3.2.2.1. Đàm phán v ớ i đ ối tác Mỹ Error! Bookmark not defined.
3.2.2.2. Đàm phán v ớ i đ ối tác Nhật Bản Error! Bookmark not defined.
3.2.2.3. Đàm phán v ới một số n ướ c khác Error! Bookmark not defined.
KẾT LUẬN 33
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO Error! Bookmark not defined.
BẢNG PHÂN CÔNG NHIỆM VỤ Error! Bookmark not defined.
CHƯƠNG I:CƠ SỞ LÝ LUẬN
1.1. Khái niệm đàm phán trong kinh doanh
Đàm phán trong kinh doanh là phương tiện cơ bản để đạt được cái mà ta mong
muốn từ người khác. Đó là quá trình giao tiếp có đi có lại được thiết kế nhằm thỏa
thuận trong khi giữa ta và bên kia có những quyền lợi có thể chia sẻ và có những
quyền lợi đối kháng
Francois de Cailere, một nhà đàm phán, thương thuyết nổi tiếng của Pháp
ngay từ năm 1716 đã khẳng định: “Một nhà đàm phán kinh doanh giỏi phải là người
mềm dẻo như ngọn cỏ và cũng phải cứng rắn như một khối đá. Người đó phải có
phản xạ ứng xử nhanh nhậy và phải là người biết lắng nghe, lịch sự và có thể đem
lại cảm giác dễ chịu cho đối tác. Song đồng thời cũng phải biết tranh luận, thuyết
phục bằng cách biết hé lộ, đưa ra những thông tin có vẻ là bí mật đối với người
khác”.
1.2. Các hình thức đàm phán
1 Do đàm phán là quá trình có tính mục đích nên trong thực tế có rất nhiều
cách được thể hiện để đàm phán. Nói chung lại có thể chia đàm phán theo hình thức
thể hiện, gồm đàm phán bằng văn bản, đàm phán bằng gặp mặt và đàm phán qua
điện thoại.
2 Trong kinh doanh, mỗi một hình thức đàm phán được sử dụng phát huy
những hiệu quả rất rõ rệt nếu doanh nhân biết sử dụng chúng đúng nơi, đúng lúc.
3 1.2.1. Đàm phán bằng văn bản
Các dạng đàm phán bằng văn bản thường thấy trong hoạt động kinh doanh
1.2.1.1. Hỏi giá
Do người mua đưa ra và không ràng buộc người hỏi phải mua
1.2.1.2. Chào hàng
1 Chào hàng cố định: Người chào hàng bị ràng buộc với chào hàng của mình
trong thời hạn hiệu lực của chào hàng.
1 Chào hàng tự do: Người chào hàng không bị ràng buộc với chào hàng của
mình.
1.2.1.3. Đổi giá
Đổi giá xảy ra khi một bên từ chối đề nghị của bên kia và đưa ra đề nghị mới.
Khi đó đề nghị mới trở thành chào hàng mới và làm cho chào hàng cũ hết hiệu lực.
1.2.1.4. Chấp nhận
Một chấp nhận có hiệu lực phải đảm bảo:
- Hoàn toàn, vô điều kiện.
- Khi chào hàng vẫn còn hiệu lực.
- Do chính người được chào hàng chấp nhận.
- Được truyền đạt đến tận người chào hàng.
1.2.1.5. Xác nhận
Là việc khẳng định lại những điều thỏa thuận cuối cùng giữa các bên để tăng
thêm tính chắc chắn và phân biệt với những đàm phán ban đầu.
4) 1.2.2. Đàm phán bằng gặp mặt và điện thoại
1.2.2.1. Bắt tay
Bắt tay khi gặp mặt và chia tay nhau trong cùng một ngày tại cùng một địa
điểm hoặc khi bày tỏ sự chúc mừng người khác.
Các nguyên tắc bắt tay thông dụng:
1 Người chìa tay ra trước: Phụ nữ, người lớn tuổi, người chức vụ cao, chủ nhà.
1 Cần tránh đeo găng tay, bóp quá mạnh, cầm tay hờ hững, lắc quá mạnh, giữ
quá lâu.
1 Mắt nhìn thẳng, tập trung, nét mặt vui vẻ.
1 Giới thiệu: giới thiệu trẻ với già, người địa vị xã hội thấp với người địa vị xã
hội cao, nam với nữ, khách với chủ…
1.2.2.2. Trao và nhận doanh thiếp
Khi trao và nhận danh thiếp cần chú ý:
- Đưa mặt có chữ dể đọc.
- Không cầm cả hộp đựng danh thiệp để trao.
- Đưa bằng hai tay.
- Vừa đưa vừa giới thiệu họ tên mình.
- Trao cho tất cả những người có mặt.
Khi nhận danh thiếp cần chú ý:
- Nhận bằng hai tay với thái độ trân trọng, tránh hờ hững, tránh vồ vập.
- Cố gắng nhớ tên và chức vụ của người trao rồi mới cất đi.
- Trao danh thiếp của mình.Nếu không có thì phải xin lỗi, hẹn lần sau.
1.2.2.3. Ứng xử với phụ nữ
Luôn tỏ ra quan tâm, săn sóc, tôn trọng, và giúp đỡ.
Ví dụ:
- Lối đi hẹp, nhường phụ nữ đi trước.
- Chỗ khó đi, phải đi trước mở đường.
- Phải để phụ nữ chủ động khoác tay chổ quảng đường khó đi.
- Lên cầu thang phải để phụ nữ đi sau, xuống cầu thang phụ nữ đi trước.
- Kéo ghế mời phụ nữ ngồi.
- Muốn hút thuốc phải xin lỗi.
- Không chạm vào người phụ nữ khi chưa được phép, nhưng phụ nữ được
quyền chạm vào nam giới mà không cần xin phép.
1.2.2.4. Thăm hỏi
Nếu muốn thăm hỏi, cần báo trước xin được thăm hỏi, nếu tặng hoa thì tặng
tận tay, nếu tặng quà thì chỉ để trên bàn. Đến và ra về đúng giờ đã hẹn.
1.2.2.5. Tiếp chuyện
Trong phòng khách xếp ghế nệm dài, chủ nhà bên trái, khách bên phải, những
người khác lần lượt ngồi các ghế tiếp theo theo thứ tự trên dưới theo vị trí xuất khẩu
hay tuổi tác. Không rung đùi hay nhìn ngang liếc dọc, không lấy thứ gì ra xem khi
chủ nhà không giới thiệu.
1.2.2.6. Điện thoại
- Người gọi tự giới thiệu mình là ai ? Ở đâu ? Lý do gọi ?
- Người nhận thể hiện sự sẵn lòng nghe.
- Hãy mỉm cười khi nói chuyện điện thoại.
- Khi cần giữ máy, hãy chứng tỏ mình đang cần máy. Nếu cần giữ máy quá lâu
thì hãy yêu cầu người gọi xem mình có thể gọi lại cho họ không ?
- Sẵn sàng ghi chép khi điện thoại.
- Để người gọi kết thúc cuộc nói chuyện.
1.3. Nguyên tắc đàm phán thành công
1 Ấn tượng ban đầu
Không nên đối đầu ngay với đối tác đàm phán bằng những yêu cầu đòi hỏi.
Trước hết phải tạo ra một không khí tin cậy, dễ chịu bằng một vài câu nói mang tính
cá nhân bằng cử chỉ và thái độ vui vẻ, dễ chịu. Bạn luôn nhớ rằng sẽ không bao giờ
có cơ hội lần thứ hai để gây ấn tượng ban đầu. Sau đó bạn sẽ bắt đầu nói về chủ đề
nội dung mà bạn định đàm phán, thương thuyết đối với đối tác.
1 Chú ý tới các cử chỉ, thái độ và các động tác của cơ thể khi đàm phán
Ít nhất một nửa thông tin định truyền đạt trong đàm phán được thông qua và
tiếp nhận qua các cử chỉ, thái độ và động tác của cơ thể bạn. Ít nhất một phần ba
thông tin được tiếp nhận thông qua tiếng nói, giọng điệu và cách nói của người đàm
phán. Một gương mặt hồ hởi, thái độ cởi mở sẽ nhanh chóng tạo nên thiện cảm từ
phía đối tác đàm phán, ý thức đánh giá cao, coi trọng đối tác của người đàm phán sẽ
thể hiện ngay trong cách thể hiện, giọng điệu và cách nói. Chỉ có thể đàm phán và
thuyết phục thành công nếu tự người đàm phán không có ý thức và cảm giác mình
sẽ hoặc đang đóng kịch với đối tác.
1 Phải xác định rõ mục tiêu đàm phán và luôn luôn bám sát theo đuổi mục tiêu
này trong suốt quá trình đàm phán
Trước khi vào cuộc đàm phán thương thuyết người đàm phán phải cố gắng
chia tách mục tiêu cuối cùng của mình thành những mục tiêu nhỏ mà mình phải trao
đổi với đối tác và đạt được kết quả. Nếu càng có nhiều mục tiêu cụ thể và luôn theo
đuổi những mục tiêu này trong quá trình đàm phán thì kết quả cuối cùng của đàm
phán càng nhanh chóng đạt được.
1 Người đàm phán tốt phải biết rèn cho mình có khả năng lắng nghe đối tác
nói
Người ta nói rằng người thắng cuộc bao giờ cũng là người biết lắng nghe. Chỉ
có ai thật sự quan tâm chú ý lắng nghe đối tác đàm phán với mình nói gì, muốn gì
thì người đó mới có những phản ứng, lý lẽ phù hợp có lợi cho mình. Khi nghe đối
tác trình bày cần phải biết phân biệt tâm trạng, thái độ của họ. Xem họ có biểu hiện
trạng thái quá hưng phấn, bất đồng, ức chế hay bực bội không. Cũng có thể đối tác
đàm phán đang muốn lôi kéo, cuốn hút về một hướng khác và tìm cách khai thai
thác thêm thông tin.
1 Phải biết trình bày, sử dụng từ ngữ một cách khôn khéo, linh hoạt
Đừng bao giờ nói rằng vấn đề này mình có quan điểm khác mà nên nói rằng về
cơ bản mình cũng nghỉ như vậy nhưng chỉ muốn nhấn mạnh thêm điều này, đừng
nói thẳng rằng đối tác có cách nhìn nhận sai lầm mà nên nói đó cũng là cách nhìn
nhận đúng nhưng chúng ta cũng thử lật lại vấn đề một lần nữa xem sao. Đừng bao
giờ nói hàng hóa, dịch vụ của mình là rẻ vì rẻ thường đem lại ấn tượng hay suy diễn
không tốt về chất lượng. Khi đang tranh cãi, đàm phán về giá cả thì đừng nói: chúng
ta sẽ không đạt được kết quả nếu chỉ đàm phán về giá mà nên chuyển hướng. Trước
khi tiếp tục đàm phán về giá cả chúng ta nên trao đổi xem xét thêm chất lượng, hình
thức của hàng hóa, phương thức thanh toán…
1 Người đàm phán kinh doanh phải biết hỏi nhiều thay vì nói nhiều
Người nào hỏi nhiều thì người đó sẽ có lợi thế, không chỉ về thông tin mà cả
về tâm lý, về tính chủ động trong đàm phán. Những câu hỏi hợp lý khéo léo sẽ
chứng minh cho đối tác là mình luôn luôn lắng nghe, quan tâm đến điều họ đang
nói. Chính trong thời gian lắng nghe bạn có thể phân tích, tìm hiếu các động cơ, ý
muốn của đối tác đàm phán.
Tùy từng trường hợp có thể đặt câu hỏi trực tiếp hay gián tiếp, câu hỏi trực
tiếp thường được đặt ra khi mới bắt đầu đàm phán, các câu hỏi gián tiếp cũng có thể
là câu hỏi đón đầu, thường sử dụng ở những giai đoạn sau của cuộc đàm phán. Khi
cần làm rõ hay khẳng định một điều gì nên đặt câu hỏi sao cho đối tác chỉ cần trả lời
có hay không. Tất nhiên phải thận trọng nếu đặt nhiều câu hỏi dạng này sẽ gây cho
đối tác cảm giác bực mình, khó chịu.
1 Người đàm phán cần phải biết mình có thể được phép đi tới đâu, tự do đàm
phán trong giới hạn nào
Đâu là điểm thấp nhất mà mình có thể chấp nhận được, đâu là điểm mình không bao
giờ được thay đổi theo hướng có lợi cho đối tác. Biết được giới hạn đàm phán, tức là sẽ
biết được thời điểm phải ngừng hay chấm dứt đàm phán và chuyển hướng, tìm phương án
giải quyết khác. Không phải cuộc đàm phán thương mại nào cũng dẫn đến ký hợp đồng
thương mại. Người có khả năng đàm phán tốt phải là người có đủ dũng cảm và quyết đoán,
không chịu ký kết một hợp đồng kinh doanh nếu có thể gây bất lợi cho mình. Để đàm phán
thành công không nên thực hiện cứng nhắc theo nguyên tắc “được ăn cả, ngã về không”.
Để thành công trong đàm phán kinh doanh cần có một ý thức, tư duy sẵn sàng thỏa
hiệp nếu cần thiết
Có khi một món quà nhỏ, một sự nhường nhịn, chấp nhận nhỏ cho đối tác thì
có thể đem lại cho bạn cả một hợp đồng kinh doanh béo bở.
Đàm phán kinh doanh là một quá trình thường xuyên phải chấp nhận “cho và
nhận”, phải cân nhắc so sánh, phải tranh luận và chờ đợi. Đừng nên để xuất hiện
cảm giác lộ liễu có người thắng và người thua sau cuộc đàm phán kinh doanh, nếu
như bạn còn tiếp tục kinh doanh với đối tác đó. Kết quả đàm phán là cả hai bên đều
có lợi, là sự trao đổi tự nguyện của cả hai bên vì vậy khi đàm phán không chỉ chú ý
cứng nhắc một chiều quyền lợi, mục đích riêng của một bên mà phải chú ý đến nhu
cầu của cả bên kia
1 Để tránh cho những hiểu lầm vô tình hay hữu ý và để tránh nội dung đàm
phán, thương thuyết bị lệch hướng, nhà đàm phán phải biết nhắc lại kết luận những
điểm đã trao đổi, thống nhất giữa hai bên trước khi chuyển sang nội dung đàm phán
mới
Làm được điều đó tức là nhà đàm phán đã chủ động điều tiết buổi thương
thuyết. Những điểm chưa rõ có thể sẽ được giải quyết khi được nhắc lại, nếu khéo
léo thì nhà thương thuyết có thể đưa cả hướng giải quyết cho điểm nội dung đàm
phán tiếp theo. Thực hiện việc nhắc lại và tóm tắc từng nội dung đã đàm phán sẽ
giúp cho nhà thương thuyết luôn luôn không xa rời mục tiêu đàm phán, quá trình
đàm phán trở nên có hệ thống, bài bản và là cơ sở cho những lần đàm phán tiếp
theo.
1.3. Các phương pháp đàm phán
NỘI DUNG KIỂU MỀM KIỂU CỨNG NGUYÊN TẮC
Đối tác Bằng hữu, bạn bè Đối thủ Là những cộng sự
Mục tiêu Đạt thỏa thuận, giữ
mối quan hệ
Giành được thắng
lợi
Giải quyết công
việc hiệu quả
Xuất phát điểm Nhượng bộ để xây
dựng mối quan hệ
Đòi hỏi bên kia
nhượng bộ
Tách con người
khỏi vấn đề
Thái độ Ôn hòa Cứng rắn Luôn thể hiện sự
mềm mỏng với đối
tác, cứng rắn trong
giải quyết vấn đề
Lập trường Dễ thay đổi Giữ vững lập
trường
Chú ý lợi ích không
ở lập trường
Phương pháp Đề xuất kiến nghị Uy hiếp đối tác Cùng tìm kiếm lợi
ích chung
Phương án Tìm phương án đối
tác có thể chập nhận
Tìm phương án có
lợi cho mình
Tìm nhiều phương
án để hai bên lựa
chọn
Biểu hiện Chú ý tránh xung
đột
Tranh đua sức mạnh
ý chí
Căn cứ vào tiêu
chuẩn khách quan
để đạt sự thỏa thuận
Kết quả Nhượng bộ trước áp
lực của đối tác
Gây áp lực khiến
bên kia phải khuất
phục hoặc đỗ vỡ
Công khai lý lẽ,
nhượng bộ trước
chứ không khuất
phục sức ép
1.4. Các giai đoạn đàm phán
1 1.4.1. Chuẩn bị đàm phán
a. Thu thập thông tin về thị trường
- Luật pháp và tập quán buôn bán.
- Đặc điểm nhu cầu trên thị trường.
- Các loại thuế và chi phí.
- Các nhân tố chính và vai trò xã hội.
- Các điều kiện về khí hậu và thời tiết.
b. Thu thập thông tin về đối tượng kinh doanh
Đối tượng kinh doanh có thể là hàng hóa, dịch vụ, nhà đất… cần tìm hiểu đầy
đủ các thông tin về nó, chẳng hạn:
- Công dụng và đặc tính.
- Xu hướng biến động cung cầu và giá cả.
- Các chỉ tiêu về số lượng và chất lượng.
c. Thu thập thông tin về đối tác
- Mục tiêu, lĩnh vực hoạt động và các khả năng.
- Tổ chức nhân sự: tìm hiểu quyền hạn bên kia, ai là người có quyền quyết
định.
- Lịch làm việc: nếu nắm được lịch làm việc của bên kia, có thể sử dụng yếu
tố thời gian để gây sức ép.
- Xác định nhu cầu, mong muốn của đối tác sơ bộ định dạng đối tác.
d. Thu thập thông tin về đối thủ cạnh tranh
Cần nhận biết đối thủ cạnh tranh của mình là ai để có những biện pháp khắc
phục và cạnh tranh lại. Từ đó đánh giá những điểm mạnh và điểm yếu của mình so
với đối thủ cạnh tranh trên thị trường và trông quan điểm của đối tác.
1 1.4.2. Đề ra mục tiêu
Mục tiêu càng cụ thể càng tốt, và đương nhiên phải tính đến các yếu tố như:
tính thực tế, mối quan hệ giửa kết quả và chi phí, mức độ chấp nhậ doanh nghiệp
có thể lựa chọn:
- Một mục tiêu cao nhất, kết quả có thể đạt được tốt nhất
- Một mục tiêu thấp nhất, kết quả thấp nhưng vãn chấp nhận được.
- Một mục tiêu trọng tâm, cái mà bạn thực sự mong muốn được giải quyết.
14)1.4.3. Chuẩn bị nhân sự
- Thành viên trong đoàn đàm phán.
- Trưởng đoàn, chuyên viên pháp lý, kĩ thuật, thương mại, phiên dịch (nếu
cần).
14)1.4.4. Lựa chọn chiến lược, chiến thuật
1.4.4.1. Lựa chọn kiểu chiến lược
a. Chiến lược “cộng tác”
Sự tiếp cận của người đàm phán đối với xung đột là giải quyết nó nhưng vẫn
giữ được quan hệ cá nhân và đảm bảo cả 2 bên đều đạt được mục đích của mình.
Quan điểm với xung đột là những hành động cá nhân không chỉ đại diện cho lợi ích
của bản thân mà còn đại diện cho lợi ích của bên đối kháng. Khi nhận thấy xung đột
tồn tại, người đàm phán sử dụng phương pháp giải quyết xung đột để chế ngự tình
hình. Đây là cách giải quyết mang tính cộng tác mà cả 2 bên đều giử quan điểm “
thắng-thắng”, tuy nhiên nó cũng đòi hỏi thời gian, nghị lực và sáng tạo.
b. Chiến lược “thỏa hiệp”
Khi nhận thấy 1 giải pháp để đạt dược kết quả “thắng-thắng” là không có thể.
Người đàm phán hướng tới 1 kết quả bao gồm 1 phần nhỏ thắng lợi và 1 phần nhỏ
thua thiệt, cả 2 đều liên quan đến mục tiêu và quan hệ của các bên. Sự thuyết phục
và lôi kéo có ảnh hưởng lớn đến kiểu này. Mục đích là tìm ra 1 số cách có thể dùng
được chấp nhận mà nó phần nào làm hài lòng cả 2 bên. Tình thế thỏa hiệp có nghĩa
là cả 2 bên chấp nhận và thực hiện 1 quan điểm “ thắng ít-thua ít”.
c. Chiến lược “hòa giải”
Cách tiếp cận của người đàm phán đối với xung đột là cần phải duy trùy các
mối quan hệ cá nhan bằng bất cứ giá nào, có liên quan ít hoặc không liên quan gì
đến mục đích của các bên. Nhượng bộ, thỏa hiệp vô nguyên tắc và tránh xung đột
được nhìn nhận như là cáh bảo vệ quan hệ. đây là sự chịu thua hoặc kết quả “thua-
thắng”, ,mà quan điểm của người đàm phán là chịu thua, cho phép bên kia thắng.
d. Chiến lược “kiểm soát”
Người đàm phán tiếp cận với xung đột là để nắm được những bước cần thiết
và đảm bảo thỏa mãn được muc đích của cá nhân cho dù tiêu phí mối quan hệ. xung
đột được xem như là lời tuyên bố thắng, cần thắng lợi bằng bất cứ cách nào. Đây là
1 cách giải quyết mà người đàm phán sử dụng bất cứ sức mạnh nào xem như thích
hợp để bảo vệ một quan điểm mà họ tin đúng hoặc cố gắng thắng.
e. Chiến lược “tránh né”
Người đàm phán xem xét xung đột là những cái phải tránh xa bằng mọi giá.
Chủ đề trung tâm của kiểu này là lảng tránh, nó tạo ra kết quả là hoàn tồn cho các
bên liên quan. Mục đích của các bên không được đáp ứng, mà cũng không duy trùy
được mối quan hệ. kiểu này có tạo hình thức ngoại giao để làm chênh lệch một vấn
đề, hỗn lại một vấn đề cho đến lúc thuận lợi hơn, hoặc đơn giản là rút lui khỏi một
tình huống đang bị đe dọa. Đây là quan điểm rút lui “thua-thắng”, mà trong đó quan
điển của người đàm phán là rút lui, chấp nhận thua, cho phép bên kia thắng trong
danh dự.
1.4.4.2. Lựa chọn chiến thuật
a. Địa điểm đàm phán
- Đàm phán chủ trường: được tiến hành tai văn phòng của mình.
- Đàm phán khách trường: được tiến hành tại cơ sở của khách hàng.
- Đàm phán trung lập: được tiến hành ở địa điểm trung lập.
b. Thời gian đàm phán
- Cần có thời gian để giải lao.
- Thời gian trống cho phép trưởng đoàn và chuyên gia có ý kiến tham mưu,
hay trưởng doàn 2 bên tham khảo ý kiến nhau.
- Chú ý về tập quán về thời gian làm việc ở mỗi nơi.
- Hiệu quả làm việc của con người thay đổi theo thời gian và nhiệt độ, thời
tiết.
c. Thái độ đàm phán
Thái độ đơn giản và thẳng thắn: Là thái độ “nói cho nhanh, cho đỡ tốn thì
giờ”, trình bày thẳng vào vấn đề. Nó có tác dụng tước vũ khí của bên kia và nhanh
chóng đi đến thỏa thuận.
Chỉ sử dụng khi:
1 Đã quen thuộc bên kia.
1 Cuộc đàm phán đang bị bế tắc, cần được gỡ ra càng sớm càng tốt.
1 Sức ép về thời gian không cho phép kéo dài thời gian đàm phán, buộc phải
kết thúc đàm phán ngay.
Thái độ gây sức ép và cương quyết: Là thái độ đề cập mạnh, xuyên qua các
vấn đề nhạy cảm, cần thực hiện hết sức tinh tế, vì nếu bên kia biết được họ sẽ rất
khó chịu.
Được sử dụng khi:
1 Ta ở thế mạnh hơn.
1 Phía bên kia cần kết thúc sớm.
1 Ta muốn khoanh vùng giới hạn đàm phán.
Thái độ thờ ơ, xa lánh: Là thái độ tỏ ra không quan tâm đến sức mạnh của đối
tác, sử dụng tâm lý ngược đối với bên kia, tránh cho bên kia nghĩ là họ hớ hênh.
Thái độ này làm cho đối tác bối rối không biết được tình hình của mình thế nào.
Chỉ sử dụng khi:
1 Phía bên kia họ mạnh hơn.
1 Ta đang chịu sức ép thời gian.
1 Ta đã có giải pháp thay thế
14)1.4.2. Mở đầu đàm phán.
1.4.2.1. Tạo không khí đàm phán
Nếu xuất phát từ góc độ có lợi cho việc đạt được thỏa thuận, nên tạo được một
bầu không khí tin cậy lẫn nhau, thành thật hợp tác.
Cố gắng xây dựng một mối quan hệ tốt với phía bên kia ngay từ giây phút gặp
mặt, dù bạn đã biết hoặc không biết họ trước đó. Một vài câu chuyện "xã giao" ban
đầu sẽ là những cầu nối làm quen có hiệu quả trong hòan cảnh này.
1.4.2.2. Đưa ra những đề nghị ban đầu
Sự tiến triển của cuộc đàm phán bị ảnh hưởng lớn vào những đề nghị ban đầu
của 2 bên vì một số lí do sau:
1 Nó truyền đạt thông tin về thái độ, nguyện vọng, sự quan tâm và nhận thức
của bên kia và những vấn đề bất đồng.
1 Nó có khả năng tiếp tục tạo bầu không khí trong đàm phán.
1 Nó có thể được sử dụng để các bên thăm dò tình hình của phía bên kia trước
khi đưa ra quyết định của mình.
1 Nó có thể được các bên sử dụng để thiết lập vùng đàm phán.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét