họ
thờng chiếm một tỷ trọng lớn trong số những ngời xin vay vốn Ngân hàng. Do
vậy các Ngân hàng thơng mại phải có sự chú ý đặc biệt tới tình hình tài chính
trong cho vay đối với khu vực này.
Mặc dù thị trờng chứng khoán đã đi vào hoạt động đợc hơn 2 năm nhng
cha thực sự trở thành thị trờng vốn dài hạn và ổn định cho các doanh nghiệp
thuộc khu vực. Đồng thời hạn chế về nguồn vốn là nguyên nhân cơ bản dẫn tới
những khó khăn khác cho các doanh nghiệp nh về công nghệ lạc hậu, trình độ
công nhân thấp, khả năng cạnh tranh.
1.3.1.6. Tâm lý đầu t, ý chí kinh doanh của các chủ doanh nghiệp ngoài
quốc doanh còn thấp.
Đa phần chủ doanh nghiệp trong nớc thuộc các thành phần KT NQD cha
đợc đào tạo một cách bài bản, trình độ đội ngũ quản lý các kỹ s bậc cao, trình
độ ngời lao động thấp, thiếu kinh nghiệm tổ chức quản lý, khả năng thâm nhập
thị trờng, trình độ trang bị sản xuất thấp. Hiện nay các nhà đầu t cha mạnh dạn
đầu t. Vì vậy họ đang gặp khó khăn trong việc tiếp cận các nguồn lực nhằm tổ
chức, quản lý, nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh.
1.3.1.7. Một số Doanh nghiệp ngoài quốc doanh cha xác định đợc rõ hớng
sản xuất kinh doanh.
Không ít doanh nghiệp thụ động do thiếu trình độ mà không xây dựng đ-
ợc kinh doanh dài hạn, không xác định đợc rõ hớng sản xuất kinh doanh nên
thờng đăng ký kinh doanh nhiều chức năng để dự phòng để thay đổi ngành
nghề kinh doanh dễ dàng. Còn có tình trạng kinh doanh sai chức năng, không
có địa chỉ cố định, thay đổi sáng lập viên, tạm ngừng kinh doanh, giải thể nhng
không báo cáo với cơ quan có thẩm quyền.
Tài chính doanh nghiệp 41B
13
Luận văn tốt nghiệp Nguyễn Thị Ngọc Hà
1.3.1.8 Việc thực hiện pháp lệnh về tài chính và thống kê của Nhà nớc cha
nghiêm.
Các DN NQD gặp khó khăn trong việc xây dựng kế hoạch tài chính,
phản ánh sản xuất kinh doanh khả thi trong khi thói quen sử dụng các dịch vụ t
vấn mang tính chuyên nghiệp cha thành. Do việc lập kế hoạch tài chính xây
dựng phơng án sản xuất có hiệu quả phụ thuộc vào nhiều nhân tố: trình độ khả
năng quản lý kinh doanh, khả năng dự đoán những biến động của thị trờng .
Hiện nay các sổ sách các doanh nghiệp lập ra nhằm để đối phó và đều
cha đợc kiểm toán. Do vậy việc đánh giá các chỉ tiêu tài chính từ các báo cáo
tài chính của doanh nghiệp là thiếu chính xác. Ngân hàng thực sự khó khăn
trong việc đánh giá năng lực tài chính của doanh nghiệp để đa ra quyết định
cho vay hay không.
Tính không ổn định của các quy định luôn thay đổi và không đợc báo trớc
đã tạo tâm lý thiếu yên tâm đầu t, còn nhiều quy định mang tính phân biệt đối xử
giữa các doanh nghiệp nhà nớc và DN NQD rõ nhất là lĩnh vực đất đai, tín
dụng Ngoài ra, DN NQD gặp khó khăn về vấn đề đất đai trong đó có thủ tục
xin cấp quyền sử dụng đất nh nhau. Trong trờng hợp thuê đất doanh nghiệp phải
trả tiền thuê đất cao gấp nhiều lần so với doanh nghiệp nhà nớc. Sự không bình
đẳng này dẫn tới những vấn đề cấp đất, cấp quyền sử dụng đất, gây thất thoát cho
ngân sách Nhà nớc.
Để khu vực KT NQD phát triển, góp phần phát triển kinh tế đất nớc, các vớng
mắc trong cơ chế tín dụng cần đợc tháo gỡ hơn nữa.
1.3.2. Nguyên nhân phát sinh rủi ro cho vay của Ngân hàng thơng mại đối
với khu vực Kinh tế ngoài quốc doanh.
Các nguyên nhân có thể dẫn đến rủi ro cho vay của các NHTM đối với
doanh nghiệp của khu vực Kinh tế ngoài quốc doanh có thể đợc xem xét trên
các khía cạnh sau:
1.3.2.1. Thông tin không cân xứng.
Tài chính doanh nghiệp 41B
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét