nhân quan trọng là đã sử dụng tốt hơn lực lợng lao động. Vì vậy, tăng trởng kinh
tế nhanh thì thất nghiệp có xu hớng giảm. Mối quan hệ giữa tăng trởng kinh tế
thực tế và tỷ lệ thất nghiệp ở nớc phát triển đã đợc lợng hóa dới tên gọi quy luật
Okum (hay quy luật 2,5% -1) . Quy luật này xác định, nếu GNP thực tế tăng 2,5%
trong vòng một năm so với GNP tiềm năng của năm đó thì tỷ lệ thất nghiệp giảm
đI 1%.
- Tăng trởng kinh tế tạo tiền đề vật chất để củng cố an ninh quốc phòng, củng
cố chế độ chính trị, tăng uy tín và vai trò quản lý của nhà nớc đối với xã hội.
- Đối với các nớc chậm phát triển nh nớc ta, tăng trởng kinh tế còn là điều
kiện tiên quyết để khắc phục sự tụt hậu xa hơn về kinh tế so với các nớc đang phát
triển.
Nh vậy, tăng trởng kinh tế nhanh là muc tiêu thờng xuyên của các quốc gia,
nhng sẽ là không đúng nếu theo đuổi tăng trởng kinh tê mọi giá. Thực tế cho thấy,
không phải sự tăng trởng nào cũng mang hiệu quả kinh tế xã hội nh mong
muốn, đôi khi quá trình tăng trởng mang tính hai mặt. Chẳng hạn, tăng trởng kinh
tế quá mức có thể dẫn tình trạng nền kinh tế quá nóng, gây ra lạm phát, hoặc
tăng trởng kinh tế cao làm cho dân c giàu lên, nhng đồng thời cũng có thể làm cho
sự phân hóa giàu nghèo trong xã hội tăng lên. Vì vậy, đòi hỏi mỗi quốc gia trong
từng thời kỳ phải tìm ra những biện pháp tích cực để đạt đợc sự tăng trởng hợp lý,
bền vững. Tăng trởng kinh tế bền vững là tăng trởng kinh tế đạt mức tơng đối cao,
ổn định trong thời gian tơng đối dài (ít nhất từ 20 30 năm ) và giải quyết tốt
vấn đề tiến bộ xã hội gắn với bảo vệ môi trờng sinh thái.
1.3- Các nhân tố ảnh hởng đến tăng trởng kinh tế:
Việc xác định yếu tố ảnh hởng đến tăng trởng kinh tế có nhiều quan điểm và
cách phân loại khác nhau. Các nhà kinh tế cổ điển cho rằng, các yếu tố cơ bản của
tăng trởng kinh tế là đất đai, lao động, t bản và cách thức kết hợp các yếu tố với
nhau. Theo quan điểm hiện đại, muốn có tăng trởng kinh tế cao phải sử dụng có
hiệu quả cac yếu tố cơ bản sau:
- Vốn: vốn hiểu theo nghĩa rộng là toàn bộ của cải vật chất do con ngời tạo ra,
tích lũy lại và những yếu tố tự nhiên đ ợc sử dụng vào quá trình sản xuất. Nói
một cách khái quát, vốn là toàn bộ tài sản đợc sử dụng để sản xuất, kinh doanh.
Vốn tồn tại dới hai hình thức: vốn tài chính và vốn hiện vật. Vốn tài chính là vốn
tồn tại dới hinh thức tiền tệ hay các loại chứng khoán, còn vốn hiện vật tồn tại dới
hình thức vật chất của quá trình sản xuất nh nhà xởng, máy móc, thiết bị, nguyên,
vật liệu Các nhà kinh tế học đã chỉ ra mối liên hệ giữa tăng GDP với tăng vốn
đầu t, Harốt Đôma (Harod Domar) đã nêu công thức tính hiệu xuất sử dụng vốn
sản phẩm gia tăng viết tắt là ICOR (International Capital Output Ration). Đó là tỷ
lệ tăng đầu t chia tỷ lệ tăng của GDP. Những nền kinh tế với các chỉ số ICOR
thấp, thờng không quá 3%, có nghĩa là phảI đầu t 3% để tăng 1% GDP.
Một nền kinh tế tăng trởng cao không chỉ dừng lại ở việc tăng khối lợng vốn
đầu t, mà còn phảI đặc biệt chú ý đến hiệu quả sử dụng vốn, quản lý vốn chặt chẽ,
đầu t vốn hợp lý vào các ngành, các lĩnh vực của nền kinh tế.
- Con ngời: trong các yếu tố hợp thành quá trình lao động sản xuất, sức lao
động là yếu tố quyết định, mang tính sáng tao, là nguồn lực không cạn kiệt. Có thể
nói: nguồn lực con ngời là nguồn lực của mọi nguồn lực , là tài nguyên của
mọi tài nguyên . Vì vậy, con ngời có sức khỏe, trí tuệ, tay nghề cao, có động lực
và nhiệt tình, đợc tổ chức chặt chẽ là nhân tố cơ bản của tăng trởng kinh tế bền
vững.
Để phát huy nhân tố con ngời, cần phảI xác định: đầu t cho con ngời về thực
chất là đầu t cho sự phát triển. Nhà nớc cần phảI có chiến lợc phát triển con ngời,
mà trớc hết phải nâng cao về số lợng và chất lợng hệ thống giáo dục, y tế, bảo
hiểm xã hội, bồi dỡng nhân tài cùng với việc quản lý và sử dụng hợp lý nguồn
nhân lực.
Nhân tố con ngời là sự biểu hiện và khẳng định vai trò của con ngời trên cả
hai phơng tiện: tính cá thể và tính xã hội (cộng đồng). Vì vậy, nhà nớc cần phải có
cơ chế, chính sách thích hợp nhằm kết hợp sự nỗ lực của mỗi ngời với sự hỗ trợ
của cộng đồng xã hội để tạo ra đông lực, lợi thế cho sự tăng trởng kinh tế.
- Khoa học và công nghệ: khoa học và công nghệ là nguồn lực quan trọng để
tăng trởng và phát triển kinh tế. Khoa học và công nghệ đợc coi là chiếc đũa thần
mầu nhiệm để tăng năng suất lao động, phát triển lực lợng sản xuất. Nhờ ứng
dụng những thành tựu khoa học và công nghệ đã làm cho chi phí về lao động, vốn,
tài nguyên trên một đơn vị sản phẩm giảm xuống, hay nói cách khác, hiệu quả sử
dụng của các yếu tố này tăng lên.
Sự phát triển khoa học và công nghệ cho phép tăng trởng và tái sản xuất mở
rộng theo chiều sâu, làm xuất hiện những ngành kinh tế có hàm lợng khoa học cao
nh: công nghệ điện tử, công nghệ thông tin, công nghệ sinh học đang là cơ hội
và thách thức đối với các quốc gia hớng tới nền kinh tế tri thức. Nh vậy, khoa học
và công nghệ cũng là một yếu tố đóng vai trò đặc biệt quan trọng đối với sự tăng
trởng nhanh và bền vững.
- Cơ cấu kinh tế: mọi nền kinh tế đều tồn tại và vận động trong một cơ cấu
nhât định. Cơ cấu kinh tế là mối quan hệ hữu cơ. phụ thuộc và quy định lẫn nhau
cả về quy mô và trình độ giữa các ngành, các thành phần, các vùng, các lĩnh vực
của nền kinh tế. Cũng giống nh một cơ thể sống, nền kinh tế chỉ có thể tăng trởng
và phát triển khi giữa các mặt, các bộ phận, các yếu tố cấu thành nó có sự phù hợp
với nhau cả về số lợng và chất lợng, cũng có nghiã là phải có một cơ cấu kinh tế
hợp lý, hiện đại để phát huy mọi tiềm năng, nội lực, lợi thế so sánh của toàn bộ
nền kinh tế,phù hợp với sự phát triển của khoa học và công nghệ tiên tiến, gắn với
phân công lao động và hợp tác quốc tế là yếu tố tạo tiền đề, cơ sở cho sự tăng tr-
ởng và phát triển kinh tế.
- Thể chế chính trị và vai trò của nhà nớc: ổn định về chính trị xã hội là
điều kiện cho sự tăng trởng và phát triển nhanh và bền vững.
Thể chế chính trị tiến bộ có khả năng đinh hớng sự tăng trởng kinh tế vào
những mục tiêu mong muốn, khắc phục đợc những nguyên nhân gây ra ô nhiễm
môi trờng, phân hóa giàu nghèo sâu sắc Bởi vì, trên thực tế đã từng có sự tăng
trởng kinh tế không phát triển cùng chiều với tiến bộ xã hội. Chẳng hạn, quá trình
tăng trởng kinh tế ở các nớc t bản chủ nghĩa phát triển đã làm xuất hiện những vấn
đề xã hội mà bản thân nền kinh tế dù có tiếp tục tăng trởng hơn nữa cũng không
thể giải quyết đợc những vấn đề xã hội cơ bản.
Hệ thống chính trị mà đại diện là nhà nớc có vai trò hoạch định đờng lối,
chiến lợc phát triển kinh tế xã hội, cùng hệ thống chính sách đúng đắn sẽ hạn
chế đợc tác động tiêu cực của cơ chế thị trờng, khuyến khích tích lũy, tiết kiệm,
kích cầu làm cho nền kinh tế tăng tr ởng nhanh đúng hớng.
Nh đã nói ở trên tăng trởng kinh tế là một trong những yếu tố cần thiết và
quan trọng để phát triển kinh tế xã hội. Vì vậy đây là mục tiêu mà Đảng và nhà
nớc ta đang rât quan tâm.Vậy để tăng trởng kinh tế một cách hiệu quả và đúng đắn
Đảng và Nhà nớc ta phải lập kế hoạch cho việc tăng trởng kinh tế.
2. Kế hoạch tăng trởng kinh tế là gì?
2.1-Khái niệm kế hoạch tăng trởng kinh tế:
Kế hoạch tăng trởng kinh tế là một bộ phận của hệ thống kế hoạch hoá phát
triển, nó xác định các mục tiêu gia tăng về quy mô sản xuất và dịch vụ của nền
kinh tế trong kỳ kế hoạch và các chính sách cần thiết để đảm bảo tăng trởng trong
mối quan hệ trực tiếp với các yếu tố nguồn lực và các chỉ tiêu việc làm, ổn định
giá cả.
Kế hoạch tăng trởng phù hợp là kế hoạch tăng trởng mà các chỉ tiêu lập ra
dựa trên các giới hạn tối đa về khả năng nguồn lực
Kế hoạch tăng trởng tối u là kế hoạch tăng trởng trong đó các chỉ tiêu, mục
tiêu tăng trởng đợc thoả mãn đồng thời 2 điều kiện là bảo đảm mức cao nhất nhu
cầu xã hội trong khuôn khổ sử dụng tối đa các giới hạn về nguồn lực.
2.2- Anh hởng kế họach tăng trởng kinh tế đến phát triển kinh tế xã hội:
Trong hệ thống kế hoạch phát triển kinh tế, kế hoạch tăng trởng là bộ phận kế
hoạch quan trọng nhất. Nó xác định các mục tiêu có liên quan quyết định sự phát
triển đất nớc. Các chỉ tiêu kế hoạch về mức và tốc độ tăng trởng GDP, GNP là các
con số phản ánh điều kiện vật chất, kinh tế cần thiết cho sự phát triển. Chỉ tiêu thu
nhập bình quân đầu ngời là dấu hiệu đánh giá về trình độ phát triển của đất nớc.
Các chỉ tiêu của kế hoạch tăng trởng là cơ sở để xác định các kế hoạch mục tiêu
khác nh mục tiêu cải thiện đời sống, tăng thu nhập dân c trong kế hoạc các ngành
kinh tế và sự chuyển dịch cơ cấu ngành, vùng kinh tế trong kế hoạch cơ cấu
ngành. Các chỉ tiêu của kế hoạch tăng trởng còn đợc sử dụng là cơ sở cho việc xây
dựng các kế hoạch biện pháp cũng nh xây dựng các cân đối chủ yếu cho phát triển
kinh tế của thời kỳ kế hoạch.
Kế hoạch tăng trởng kinh tế nằm trong mối quan hệ chặt chẽ và tác động qua
lại với chơng trình giải quyết việc làm và mục tiêu chống lạm phát. Về mặt lý
luân, nếu nền kinh tế có tốc độ tăng trởng nhanh thì sẽ giải quyết tốt việc làm cho
ngời lao động, nhng xu thế gia tăng lạm phát sẽ xảy ra và trên thực tế nếu nền kinh
tế tăng trởng quá nhanh thì sẽ tạo nên một sự không bình thờng trong các mắt xích
khác của nền kinh tế, nhất là vấn đề lạm phát gia tăng. Vì vậy, thông thờng việc
đặt kế hoạch mục tiêu tăng trởng kinh tế đất nớc thờng phải gắn liền với thực trạng
của nền kinh tế. Trên cơ sở đặt mục tiêu tăng trởng, phải xác định các mục tiêu về
việc làm và lạm phát, tìm ra các giải pháp, chính sách khống chế.
Kế hoạch tăng trởng kinh tế có liên quan trực tiếp tới chơng trình xoá đói
giảm nghèo và công bằng xã hội. Trong giai đoạn đầu của quá trình phát triển, vấn
đề tăng trởng kinh tế và công bằng xã hội gần nh là hai đại lợng mang tính đánh
đổi. Để giải quyết bài toán xoá đói giảm nghèo, phải đặt mục tiêu tăng trơng
nhanh, nhng điều đó có thể làm cho sự phân hoá xã hội trở nên gay gắt hơn. Vấn
đề là trong từng giai đoạn phát triển của đất nớc, đặt mục tiêu nào lên trớc: Hiệu
quả hay công bằng xã hội. Khi lập kế hoạch tăng trởng kinh tế, điều cơ bản phải
căn cứ vào chiến lợc phát triển kinh tế xã hội để xây dựng chỉ tiêu tăng trởng
kinh tế, bảo đảm sự dung hoà giữa hai đại lợng công bằng và tăng trởng nhanh.
Mặt khác, đi đôi với kế hoạch mục tiêu tăng trởng kinh tế phải có các kế hoạch
khác đi kèm nh kế hoạch phát triển xã hội, phân phối thu nhập nhằm giải quyết
các hậu quả xã hội đặt ra trong kế hoạch tăng trởng.
II. Thực trạng của tăng tr ởng kinh tế ở Việt nam
trong thời kỳ đổi mới:
1. Việc thực hiện kế hoạch tăng trởng kinh tế thời kỳ 2001 -2005:
1.1- Mục tiêu tổng quát:
Mục tiêu tổng quát của kế hoạch 5 năm 2001 2005 là: Tăng trởng dịch
mạnh cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động theo hớng công nghiệp hoá, hiện kinh tế
nhanh và bền vững; ổn định và cải thiện đời sống nhân dân. Chuyển đại hoá. Nâng
cao rõ rệt hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế. Mở rộng công nghệ, phát
huy nhân tố con ngời. Tạo nhiều việc làm; cơ bản xoá đói, giảm số hộ nghèo; đẩy
lùi các tệ nạn xã hội. Tiếp tục tăng cờng kết cấu hạ tầng kinh tế, xã hội; hình thành
một bớc quan trọng thể chế kinh tế thị trờng định hớng xã hội chủ nghĩa. Giữ vững
ổn định chính trị và trật tự an toàn xã hội, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền,
toàn vẹn lãnh thổ và an ninh quốc gia.
1.2- Một số định hớng, nhiệm vụ và chỉ tiêu chủ yếu:
Phấn đấu đạt nhịp độ tăng trởng kinh tế bình quân hàng năm cao hơn 5 năm
trớc và có bớc chuẩn bị cho 5 năm tiếp theo
- Đa GDP năm 2005 gấp 2 lần so với năm 1995. Nhịp độ tăng trởng hàng
GDP bình quân hàng năm thời kỳ 5 năm 2001 2005 là 7,5%, trong đó nông,
lâm, ng nghiệp tăng 4.3%, công nghiệp và xây dựng tăng 10,8%, dịch vụ tăng
6,2%.
- Giá trị sản xuất nông, lâm, ng nghiệp tăng 4,8%/năm
- Giá trị sản xuất ngành công nghiệp tăng 13%/năm
- Giá trị dịch vụ tăng 7,5%/năm.
1.3- Những thành tựu:
1.3.1- Thành tựu qua các năm:
Ngay từ năm đầu thực hiện kế hoạch 5 năm tình hình kinh tế nớc ta đã có
nhiều chuyển biến và đạt tốc độ khá cao, năm sau cao hơn năm trớc.
Năm 2001, tốc độ tăng trởng GDP đạt 6,89%, mở đầu cho một giai đoạn tăng
trởng khá cao và ổn định
Năm 2002, đã tập trung chỉ đạo phát huy mạnh mẽ nội lực, tháo gỡ từng khó
khăn trong sản xuất, kinh doanh Nhờ đó, tình hình kinh tế, xã hội đã có những
chuyển biến tích cực qua từng tháng, nhất là trong những tháng cuối năm, kết quả
là tốc độ tăng trởng kinh tế cả năm đạt 7,08%
Năm 2003, nền kinh tế nớc ta lại phải đơng đầu với những khó khăn, thách
thức hết sức gay gắt do hạn hán kéo dài và do dịch bệnh SARS, nhng nhờ sự chỉ
đạo nhanh nhạy, kịp thời, sự nỗ lực rất cao của các ngành, các cấp, nền kinh tế nớc
ta đã đạt đợc những kết quả rất khích lệ; tăng trởng kinh tế đạt 7,34%
Năm 2004, tình hình kinh tế cũng có nhiều biến động phực tạp, nhng Chính
phủ và các Bộ, ngành, địa phơng đã triển khai nhiều biện pháp có hiệu quả với ph-
ơng châm chỉ đạo là phấn đấu tháng sau, quý sau tốt hơn tháng trớc, quý trớc. Nhờ
đó, tốc độ tăng trởng kinh tế năm 2004 đạt 7,79%
Năm 2005, là năm đánh dấu bớc chuyển biến mới và toàn diện trong toàn nền
kinh tế; các chủ trơng, chính sách lớn đề ra tại Đại hội IX và tại các Hội nghị
Trung ơng khoá IX thực sự đi vào cuộc sống, tạo ra động lực mới, đồng thời kích
thích mọi thành phần kinh tế tham gia đầu t phát triển sản xuất, kinh doanh. Tốc
độ tăng trởng kinh tế đạt 8,43%
Tính bình quân 5 năm 2001 2005, tốc độ tăng trởng kinh tế đạt 7,5%,
trong đó nông, lâm, nghiệp và thuỷ sản đạt 3,8%; công nghiệp và xây dựng đạt
10,2%; các ngành dịch vụ đạt gần 7,0%
Qui mô tổng sản phẩm trong nớc của nền kinh tế năm 2005 đạt gấp đôi năm
1995, tăng bình quân 7,2%/năm. Năm 2005, GDP theo giá hiện hành đạt 838
nghìn tỷ đồng, bình quân đầu ngời trên 10 triệu đồng (tơng đơng 40 USD) cao hơn
mức trung bình của nhóm nớc có thu nhập thấp.
1.3.2- Thành tựu qua các khu vực kinh tế:
Khu vựcnông, lâm nghiệp và thuỷ sản tiếp tục phát triển. Giá trị sản xuất
toàn ngành tăng bình quân trong 5 năm khoảng 5,4%, vợt mục tiêu kế hoạch đề ra
là 4,8%, trong đó nông nghiệp tăng 4,1%; lâm nghiệp tăng 1,4%; thuỷ sản tăng
12,1%. Giá trị tăng thêm của ngành nông, lâm nghiệp và thuỷ sản tăng bình quân
3,8%/năm (mục tiêu đề ra là 4,3%)
Khu vực công nghiệp và xây dựng vẫn duy trì đợc tốc độ tăng trởng cao và
ổn định. Giá trị sản xuất công nghiệp tăng bình quân 16%/năm, cao hơn 1,9% so
với mục tiêu đề ra và cao hơn so với 5 năm trớc, đã góp phần duy trì tốc độ tăng tr-
ởng chung của nền kinh tế, trong đó kinh tế nhà nớc tăng 11,5%; kinh tế ngoài nhà
nớc tăng 21,9%; kinh tế có vốn đầu t nớc ngoài tăng 16,8%. Giá trị tăng thêm của
ngành công nghiệp tăng bình quân 10,1%/năm. Năng lực sản xuất của nhiều
ngành, nhiều sản phẩm tăng lên đáng kể, nhiều sản phẩm đã cạnh tranh đợc trên
thị trờng trong và ngoài nớc, đáp ứng cơ bản nhu cầu thiết yếu của nền kinh tế và
đóng góp lớn cho xuất khẩu. Mục tiêu sản xuất nhiều sản phẩm đợc hoàn thành tr-
ớc thời hạn. Một số ngành công nghiệp đã phát triển nhanh nh: khai thác và chế
biến khí thiên nhiên, đóng tàu, chế tạo thiết bị đồng bộ, sản xuất, lắp ráp ôtô, xe
máy, chế biến đồ gỗ Tỷ lệ sử dụng nguyên vật liệu, phụ tùng, thiết bị chế tạo
trong nớc ngày càng tăng. Cơ cấu sản phẩm và công nghệ chuyển dịch theo hớng
tiến bộ, gắn sản xuất với thị trờng. Quá trình nghiên cứu, thiết kế sản phẩm mới
ngày càng đợc chú trọng và có xu hớng phát triển. Tỷ lệ công nghiệp chế tác, công
nghiệp cơ khí chế tạo và tỷ lệ nội địa hoá sản phẩm công nghiệp tăng lên
Khu vực dịch vụ có bớc dịch chuyển tích cực, theo hớng đáp ứng tốt hơn các
nhu cầu về sản xuất, kinh doanh và phục vụ đời sống nhân dân. Giá trị sản xuất
của các ngành dịch vụ tăng 7,6%/năm, cao hơn kế hoạch đề ra. Giá trị tăng thêm
của ngành dịch vụ tăng gần 7,0%/năm (kế hoạch 6,2%); riêng năm 2005, giá trị
tăng thêm tăng 8,5%, cao hơn mức tăng GDP.
1.3- Những yếu kém, tồn tại:
Tuy trong 5 năm 2001 2005 đã đạt đợc nhiều thành tựu lớn, rất quan trọng
nhng bên cạnh đó thì tăng trởng kinh tế nớc ta cha thực sự vững chắc. Đóng góp
vào tăng trởng chủ yếu vẫn là yếu tố vốn và lao động, yếu tố khoa học và công
nghệ tuy có tăng lên, nhng vẫn chiếm tỷ trọng nhỏ.
Trong nông nghiệp, các phơng thức canh tác tiên tiến chậm đợc áp dụng trên
diện rộng, giống cây trồng, vật nuôi tốt còn thiếu, cha đáp ứng đủ và kịp thời cho
sản xuất. Năng suất nhiều cây trồng, vật nuôi và chất lợng sản phẩm nông nghiệp
còn thấp, còn phụ thuộc nhiều vào thời tiết, khí hậu. Chuyển dịch cơ cấu sản xuất
nông nghiệp và nông thôn còn chậm, nhiều nơi còn mang tính tự phát, cha bền
vững. Công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp và nông thôn cha đợc triển khai
một cách có bài bản. Nhiều sản phẩm chủ yếu của nông, lâm nghiệp và thuỷ sản
cha xây dựng đợc thơng hiệu nên hiệu quả kinh tế còn thấp. Mặc dù giá trị sản
xuất nông, lâm, thuỷ sản tăng cao và vợt mục tiêu đề ra nhng chi phí sản xuất cao,
nên giá trị tăng thêm của toàn ngành không đạt mục tiêu, chỉ tăng 3,8% so với
mục tiêu đề ra là 4,3%
Trong công nghiệp, tuy có tốc độ tăng trởng cao nhng hiệu quả chung của
toàn ngành cha đợc cải thiện, sản phẩm, thơng hiệu có sức cạnh tranh tiến bộ
chậm; giá trị sản xuất ngành công nghiệp 5 năm 2001-2005 tăng 16%/năm. Tỷ
trọng công nghiệp chế tác trong công nghiệp khoảng 60-70%, nhng giá trị gia
tăng thấp; đặc biệt là các ngành công nghiệp gia công nh: may mặc, da giày, chế
biến gỗ xuất khẩu có giá trị sản xuất cao, nhng phần lớn chi phí lại là vật t,
nguyên liệu nhập khẩu từ nớc ngoài, giá trị tăng thêm rất thấp.
Công nghiệp hiện đại trong các ngành công nghiệp chiếm tỷ trọng thấp, tốc
độ đổi mới công nghệ chậm. Đến nay, nớc ta sử dụng phổ biến công nghệ trung
bình; số ngành, lĩnh vực đạt trình độ công nghệ hiện đại còn ít. Sản xuất vật liệu,
đặc biệt vật liệu mới để tạo tiền đề cho các ngành công nghiệp khác phát triển cha
hình thành.
Cha có sự gắn kết chặt chẽ giữa phát triển công nghiệp chế biến với phát triển
các vùng nguyên liệu nông sản. Sự phát triển của công nghiệp ở nông thôn, vùng
sâu, vùng xa cha đợc chú trọng đúng mức; việc thực hiện công nghiệp hoá nông
nghiệp và nông thôn còn lúng túng, cha có hớng đi cụ thể, cha đóng góp nhiều cho
công cuộc xoá đói giảm nghèo và chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông
thôn.
Trong dịch vụ, tốc độ tăng trởng tuy đạt vợt mức kế hoạch, nhng còn thấp so
với khả năng phát triển; tỷ trọng của ngành dịch vụ trong tổng sản phẩm trong nớc
còn ở mức thấp; chất lợng và hiệu quả các hoạt động dịch vụ cha cao; nhiều loại
phí dịch vụ còn bất hợp lý và cao hơn nhiều nớc trong khu vực. Năng lực tiếp cận
thị trờng của các doanh nghiệp còn yếu. Các ngành dịch vụ có giá trị tăng thêm
cao nh dịch vụ tài chính, tiền tệ gần đây có chuyển biến, nhng nhìn chung phát
triển chậm, cha đáp ứng yêu cầu. Riêng dịch vụ giao dịch bất động sản thị trờng
thiếu ổn định. Việc tạo môi trờng, khuyến khích, huy động vốn đầu t xây dựng cơ
sở vật chất ngành du lịch cha đáp ứng nhu cầu và khả năng phát triển ngành.
1.4- Nguyên nhân của thành tựu và yếu kém:
1.4.1- Nguyên nhân của thành tựu:
Thứ nhất, đó là kiên trì thực hiện đờng lối đổi mới, phát triển kinh tế thị trờng
định hớng xã hội chủ nghĩa; bớc đầu đã hoàn thiện và đồng bộ các chính sách và
cơ chế quản lý kinh tế, xã hôi. Nhiều chủ trơng, chính sách về phát huy nội lực và
thu hút ngoại lực để phát triển nông nghiệp và nông thôn, phát triển thị trờng trong
nớc, ngoài nớc đã phát huy tác dụng tích cực
Thứ hai, kết quả đầu t của nhiều năm qua cùng với sự huy động ngày càng
cao mọi nguồn lực cả trong và ngoài nớc, nhất là nguồn vốn trong dân đã góp phần
thúc đẩy tăng trởng kinh tế, làm tăng năng lực sản xuất của nhiều ngành, có thêm
nhiều công nghệ hiện đại, tăng khả năng cạnh tranh.
1.4.2- Nguyên nhân của yếu kém:
Thứ nhất, tăng trởng kinh tế cha tơng xứng với khả năng; chất lợng, hiệu
quả, sức cạnh tranh của tranh của nền kinh tế còn kém; cơ cấu kinh tế chuyển dịch
chậm.
Thứ hai, t duy kinh tế chậm đổi mới. Một số vấn đề lý luận quan trọng về
kinh tế thị trờng định hớng xã hội chủ nghĩa, vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nớc,
độc lập, tự chủ về kinh tế cha đợc làm sáng tỏ, dẫn đến lúng túng, chậm trễ trong
việc cụ thể hoá và thực hiện một số chủ trơng lớn nh sắp xếp và cổ phần hoá doanh
nghiệp nhà nớc, phát triển các ngành dịch vụ có tiềm năng (dịch vụ bất động sản,
tài chính, ngân hàng, du lich). Cha tạo lập đồng bộ các loại thị trờng theo nguyên
tắc thị trờng.
Thứ ba, xuất phát điểm của nền kinh tế thấp, quy mô nền kinh tế nhỏ bé; kết
cấu hạ tầng kinh tế, xã hội yếu kém; các ngành công nghiệp bổ trợ cha phát triển;
trình độ công nghệ và năng suất lao động thấp, chi phí sản xuất cao. Chính sách,
biện pháp để khuyến khích huy động tốt nguồn lực trong nớc và ngoài nớc vào
phát triển kinh tế, xã hội còn nhiều hạn chế.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét