Thứ Sáu, 7 tháng 2, 2014

Tài liệu Luận văn tốt nghiệp “Thực tế triển khai nghiệp vụ bảo hiểm thiết bị điện tử tại Công ty cổ phần bảo hiểm bưu điện” pdf


4
Các rủi ro được bảo hiểm trong bảo hiểm thiết bị điện tử cũng rất đa
dạng, từ các rủi ro thiên tai: mưa, bão, lụt cho tới các rủi ro do con người
gây ra như: sai lầm trong thiết kế, sai lầm của người điều khiển, hành động
phá hoại chỉ cần một sai sót nhỏ, có thể rất nhỏ xảy ra cũng có thể dẫn đến
nhứng h
ậu quả to lớn không thể lường trước được . Nó gây tác hại không chỉ
cho một ngành hay một khu vực kinh tế quốc đân mà còn cho nhiều ngành
nhiều lĩnh vực kinh tế khác nhau. Nó cũng có thể làm chậm hẳn lại sự tiến
triển của một ngành khoa học. Đặc biệt ngày nay nhiều công trình, máy móc,
thiết bị với các chức năng tự động hoá, chuyên môn hoá cao, có giá trị rất lớn.
Nếu tai nạn xảy ra có thể d
ẫn tới thiệt hại to lớn, thậm chí có thể dẫn đến phá
sản.
* Cũng giống như loại hình bảo hiểm khác, bảo hiểm thiết bị điện tử
nhằm ổn định hoạt động của các tổ chức kinh tế trong trường hợp chẳng may
gặp các rủi ro nói trên. Với việc thu phí bảo hiểm của nhiều tổ chức kinh tế và
cá nhân có liên quan trong xã hội
để lập qũi bảo hiểm và quan hệ tái bảo hiểm
có đủ khả năng bồi thường ngay tổn thất cho người được bảo hiểm, cho dù
tổn thất có lớn tới mức nào đi chăng nữa, giúp họ nhanh chóng khắc phục hậu
quả tổn thất, khôi phục sản xuất kinh doanh và đời sống.
Đặc biệt trong cơ chế thị trường hiện nay, mỗi tổ chức,
đơn vị, xí nghiệp
đều phảI tự chủ về mặt tài chính và chủ động trong kinh doanh. Với cơ sở vật
chất sẵn có của mình, họ phải lo liệu làm sao sản xuất kinh doanh đạt được
hiệu quả cao nhất. Cơ chế mới đó vừa thúc đẩy sự phát triển sản xuất của các
xí nghiệp, mặt khác đòi hỏi các xí nghiệp phải tự chủ hơn trong sản xu
ất kinh
doanh vì với việc xoá bỏ cơ chế bao cấp, các xí nghiệp sẽ không được Nhà
nước trợ cấp trong các trường hợp làm ăn không có hiệu quả hoặc không may
gặp phải rủi ro làm ảnh hưởng đến sản xuất, kinh doanh. Điều đó, buộc các
doanh nghiệp phải quan tâm đến vấn đề bảo hiểm. Nếu tham gia bảo hiểm, trong
trường hợp gặp phải các rủi ro gây ra thiệt hại t
ới tài sản, tiền vốn của họ thì bảo
hiểm sẽ bồi thường kịp thời các tổn thất đó, giúp người được bảo hiểm giải quyết
ngay khó khăn về mặt tài chính, không cần xin ngân sách nhà nước trợ cấp.
Căn cứ vào điều kiện tài chính của mình, chỉ với một khoản phí bảo hiểm rất
nhỏ trả cho người bảo hiểm, khi gặp tổ
n thất người được bảo hiểm sẽ nhận

5
được khoản tiền bồi thường của người bảo hiểm và sẽ chủ động nhanh chóng
khôI phục ,đưa sản xuất kinh doanh trở lại bình thường .
Ngoài ra, khi tiến hành bảo hiểm thiết bị điện tử Người bảo hiểm cùng
với các ngành, các cơ quan hữu quan khác phối hợp tiến hành công tác đè
phòng, hạn chế tổn thất nhằm ngăn chặn có hiệu quả các rủi ro có thể
gây ra
thiệt hại đối với tài sản, con người. Đặc biệt trong lĩnh vực bảo hiểm thiết bị
điện tử, các biện pháp đề phòng, chữa cháy, kiểm tra, giám định các thiết bị
máy móc, đóng vai trò quan trọng. Theo thông lệ, trước khi tiến hành bảo
hiểm, người bảo hiểm phải theo rõi, kiểm tra và đánh giá mức độ rủi ro của
đối tượng được yêu cầu bảo hiểm, trên cơ sở
đó sẽ đóng góp kịp thời cho
người được bảo hiểm các biện pháp cần thiết để hạn chế kha năng xảy ra các
rủi ro gây nguy hại cho tài sản được bảo hiểm.
c,Vai trò và tác dụng của bảo hiểm thiết bị điện tử

Bảo hiểm thiết bị điện tử (Electronic Equipment Insurance-EEI) có một
số ưu điểm so với các loại hình bảo hiểm khác như :
* Một là, EEI đưa ra khái niệm bảo hiểm rộng rãi nhất trong ngành bảo
hiểm. Dựa trên đơn bảo hiểm mọi rủi ro với rất ít các điều kiện loại trừ ,nó
bảo đảm việc bồi thường sau khi tổn thất hay h
ư hỏng, thậm chí cả trong các
trường hợp không đáng quan tâm hay không quan trọng đối với tài sản khác
ví dụ như việc vận hành không có chuyên môn, dao động điện áp, ám khói
,ẩm ướt và nổ đèn chân không .Tuy nhiên ,các hiểm hoạ ấy đã gây ra một rủi
ro rất nghiêm trọng cho thiết bị điện tử có độ nhạy cảm về tần số và tính khốc
liệt. Cũng như vậy, một nguyên nhân tươ
ng đối nhỏ nhưng cũng có thể ảnh
hưởng lớn về tài chính đối với tính liên tục của hoạt động kinh doanh bởi vì
các hoạt động này có thể hoàn toàn phụ thuộc vào tình trạng sức khoẻ của
“trái tim" thiết bị điện tử .
* Hai là, điều khoản tiêu chuẩn trong bảo hiểm thiết bị điện tử có đưa ra
điều kiện hoàn trả tiề
n trên cơ sở giá trị thay thế mới. Điều này đã đặt người
được bảo hiểm vào một vị trí sẵn có nguồn tiền đầy đủ để thay thế ngay lập
tức và không có sự khấu trừ thông thường theo điều kiện “mới thay cũ" .

6
Ba là, Bảo hiểm thiết bị điện tử mở rộng cả với thiệt hại mọi lĩnh vực
phần mềm và sự ứng dụng của nó. Ngày nay ,dữ liệu gốc và dữ liệu giao dịch
được lưu trữ vào máy tính là nguồn thông tin phổ biến của mỗi công ty do đó
cả phần mềm và dữ liệu là những tài sản rất có giá trị đối vớ
i mọi doanh
nghiệp. Sự tồn tại và tính chính xác của chúng bị đe doạ bởi rất nhiều rủi và
hiểm hoạ đa dạng khi so sánh với chính thiết bị đó .
Các hoạt động có thể bị gián đoạn cho tới khi việc phục hồi đầy đủ thông
tin được tiến hành.
Bốn là, để chiều theo ý khách hàng, bảo hiểm thiết bị điện tử có thể thay
đổi phù h
ợp với từng nhu cầu thông qua các bản sửa đổi bổ xung và cơ cấu
định giá rủi ro.
2. Lịch sử phát triển bảo hiểm thiết bị điện tử

a) Khái quát về lịch sử bảo hiểm kĩ thuật
So với các loại hình bảo hiểm khác như: Bảo hiểm hàng hải ,bảo hiểm
cháy thì bảo hiểm kĩ thuật ra đời chậm hơn. Có thể nói rằng: Bảo hiểm kĩ
thuật ra đời cùng với sự xuất hiện của cuộc cách mạng khoa học kĩ thuật và
chính sự phát triển của khoa học kĩ thuật là động lực thúc đẩy sự lớn mạnh
không ngừng củ
a lĩnh vực bảo hiểm này. Ta có thể đưa ra một vàI số liệu để
so sánh như sau:
- Bảo hiểm cháy ra đời từ năm 1667
- Bảo hiểm hàng hải ra đời vào năm1687
- Đơn bảo hiểm kĩ thuật đầu tiên xuất hiện vào năm 1859
Đó là đơn bảo hiểm về máy móc và năm 1859 xuất hiện đơn bảo hiểm
đầu tiên cho nồi hơi.
Tuy sinh sau đẻ muộn hơn so v
ới các loại hình bảo hiểm khác, nhưng với
sự phát triển nhanh chóng của khoa học kỹ thuật, đặc biệt trong thế kỷ 20 này,
bảo hiểm kĩ thuật cũng đã tiến được những bước dài quan trọng và trở thành
một trong những loại hình bảo hiểm quan trọng nhất hiện nay. Trong năm
1972, tổng số phí BHKT tại CHLB Đức chỉ đạt 567 triệu DM, nhưng năm
1981 đã tăng lên t
ới 1294 triệu DM

7
BHKT hiện nay đã xâm nhập vào hầu hết các lĩnh vực của hoạt động
kinh tế, khoa học trên toàn thế giới, từ việc bảo hiểm các máy móc trong các
xí nghiệp sản xuất ,các dụng cụ tinh vi trong y tế, trong các phòng thí nghiệp
cho tới việc bảo hiểm cho công trình xây lắp khổng lồ, các công tá lắp ráp
máy bay, tàu biển cỡ lớn và cho cả con tàu vũ trụ công ty Munich Re, một
công ty tái bảo hiểm đứng đầu thế giới,là mộ
t trong những công ty đã sáng lập
và phổ biến rộng rãi loại hình bảo hiểm này cùng với các công ty khác trên thị
trường bảo hiểm Lon don -trung tâm bảo hiểm thế giới.
b) Sự ra đời và phát triển của bảo hiểm thiết bị điện tử

Bảo hiểm thiết bị điện tử là một nghiệp vụ bảo hiểm tuy ra đời muộn hơn
so với các loại hình bảo hiểm khác nhưng đã phát triển rất nhanh và chiếm
một tỷ lệ lớn trong doanh thu phí bảo hiểm kĩ thuật. Gọi là ra đời muộn nhưng
nhìn lại lịch sử phát triển của loại hình bảo hiểm này, chúng ta thấy nó cũng
đã có trên 70 năm phát tri
ển.
Từ những năm 20 của thế kỉ này đã xuất hiện những hợp đồng bảo hiểm
thiết bị điện tử như là những phần bổ xung cho các hợp đồng thuê mướn và
bảo dưỡng thiết bị .Vào năm 1921 công ty chuyên về bảo hiểm thiết bị điện tử
đầu tiên trên thế giới đã được thành lập .
Với nguồn gố
c của nó trong những năm 1920 ở Đức, bảo hiểm điện áp
thấp, như tên gọi của nó sau đó được bắt đầu như một loại hình bảo hiểm
chuyên biệt cho thiết bị điện thoại, chủ yếu là để bảo vệ các công ty thuê bao
điện thoại chống lại ảnh hưởng về mặt tài chính có tính chất hậu quả của tổn
thất hay hư
hỏng thiết bị.
Trong những năm 30, phạm vi vủa những thiết bị được bảo hiểm được
mở rộng bao gồm các hệ thống loa chuyên dùng, hệ thống tín hiệu ánh sáng
và hệ thống báo cháy cũng như các thiết bị viễn thông khác, tiếp đến là xuất
hiện của thế hệ máy tính điện tử .
Công nghệ máy tính hiện đại đã phát triển và được hoàn chỉnh bởi
KONZADZNSE tai
Đức vào năm 1941. Trong cùng thời gian đó ở Mỹ ,hình
thành chuỗi máy tính điều khiển tự động, bước tiếp theo là sử dụng các ống
điện tử cho việc tính toán. Máy tính lớn nhất ENIAC là một hệ thống khổng

8
lồ với hơn 18000 ống điện tử, 1500 thiết bị ngoại vi khác và có mức tiêu thụ
trên 150KW. Sau đó là một chương trình ghi nhớ được phát hiện bởi nhà toán
học John Newman trong năm 1948.
Cho đến năm 1950, có sự thay thế các ống điện tử bằng transito và diot.
Từ trước đến năm 1960 vi mạch điện tử mở đường cho “cách mạng công
nghiệp lần thứ 3"
* Tiếp
đến năm 1970: những yếu tố rủi ro mới xuất hiện đòi hỏi phải có
những điều kiện bảo hiểm mới dẫn đến sự ra đời đơn bảo hiểm thiết bị điện tử
(EEI).
Năm 1980 EEI trở thành hợp đồng bảo hiểm được yêu cầu nhiều nhất
trong lĩnh vực bảo hiểm kĩ thuật.
Không còn nghi ngờ gì n
ữa, sự phát triển nhanh chóng của ngành công
nghiệp điện tử trong thế kỉ 20 cùng với sự xâm nhập có nhiều đổi mới của loại
hình bảo hiểm thiết bị điện tử đã tạo ra loại hình bảo hiểm chuyên dụng này
có tầm quan trọng hiện nay của thế giới bảo hiểm. Ngày nay nhiều doanh
nghiệp không thể cạnh tranh khi thiếu vô số các loại công nghệ mà nghành
điệ
n tử cung cấp và trong trường hợp tổn thất hay hư hỏng thiết bị điện tử của
mình nhiều công ty có thể không có khả năng tồn tại lâu dài. Tình hình này đã
có lợi cho sự phát triển của loại hình bảo hiểm thiết bị điện tử trong quá khứ
và sẽ phát triển liên tục trong nhiều năm tới .
Hiện nay theo ước tính thì tại thị trường bảo hiểm đức, m
ột thị trường
được coi là phát triển nhất vê bảo hiểm kĩ thuật nói chung và bảo hiểm thiết bị
điện tử nói riêng. Năm 1992 ở đức ,bảo hiểm thiết bị điện tử đã tạo ra doanh
thu phí bảo hiểm vượt hơn 450.000.000 U S D chiếm gần 33% tổng doanh thu
phí bảo hiểm kĩ thuật .
Ở Việt nam, bảo hiểm thiết bị điện tử đế
n thời điểm này có thể coi là một
trong những sản phẩm mới nhất được tổng công ty bảo hiểm Việt Nam
(Baoviet) nghiên cứu triển khai bắt đầu vào tháng 10 năm 1996

3. Một số điều kiện thuận lợi của Việt nam trong việc hình thành và
phát triển nghiệp vụ bảo hiểm thiết bị điện tử

9
Để hình thành và phát triển nghiệp vụ bảo hiểm thiết bị điện tử không
thể đơn thuần áp dụng một cách máy móc, một sự tiếp thu thiếu chọn lọc từ
nhiều nước trên thế giới mà ngoài tính lí thuyết đầy thuyết phục thì xuất phát
điểm thứ hai đó là tình hình thực tế, nó có phù hợp có khả thi hay không.
Cũng một nghiệp vụ bảo hiểm nhưng chỉ
có thể thành công ở nước này nhưng
lại hoàn toàn không triển khai được ở nước khác, điều này cũng chính là do
điều kiện nội tại của bản thân mỗi nước, có đặc điểm và ưu thế riêng .Các
điều kiện đó chính là: điều kiện về kinh tế, điều kiện về dân số và điều kiện về
môi trường pháp lí. Ở Việt nam các điều ki
ện đó như sau :
a,Điều kiện về kinh tế

Kinh tế là một trong những biểu thức quan trọng nhất ảnh hưởng trực
tiếp đến quá trình phát triển nghiệp vụ này. Khi một nền kinh tế nghèo nàn thì
điều kiện đầu tư cho cơ sở vật chất sẽ không được trang bị hiện đại do đó sẽ
không có bảo hiểm thiết bị điện tử. Nhưng thực tế là ở Việt nam kinh tế chưa
ph
ải là phát triển song những gì mà nền kinh tế đã đạt được như hiện nay quả
là một điều kiện hết sức thuận lợi cho nghiệp vụ bảo hiểm thiết bị điện tử phát
triển.
Sau khi có chính sách đổi mới về kinh tế, mở cửa ra thị trường thế giới
thì thị trường việt nam về công nghệ thông tin đã được khởi sắc từ
đầu những
năm 90. Bước khẳng định cho sự phát triển thị trường này là tác động vĩ mô
của nhà nước về chính sách công nghệ thông tin. Ngày 7 tháng 4 năm 1993
chính phủ ban hành Nghị định 49/CP xác định chính sách, quan điểm và mục
tiêu của việc phát triển công nghệ thông tin đến năm 2000 .
Các công ty máy tính tầm cỡ thế giới bắt đầu bước vào thị trường Việt
Nam như Compaq, IBM, ACER
Một yếu tố hết sức thuậ
n lợi nữa là khi nền kinh tế Việt nam có mức độ
tăng trưởng cao và ổn định thì đi đôi với nó là yêu cầu phục vụ về thông tin,
phục vụ về sức khoẻ cho người dân, phục vụ sinh hoạt giải trí hết sức được
quan tâm. Đó là các nghành như: truyền hình,thiết bị phục vụ y tế, các trung
tâm điện tử, viện nghiên cứu bắt buộc phải có các thiết b
ị điện tử có giá trị
lớn nhập từ nước ngoài về. Do đó muốn bảo đảm cho chúng trong điều kiện
hết sức phức tạp ở Việt nam, các cơ quan như truyền hình bệnh viện, bưu
điện, phải tham gia nghiệp vụ bảo hiểm thiết bị điện tử.
Bảng 1:Minh hoạ về tốc độ tăng trưởng GDP của Vi
ệt nam trong thời
gian 1994-1998

10
Năm 1994 1995 1996 1997 1998
Tốc độ tăng trưởng(%) 8,8 9,5 9,3 9,0 6,1

Môi trường kinh tế nói chung đang tạo điều kiện thuận lợi cho những
nước kém phát triển như Việt nam những cơ hội thuận lợi để mau chóng hội
nhập vào mạng lưới thông tin quốc tế . Tính toàn cầu hoá của mạng lưới
thông tin quốc tế biến bất cứ một quốc gia nào không phải là chiều đi hay
chiều đến thì cũng trở thành nơi quá cảnh của các luồ
ng thông tin và do đó
việc nâng cao tính đồng bộ của hệ thống thông tin toàn cầu trở thành yêu cầu
khách quan . Với một đất nước hơn 70 triệu dân, mặt bằng thông tin còn
nhiều trống vắng nhưng lại có tốc độ tăng trưởng kinh tế cao, rõ ràng thị
trường công nghệ thông tin Việt nam có sức hút lớn đối với các nhà đầu tư
nước ngoài trong lĩnh vực này . Trong những năm gần đây, dưới tác động củ
a
chính sách đổi mới, tốc độ tăng trưởng kinh tế cao đã mở ra những nhu cầu to
lớnvề thông tin trong hoạt động kinh doanh và mức sống của dân cư được
nâng lên đã kéo theo những nhu cầu mới trong giao tiếp và trao đổi thông tin
không những trong lĩnh vực kinh tế mà còn trong đời sống tình cảm tinh thần
và nâng cao kiến thức. Như vậy, tăng trưởng kinh tế và nâng cao mức sống
đang và sẽ mở rộng thị
trường công nghệ thông tin ngày càng lớn hơn . Đồng
thời chính sách mở cửa và quá độ sang kinh tế thị trường còn hình thành một
khuôn khổ thể chế mới cho các quan hệ hợp tác và đầu tư quốc tế phát triển
hơn nữa, đặc biệt là thời kì sau khi quan hệ giữa Việt nam và Mỹ được bình
thường hoá . Trong lúc đó, việc Việt nam trở thành thành viên chính thức của
ASEAN, quan hệ kinh tế Việt nam với Nhật bản, vớ
i các nước EU và các
quốc gia khác trên thế giới đang tiến triển tốt, đã giúp cho thị trường công
nghệ thông tin có điều kiện không hạn chế trong việc tìm kiếm đối tác liên
doanh đáp ứng kịp thời đòi hỏi của tình hình mới.
b, Điều kiện về dân số
:
Dân số là một trong những vấn đề quan trọng, là cơ sở để công ty PTI dự
đoán tiềm năng trong tương lai, những lỗ hổng của thị trường mà công ty
chưa khai thác được. Do đó nghiên cứu dân số để tìm ra được thực tế của nó
trên các mặt này sẽ là một trong những điều kiện tiên quyết giúp công ty

11
thành công trên con đường kinh doanh bảo hiểm nói chung và nghiệp vụ này nói
riêng.
Bảng 2 :Công nghệ thông tin và dân số các nước
Stt Quốc gia Dân số (triệu
người)
Số máy tính/1000người
1 Việt nam 72 0,5
2 Trung quốc 1178 1,00
3 Ấn độ 903 1,00
4 Philipin 68 4,00
5 Thái lan 59 9,00
6 Hàn quốc 45 37,00
7 Đài loan 21 74,00
8 Nhật 125 97,00
9 Hồng kông 6 101,00
10 Singapo 3 125,00
11 New Zealand 3 147,00
12 Úc 18 192,00
13 Mỹ 258 287,00
Nguồn :PC WoRLD 12/1995
Từ bảng trên cho ta thấy mức cầu của công nghệ thông tin một số nước
trên thế giới. Qua bảng này ta thấy số máy vi tính /1000người dân của Việt
nam là rất thấp, chứng tỏ rằng Việt nam còn là một thị trường công nghệ
thông tin tiềm năng lớn. Do đó bảo hiểm trong lĩnh vực này có nhiều cơ hội
để phát triển và đạt kết quả khả quan trong tương lai.
c,Đ
iều kiện môi trường pháp lí:
Chúng ta không thể phủ nhận được tầm quan trọng của môi trường luật
pháp đối với nghiệp vụ bảo hiểm thiết bị điện tử . Một môi trường luật bảo
hiểm thông thoáng ra đời sớm sẽ có nhiều ưu thế đối với các công ty bảo
hiểm. Ở Việt nam bước đầu đã có được ưu thế đó :
* + Từ cuối nă
m 1993 chính phủ Việt nam ban hành nghị định 100/CP
định hướng phát triển thị trường bảo hiểm Việt nam với việc cho phép các

12
thành phần kinh tế tham gia hoạt động kinh doanh bảo hiểm kể cả thành phần
kinh tế tư nhân và nước ngoài. Cho phép các loại hình bảo hiểm tồn tại và
phát triển bao gồm công ty bảo hiểm gốc, công ty chuyên tái bảo hiểm kể cả
mạng lưới trung gian bảo hiểm (môi giới và đại lí )
Một môi trường như vậy sẽ tạo điều kiện cho ngành bảo hiểm nói chung
và bảo hiểm thiết bị
điện tử nói riêng tồn tại và phát triển một cách ổn định và
vững chắc .
+ Bộ tài chính đã ban hành các văn bản dưới luật nhằm hướng dẫn thực
hiện nghị định 100/CP (thông tư 46):qui định chế độ quản lí tài chính đối với
doanh nghiệp bảo hiểm (thông tư 45):qui định chế độ hoa hồng bảo hiểm
(thông tư 76 và 02 )qui định tái bảo hiểm bắt buộc (qui đị
nh 1235)hướng dẫn
bảo hiểm các công trình xây dựng theo nghị định 117/CP(thông tư 105)
+ Luật bảo hiểm đang được nghiên cứu và soạn thảo
Các văn bản pháp qui khác liên quan đến hoạt động bảo hiểm đang được
soạn thảo ,hoàn chỉnh sửa đổi bổ xung như :chế độ kế toán áp dụng cho các
doanh nghiệp bảo hiểm ,luật đầu tư nước ngoài tại Việt nam
Tất cả nh
ững tình hình trên thể hiện một môi trường pháp lí tương đối ổn
định và đang được hoàn thiện theo một định hướng phù hợp xu thế chung của
thế giới.
B- NỘI DUNG CHỦ YẾU CỦA NGHIỆP VỤ BẢO HIỂM THIẾT BỊ ĐIỆN TỬ
I- ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI BẢO HIỂM CỦA NGHIỆP VỤ BẢO HIỂM THIẾT
BỊ ĐIỆN TỬ
1- Đối tượng bảo hiểm
* Trong bảo hiểm thiết bị điện tử đối tượng bảo hiểm là các loại máy móc
thiết bị điện tử (tức là những máy móc thiết bị có lắp cac mạch và các linh
kiện điện tử )dùng trong các ngành các lĩnh vực khác nhau như bưu điện ,viễn
thông, tin học, y tế, điện ảnh, phát thanh truyền hình ,hàng hải ,hàng không,
khí tượng khoa họ
c kĩ thuật vv
2-Phạm vi bảo hiểm
Phạm vi bảo hiểm thiết bị điện tử được chia ra làm 3 phần. Đó là bảo
hiểm vật chất đối với các thiết bị điện tử, bảo hiểm cho phương tiện lưu trữ dữ

13
liệu bên ngoài và bảo hiểm chi phí gia tăng. Người tham gia bảo hiểm có thể
tham gia một hoặc cả 3 phần này và khi đó mức phí bảo hiểm và quyền lợi
của người được bảo hiểm cũng phụ thuộc tương ứng vào việc lựa chọn các
phạm vi bảo hiểm này.
Phần I-Tổn thất vật chất đối với thiết bị
Công ty PTI sẽ bồi thường cho ngườ
i được bảo hiểm những thiệt hại vật
chất bất ngờ không lường trước xảy ra đối với thiết bị điện tử do các nguyên
nhân như: cháy nổ, sét đánh trực tiếp hoặc gián tiếp, đoản mạch, nước, sơ
xuất của người sử dụng và các sự cố ngẫu nhiên khác không bị loại trừ theo
các điều kiện của đơn b
ảo hiểm .
Ngoài ra, nếu các thiết bị điện tử đã được công ty PTI bảo hiểm theo
phần I nói trên người được bảo hiểm có thể mua bảo hiểm thêm cho các phần
II và III như đề cập dưới đây.
Phần II:Phương tiện lưu trữ dữ liệu bên ngoài
Công ty PTI sẽ bồi thường cho người được bảo hiểm những chi phí để
sửa chữa hoặc thay thế các phương tiệ
n lưu trữ dữ liệu bên ngoài trong trường
hợp chúng bị tổn thất do các rủi ro được bảo hiểm như qui ddịnh ở phần I gây
ra và các chi phí để khôi phục lại những thông tin đã mất .Phần II chỉ có hiệu
lực khi người được bảo hiểm tham gia cả phần I của đơn bảo hiểm này
Phần III-Chi phí gia tăng
Nếu hệ thống xử lí dữ liệu điện tử
(EDP) bị tổn thất vật chất thuộc pham
vi bảo hiểm, công ty PTI sẽ bồi thường cho người được bảo hiểm các chi phí
cho việc tạm thời thuê mướn các thiết bị thay thế cũng như các chi phí về
nhân công và các chi phí gia tăng khác theo qui định của Đơn bảo hiểm nhằm
đảm bảo cho các hoạt động kinh doanh hoặc nghề nghiệp của người được bảo
hiểm không bị gián đoạn khi tổn th
ất xảy ra.
II-RỦI RO BẢO HIỂM VÀ NHỮNG ĐIỂM LOẠI TRỪ
1-Rủi ro bảo hiểm
Có thể nói rủi ro bảo hiểm là một trong những khái niệm cơ bản cùng
với "bảo hiểm", "đối tượng bảo hiểm". Rủi ro bảo hiểm là yếu tố cấu thành

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét