Chủ Nhật, 16 tháng 2, 2014
37 Nâng cao hiệu quả đánh giá rủi ro trong quá trình kiểm toán năm đầu tiên, số dư đầu năm do VACO thực hiện
Tuy nhiên, do kiểm toán viên có thể vận dụng những hiểu biết về khách hàng và
có kinh nghiệm trong các lần kiểm toán trớc nên có thể giảm bớt một số thủ tục
nhất định.
Do đó, kiểm toán Báo cáo tài chính năm đầu tiên đợc đánh giá là có mức độ
rủi ro cao hơn bình thờng. Chính mức độ rủi ro đó đã chi phối toàn bộ cuộc kiểm
toán, cụ thể chi phối việc áp dụng các phơng pháp kiểm toán nhằm thu thập bằng
chứng kiểm toán đầy đủ và hợp lý. Nhng rủi ro là gì và rủi ro kiểm toán cần phải
đợc hiểu nh thế nào? Những thắc mắc đó sẽ đợc trình bày cụ thể ở phần tiếp sau
đây.
1.1.2- Rủi ro và qui trình đánh giá rủi ro trong kiểm toán Báo cáo tài
chính năm đầu tiên
1.1.2.1- Khái niệm rủi ro:
Xét trên phơng diện chung nhất: rủi ro ám chỉ một số hình thức không chắc
chắn về hậu quả của một tình huống nhất định. Tạm thời cha nói đến ý nghĩa của
từ không chắc chắn, chúng ta thờng hiểu rõ mình định nói gì khi dùng thuật ngữ
rủi ro trong câu chuyện hằng ngày. Một sự kiện có thể xảy ra, nếu nó xảy ra sẽ
không có lợi cho chúng ta, hoặc không phải là kết quả mà chúng ta mong đợi. Từ
rủi ro không những ám chỉ mối ngờ vực về tơng lai mà còn ám chỉ cả một thực tế
là hậu quả có thể khiến cho chúng ta lâm vào hoàn cảnh khó khăn hơn hiện tại.
ở nhiều nớc đã đa ra một số định nghĩa về rủi ro và thờng kèm theo những
cuộc tranh luận để khẳng định quan điểm của mình là đúng đắn. Sau đây là một số
quan điểm đợc chọn lọc từ cuốn sách Bảo hiểm quốc tế, nguyên tắc và thực
hành:
Rủi ro là khả năng xảy ra một số sự cố không may.
Rủi ro là sự kết hợp các nguy cơ.
Rủi ro là sự không thể đoán trớc một tình huống, một khuynh hớng dẫn
đến kết quả thực tế khác với kết quả dự đoán.
Rủi ro là sự không chắc chắn về tổn thất.
Rủi ro là khả năng xảy ra tổn thất.
(Học viện Bảo hiểm Hoàng gia Anh xuất bản năm 1993) (
13,17
).
Khi nghiên cứu các định nghĩa này dờng nh có mối liên hệ giữa chúng với nhau:
- 5 -
Thứ nhất, các định nghĩa đều đề cập đến sự không chắc chắn mà chúng ta
coi là mối ngờ vực đối với tơng lai.
Thứ hai, ở đây ngời ta cũng ám chỉ rằng những cấp độ hay mức rủi ro là
khác nhau. Việc sử dụng những từ nh: khả năng và không thể đoán trớc đợc
dờng nh để chỉ ra mức độ nào đó về sự không chắc chắn do có mối ngờ vực
nói trên.
Thứ ba, các định nghĩa đều nói đến hậu quả do một hay nhiều nguyên nhân
gây ra. Điều này dờng nh có mối quan hệ chặt chẽ với định nghĩa mà
chúng ta đã sử dụng trớc đó, theo định nghĩa này rủi ro là không chắc chắn
về hậu quả trong một tình huống cụ thể.
ở Việt Nam, theo Từ điển Bách khoa Việt Nam Hội đồng ban chỉ đạo biên
soạn từ điển Bách Khoa Việt Nam (Tập 3 2003) thì:
"Rủi ro: là hậu quả gây thiệt hại ít nhiều có thể dự kiến đợc của một hành vi
mà việc thực hiện không chỉ phụ thuộc vào ý chí của các bên đơng sự. Ngời thực
hiện hành vi phải chịu trách nhiệm về thiệt hại gây nên cho ngời kia"(
14, 859
).
Trên thực tế, các hoạt động kinh tế thờng gặp những rủi ro đặc trng. Mỗi
ngành nghề có một rủi ro riêng, chẳng hạn: rủi ro hối đoái, rủi ro đầu t, rủi ro kinh
doanh và kiểm toán cũng không nằm ngoài quy luật đó.
Theo Uỷ ban Thực hành Kiểm toán quốc tế (IAPC) thuộc Liên đoàn Kế toán
quốc tế IFAC thì rủi ro kiểm toán đợc hiểu nh sau: Rủi ro kiểm toán là khả năng
mà kiểm toán viên đa ra ý kiến không xác đáng về đối tợng đợc kiểm toán.
Chẳng hạn, kiểm toán viên đa ra ý kiến rằng Báo cáo tài chính của đơn vị đựơc
thực hiện trung thực và hợp lý dựa trên các khía cạnh trọng yếu, tuy nhiên trên
thực tế các Báo cáo tài chính đã đợc kiểm toán này vẫn tồn tại các sai phạm
trọng yếu mà kiểm toán viên không phát hiện trong quá trình kiểm toán "(
15, 23
).
Theo Chuẩn mực Kiểm toán Việt Nam số 400 thì: "Rủi ro kiểm toán là rủi ro
do kiểm toán viên và công ty kiểm toán đa ra ý kiến nhận xét không thích hợp
khi Báo cáo tài chính đã đợc kiểm toán còn có những sai sót trọng yếu. Rủi ro
kiểm toán bao gồm ba bộ phận: rủi ro tiềm tàng, rủi ro kiểm soát, rủi ro phát
hiện"(
6, 78
).
Nh vậy rõ ràng là các hiệp hội nghề nghiệp về kiểm toán, kế toán đều có
chung một nhận định về rủi ro kiểm toán. Rủi ro kiểm toán là rủi ro mà kiểm toán
viên khi đa ra kết luận là các Báo cáo tài chính đợc trình bày trung thực và hợp lý
- 6 -
dựa trên các khía cạnh trọng yếu, và đa ra ý kiến chấp nhận toàn phần, trong khi
trên thực tế thì chúng có những sai sót trọng yếu. Rủi ro kinh doanh, theo bài này,
là rủi ro mà kiểm toán viên (hoặc công ty kiểm toán) sẽ phải chịu thiệt hại vì mối
quan hệ với khách hàng, cho dù báo cáo kiểm toán cung cấp cho khách hàng đó là
đúng.
1.1.2.2- Mô hình rủi ro kiểm toán:
Mô hình rủi ro kiểm toán trọng tâm bàn về các yếu tố cấu thành khác nhau
của mô hình và mối quan hệ của chúng với các nhu cầu về bằng chứng kiểm toán.
Nguồn gốc đầu tiên của mô hình rủi ro kiểm toán là văn bản chuyên môn SAS 39,
về chọn mẫu kiểm toán và SAS 47, về tính trọng yếu và rủi ro. Hình thức chủ yếu
của mô hình từ các văn bản này nh sau:
DAR = IR x CR x DR
Trong đó:
- DAR : Rủi ro kiểm toán mong muốn (Desire Audit Risk).
- IR : Rủi ro cố hữu (Inherent Risk).
- CR : Rủi ro kiểm soát (Control Risk).
- DR : Rủi ro phát hiện (Detection Risk).
Công dụng của mô hình:
Mô hình rủi ro kiểm toán đợc dùng khi lập kế hoạch kiểm toán theo một
hoặc cả hai cách. Một cách là mô hình rủi ro kiểm toán đợc dùng để giúp kiểm
toán viên đánh giá liệu kế hoạch kiểm toán có hợp lý hay không. Thí dụ, với một
cuộc kiểm toán khả dĩ, giả sử một kiểm toán viên tin rằng rủi ro cố hữu có thể sẽ
là 80%, rủi ro kiểm soát là 50%, và rủi ro phát hiện là 10%. Rủi ro kiểm toán tính
đợc sẽ là 4% (0,8 x 0,5 x 0,1). Nếu kiểm toán kết luận là rủi ro kiểm toán mong
muốn thích hợp đối với hợp đồng không thấp hơn 4% thì kế hoạch đó sẽ đợc chấp
nhận.
Mặc dù một kế hoạch kiểm toán nh trên có thể giúp kiểm toán viên tìm đợc
rủi ro kiểm toán có thể chấp nhận, nó có thể không hiệu quả. Để có đợc một kế
hoạch hiệu quả hơn, kiểm toán viên thờng sử dụng mô hình rủi ro kiểm toán theo
cách thứ hai để xác định rủi ro phát hiện và số lợng bằng chứng thích hợp phải thu
- 7 -
thập. Nhằm mục đích này, mô hình rủi ro kiểm toán đợc sử dụng theo công thức
sau:
Tiếp tục thí dụ trên, giả sử kiểm toán viên xây dựng tỷ lệ rủi ro kiểm toán
mong muốn là 5%, kế hoạch kiểm toán có thể đợc thay đổi để thu thập bằng
chứng phù hợp với một mức rủi ro phát hiện là 12%, vì 0,5 / (0,8 x 0,5) bằng
0.125. Sử dụng hình thức này của mô hình rủi ro, yếu tố chính là rủi ro phát hiện
và nó xác định số lợng bằng chứng cần thiết. Số lợng bằng chứng thích hợp có
quan hệ tỷ lệ nghịch với rủi ro phát hiện. Nhu cầu bằng chứng tăng lên khi rủi ro
phát hiện giảm xuống.
Cách thứ ba, thông dụng hơn, mà một số kiểm toán viên sử dụng mô hình
rủi ro kiểm toán là chỉ mối quan giữa các rủi ro khác nhau và mối quan hệ của
chúng với bằng chứng. Một sự hiểu biết về các mối quan hệ này là cần thiết để lập
kế hoạch thu thập bằng chứng thích hợp. Mỗi một yếu tố cấu thành mô hình rủi ro
kiểm toán đợc bàn đến một cách chi tiết trong phần dới đây.
Các yếu tố của mô hình rủi ro kiểm toán
Rủi ro kiểm toán mong muốn (DAR - Desire Audit Risk)
Rủi ro kiểm toán mong muốn là rủi ro đợc xác định một cách chủ quan mà
kiểm toán viên sẵn sàng cho rằng các Báo cáo tài chính đợc trình bày trung thực là
hợp lý dựa trên các khía cạnh trọng yếu khi kết thúc kiểm toán, và đa ra ý kiến
chấp nhận toàn phần. Khi kiểm toán viên quyết định một tỷ lệ rủi ro kiểm toán
mong muốn thấp hơn nghĩa là kiểm toán viên chắc chắn rằng: các Báo cáo tài
chính không bị sai phạm trọng yếu. Rủi ro bằng 0% là chắc chắn, và rủi ro bằng
100% là hoàn toàn không chắc chắn. Do đó, rủi ro có thể nằm trong khoảng giữa
0% và 100%.
Nhìn chung, rủi ro kiểm toán mong muốn là khả năng mà kiểm toán viên đa
ra ý kiến không xác đáng về đối tợng đợc kiểm toán. Chẳng hạn, kiểm toán viên đ-
a ra ý kiến rằng Báo cáo tài chính của đơn vị đợc kiểm toán đã trình bày trung thực
và hợp lý dựa trên các khía cạnh trọng yếu; Tuy nhiên, trên thực tế các báo cáo đã
DR =
DAR
IR x CR
- 8 -
đợc kiểm toán này vẫn còn tồn tại các sai phạm trọng yếu mà kiểm toán viên
không phát hiện ra trong suốt quá trình kiểm toán. Loại rủi ro nh vậy luôn luôn có
thể tồn tại, ngay cả khi cuộc kiểm toán đợc lập kế hoạch chu đáo và thực hiện một
cách thận trọng. Rủi ro này sẽ tăng lên nếu việc lập kế hoạch kiểm toán kém và
thực hiện thiếu thận trọng.
Kiểm toán viên có phải nỗ lực để có rủi ro kiểm toán thấp hơn trong một số tr-
ờng hợp nhất định? Các chuyên gia kiểm toán thì cho rằng một tỷ lệ rủi ro kiểm
toán thấp một cách hợp lý luôn luôn đợc mong đợi. Nhng trong một số trờng hợp,
một tỷ lệ rủi ro rất thấp đợc yêu cầu để bảo vệ cho ngời sử dụng Báo cáo tài chính
và cho kiểm toán viên. Nh vậy, rủi ro kiểm toán mong muốn phụ thuộc vào mức
độ ngời sử dụng bên ngoài tin vào các Báo cáo tài chính và khả năng khách hàng
sẽ gặp khó khăn về tài chính sau khi công bố Báo cáo tài chính.
Mức độ những ngời sử dụng tin vào các Báo cáo tài chính: Khi những
ngời bên ngoài đặt niềm tin vào các Báo cáo tài chính cao thì tỷ lệ rủi ro kiểm toán
mong muốn phải giảm mới thích hợp. Khi ngời sử dụng bên ngoài đặt niềm tin vào
các Báo cáo tài chính thì mức độ tác hại trên phạm vi toàn xã hội sẽ càng lớn nếu
có một sai sót không đợc phát hiện trên Báo cáo tài chính. Do vậy trong trờng hợp
này kiểm toán viên cần xác định một mức rủi ro kiểm toán thấp, từ đó tăng số lợng
bằng chứng kiểm toán cần thu thập và tăng độ chính xác trong các kết luận đa ra
của mình. Một số dấu hiệu quan trọng để giúp kiểm toán viên nhận ra mức độ ng-
ời sử dụng bên ngoài tin vào các Báo cáo tài chính:
Quy mô của công ty khách hàng: Nói chung hoạt động của khách hàng
càng lớn, các Báo cáo tài chính càng đợc sử dụng rộng rãi. Quy mô của
một doanh nghiệp khách hàng đợc đo lờng bằng tổng số tài sản hoặc tổng
thu nhập sẽ có một ảnh hởng lớn đến rủi ro kiểm toán mong muốn.
Sự phân phối quyền sở hữu: Các Báo cáo tài chính của các công ty sở hữu
công cộng thờng đựoc nhiều ngời sử dụng tin tởng hơn các Báo cáo tài
chính của các công ty có quyền sở hữu hẹp hơn.
Bản chất và quy mô của công nợ: Khi các Báo cáo tài chính có một số lợng
lớn các công nợ thì chúng có khả năng đợc sử dụng rộng rãi hơn bởi các
chủ nợ.
- 9 -
Khả năng khách hàng sẽ gặp khó khăn về tài chính sau khi công bố
báo cáo kiểm toán: Trong những tình huống mà kiểm toán viên tin rằng khách
hàng có nguy cơ gặp khó khăn về tài chính và có thể phải chịu thiệt hại cao, khi đó
rủi ro kinh doanh của khách hàng tăng, rủi ro kiểm toán mong muốn sẽ giảm
xuống. Đối với kiểm toán viên, dự đoán khả năng khách hàng có thể gặp khó khăn
trong tài chính là một điều khá phức tạp, tuy nhiên có một số yếu tố giúp họ có thể
nhận biết đợc điều này:
Khả năng hoán chuyển thành tiền mặt: Nếu một khách hàng thờng xuyên
thiếu tiền và vốn lu động, điều này là dấu hiệu cho thấy có thể doanh nghiệp
sẽ gặp khó khăn trong thanh toán. Kiểm toán viên cần phải đánh giá khả
năng hoán chuyển thành tiền mặt yếu kém trong tình huống xấu nhất.
Các khoản lãi (lỗ) trong các năm trớc: Khi một doanh nghiệp giảm nhanh
các khoản lãi hoặc tăng nhanh các khoản lỗ trong vài năm, kiểm toán viên
phải nhận biết các vấn đề thanh toán của khách hàng có thể sẽ gặp phải
trong tơng lai.
Các phơng pháp làm tăng quá trình tài trợ: Công ty khách hàng càng phụ
thuộc vào các khoản tài trợ, rủi ro gặp khó khăn trong tơng lai của doanh
nghiệp về mặt tài chính sẽ càng lớn (nếu công ty sản xuất kinh doanh hoặc
cung cấp dịch vụ kém hiệu quả trong tơng lai). Việc xem xét liệu tài sản của
doanh nghiệp có thờng xuyên đợc tài trợ nợ ngắn hạn hay nợ dài hạn hay
không cũng là một yếu tố quan trọng. Nhu cầu chi tiền mặt thờng xuyên với
số lợng lớn trong thời gian ngắn có thể buộc công ty đi đến phá sản.
Bản chất hoạt động của công ty khách hàng: Một số loại hình doanh nghiệp
nhất định vốn có nhiều rủi ro hơn các doanh nghiệp khác, chẳng hạn trong
cùng một điều kiện nh nhau thì khả năng phá sản ở một công ty môi giới
chứng khoán cao hơn ở một công ty điện, nớc.
Năng lực của ban quản trị: Ban quản trị có năng lực thờng xuyên đối phó đ-
ợc những khó khăn, sửa đổi nhằm phù hợp với hoàn cảnh thì sẽ giảm thiểu
đợc những hạn chế của doanh nghiệp trong ngắn hạn.
Kiểm toán viên phải tìm hiểu công ty khách hàng và đánh giá tầm quan trọng
của từng yếu tố trong các yếu tố có ảnh hởng đến mức độ mà ngời sử dụng tin t-
ởng vào Báo cáo tài chính và khả năng gặp khó khăn về tài chính sau khi báo cáo
kiểm toán đợc công bố. Căn cứ vào quá trình điều tra và đánh giá này, kiểm toán
- 10 -
viên phải có khả năng thiết lập một mức rủi ro có tính thăm dò và chủ quan cao.
Khi thực hiện kiểm toán, thông tin bổ sung về khách hàng sẽ đợc thu thập và mức
rủi ro kiểm toán mong muốn có thể đợc sửa đổi.
Các mức rủi ro kiểm toán khác nhau:
Có một số tình huống khiến kiểm toán viên khác nhau chọn mức rủi ro kiểm
toán khác nhau trong điều kiện tơng tự nh nhau. Đó là:
Khó khăn khi đánh giá rủi ro kiểm toán: Khi đánh giá rủi ro kiểm toán gặp khó
khăn thì việc kiểm toán viên chọn số lợng mẫu giống nhau cho những trờng
hợp tơng tự nhau là không hợp lý. Nguyên nhân là do khi đó kiểm toán viên sẽ
bị động trong việc thu thập các bằng chứng bổ sung.
Tránh các mức rủi ro khác nhau: Mức rủi ro mà kiểm toán viên lựa chọn phải
tính đến cân đối giữa chi phí và mức rủi ro kiểm toán mà kiểm toán viên sẵn
sàng chấp nhận.
Trình độ thành thạo khác nhau: Do năng lực và kinh nghiệm nghề nghiệp của
kiểm toán viên khác nhau là khác nhau nên thờng có nhiều khả năng đi đến
mức rủi ro kiểm toán là khác nhau.
Mối quan hệ giữa mức rủi ro kiểm toán mong muốn với bằng chứng kiểm
toán
Khi sử dụng mô hình rủi ro kiểm toán, ta thấy mối quan hệ trực tiếp giữa rủi ro
kiểm toán mong muốn với rủi ro phát hiện, và mối quan hệ tỷ lệ nghịch giữa rủi ro
kiểm toán mong muốnvới bằng chứng kiểm toán.
Rủi ro tiềm tàng (IR - Inherent Risk)
Rủi ro tiềm tàng là khả năng tồn tại các sai phạm trọng yếu trong bản thân các
đối tợng kiểm toán (cha tính đến sự tác động của bất cứ hoạt động kiểm toán nào
kể cả kiểm soát nội bộ). Tức là khả năng từng nghiệp vụ, từng khoản mục trong
Báo cáo tài chính chứa đựng sai sót trọng yếu khi tính riêng rẽ hoặc tính gộp, mặc
dù có hay không có hệ thống kiểm soát nội bộ.
- 11 -
Mức rủi ro tiềm tàng phụ thuộc vào đặc điểm tình hình kinh doanh và cả năng
lực nhân viên của khách thể kiểm toán. Kiểm toán viên không tạo ra và cũng
không kiểm soát rủi ro tiềm tàng mà họ chỉ đánh giá chúng.
Theo Mục 13 - Nguyên tắc 25 về Trọng yếu và rủi ro kiểm toán - Những
Chuẩn mực và nguyên tắc kiểm toán quốc tế, do IAPC phê chuẩn thì: "Rủi ro tiềm
tàng là những yếu điểm của số d tài khoản hoặc của một loại nghiệp vụ đối với
những sai sót có thể là nghiêm trọng, những sai sót này có thể đơn lẻ hoặc có thể
kết hợp với các sai sót ở những số d, các nghiệp vụ khác (ở đây giả định là
không có các quy chế kiểm soát nội bộ có liên quan). Rủi ro tiềm tàng nằm trong
chức năng hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp trong môi trờng kinh doanh
cũng nh nằm trong bản chất của các số d tài khoản hoặc các loại nghiệp
vụ"(
7,249
).
Theo Mục 04 - Chuẩn mực Kiểm toán Việt Nam số 400 - Đánh giá rủi ro và
kiểm soát nội bộ, quy định nh sau: Rủi ro tiềm tàng là rủi ro tiềm ẩn, vốn có do
khả năng từng nghiệp vụ, từng khoản mục trong Báo cáo tài chính chứa đựng sai
sót trọng yếu khi tính riêng rẽ hoặc tính gộp, mặc dù có hay không có hệ thống
kiểm soát nội bộ"(
6, 77
).
Mô hình rủi ro kiểm toán cho thấy mối quan hệ chặt chẽ giữa rủi ro tiềm tàng
và rủi ro kiểm soát. Việc đa rủi ro tiềm tàng vào mô hình rủi ro kiểm toán là một
trong những khái niệm quan trọng nhất của kiểm toán. Điều đó nhằm giúp kiểm
toán viên dự đoán nơi nào trên các Báo cáo tài chính có nhiều khả năng sai sót
nhất và nơi nào có ít khả năng sai sót hơn. Do đó có tác động đến tổng số bằng
chứng kiểm toán mà kiểm toán viên cần thu thập và tác động đến việc phân bổ số
lợng bằng chứng cho các khoản mục khác nhau trên Báo cáo tài chính.
Rủi ro kiểm soát (CR - Control Risk)
Rủi ro kiểm soát là khả năng hệ thống kiểm soát nội bộ của đơn vị kiểm toán
không phát hiện, ngăn ngừa và sửa chữa kịp thời các sai phạm trọng yếu. kiểm
toán viên không tạo ra và cũng không kiểm soát rủi ro kiểm soát. Họ chỉ có thể
đánh giá hệ thống kiểm soát nội bộ của đơn vị đợc kiểm toán và từ đó đa ra mức
rủi ro kiểm soát dự kiến.
- 12 -
Theo Mục 14 - Nguyên tắc số 25 về Trọng yếu và rủi ro kiểm toán - Những
Chuẩn mực và nguyên tắc kiểm toán quốc tế, cho rằng: "Rủi ro kiểm soát là rủi ro
do xác định sai, có thể xảy ra với một số d tài khoản hoặc một nghiệp vụ và có
thể là sai sót nghiêm trọng. Những sai sót này xảy ra đơn lẻ hoặc có thể kết hợp
với các sai sót của các số d, các nghiệp vụ khác mà hệ thống kiểm soát nội bộ
đã không ngăn chặn hoặc không phát hiện kịp thời. Rủi ro kiểm soát sẽ luôn
luôn xuất hiện và khó tránh khỏi vì những hạn chế có tính bản chất của bất cứ
một hệ thống kiểm soát nội bộ nào"(
7,250
).
Theo Mục 05 - Chuẩn mực Kiểm toán Việt Nam số 400 - Đánh giá rủi ro và
kiểm soát nội bộ lại nhận định rằng: "Rủi ro kiểm soát là rủi ro xảy ra sai sót
trọng yếu trong từng nghiệp vụ, từng khoản mục trong Báo cáo tài chính khi tính
riêng rẽ hoặc tính gộp mà hệ thống kế toán và hệ thống kiểm soát nội bộ không
ngăn ngừa hết hoặc không phát hiện và sửa chữa kịp thời."(
6, 77
).
Nh rủi ro tiềm tàng, mối quan hệ giữa rủi ro kiểm soát và rủi ro phát hiện là
quan hệ tỷ lệ nghịch trong khi mối quan hệ giữa rủi ro kiểm soát và bằng chứng là
quan hệ tỷ lệ thuận. Thí dụ, nếu kiểm toán viên kết luận là hệ thống kiểm soát nội
bộ tồn tại và hoạt động có hiệu quả, rủi ro phát hiện có thể tăng lên, số lợng bằng
chứng kiểm toán giảm xuống. Kiểm toán viên có thể tăng mức rủi ro phát hiện khi
các hệ thống kiểm soát nội bộ có hiệu quả vì một cơ cấu kiểm soát nội bộ hiệu quả
làm giảm khả năng sai sót trong các Báo cáo tài chính.
Rủi ro phát hiện (DR - Detection Risk)
Rủi ro phát hiện là khả năng xảy ra các sai sót trọng yếu hoặc gian lận trên
Báo cáo tài chính mà không đợc ngăn chặn hay phát hiện bởi hệ thống kiểm soát
nội bộ và cũng không đợc kiểm toán viên phát hiện trong quá trình kiểm toán. Rủi
ro phát hiện đợc tính từ ba rủi ro trên trong mô hình kiểm toán.
Theo Mục 15 - Nguyên tắc số 25 - Trọng yếu và rủi ro kiểm toán, Những
Chuẩn mực và nguyên tắc kiểm toán quốc tế khẳng định rằng: "Rủi ro phát hiện
là những rủi ro mà kiểm toán viên không phát hiện ra các sai sót hiện có trong
các số d tài khoản hoặc các loại nghiệp vụ. Những sai sót này có thể là nghiêm
trọng xảy ra đơn lẻ hoặc có thể kết hợp với các sai sót trong các số d, các
nghiệp vụ khác"(
7,250
).
- 13 -
Mức độ rủi ro phát hiện có quan hệ trực tiếp với phơng pháp kiểm toán của
kiểm toán viên. Một số rủi ro phát hiện sẽ thờng xảy ra cho dù có kiểm tra 100%
các số d và các loại nghiệp vụ vì kiểm toán viên có thể lựa chọn và áp dụng các
phơng pháp kiểm toán không phù hợp, áp dụng sai các phơng pháp kiểm toán
thích hợp hoặc giải thích sai các kết quả kiểm toán.
Theo Mục 06 - Chuẩn mực Kiểm toán Việt Nam số 400 - Đánh giá rủi ro và
kiểm soát nội bộ, thì: "Rủi ro phát hiện là rủi ro xảy ra sai sót trọng yếu trong
từng nghiệp vụ, từng khoản mục trong Báo cáo tài chính khi tính riêng rẽ hoặc
tính gộp mà trong quá trình kiểm toán, kiểm toán viên và công ty kiểm toán
không phát hiện đợc"(
6, 77
).
Rủi ro phát hiện xác định bằng chứng mà kiểm toán viên có kế hoạch thu thập.
Khi rủi ro phát hiện thấp, kiểm toán viên sẽ không sẵn sàng chấp nhận nhiều rủi ro
của bằng chứng không phát hiện sai sót; do đó, cần thu thập một số lợng bằng
chứng đáng kể. Khi kiểm toán viên sẵn sàng chấp nhận thêm rủi ro, thì bằng
chứng cần sẽ ít hơn. Một phơng pháp tiếp cận đặc thù mà kiểm toán viên sử dụng
để vận dụng rủi ro phát hiện nhằm xác định số lợng bằng chứng kiểm toán phải
thu thập là chọn mẫu thống kê.
1.1.2.3- Quy trình đánh giá rủi ro kiểm toán trong kiểm toán Báo cáo tài
chính năm đầu tiên
Do đặc thù của kiểm toán Báo cáo tài chính năm đầu tiên có nhiều khác biệt
với kiểm toán cho khách hàng quen thuộc nên các thủ tục kiểm toán nhằm đánh
giá rủi ro kiểm toán thờng đợc thực hiện đa dạng và phức tạp hơn. Công việc này
thờng do chủ nhiệm kiểm toán - những ngời có nhiều kinh nghiệm trong quá trình
thực hiện cuộc kiểm toán. Mỗi cuộc kiểm toán có những đặc thù khác nhau tuy
nhiên nhìn chung trình tự thực hiện cuộc kiểm toán Báo cáo tài chính năm đầu tiên
thờng nh sau:
- 14 -
Đăng ký:
Đăng Nhận xét (Atom)
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét