Thứ Ba, 18 tháng 2, 2014

Quản trị rủi ro tài trợ trong hoạt động tín dụng

nhuận sau thuế trên vốn chủ sở hữu bình quân đạt 25,58%, cao hơn năm trước
(19,68%); lãi cơ bản trên cổ phiếu xấp xỉ 2.871 tỷ đồng, tỷ lệ chi trả cổ tức 12%.
Kết quả những hoạt động chủ yếu như sau:
 Công tác huy động vốn: Tổng huy động vốn cả hai thị trường (I và II) của
Vietombank năm 2009 vẫn tăng 17,5%. Huy động từ nền kinh tế đạt
169.457 tỷ quy đồng, tăng 5,9% so với cuối năm 2008. Trong bối cảnh
bị cạnh tranh gay gắt, huy động tiền gửi cả các tổ chức kinh tế bi giảm
(-9%), song huy động từ dân cư lại có mức tăng trưởng khá tốt và đều
đặn (+34,5%)
 Công tác kinh doanh vốn: Trong năm 2009, Vietcombank duy trì hoạt động
cho vay trên thị trường liên ngân hàng và đóng vai trò ngân hàng chủ lực cho
vay hỗ trợ thanh khoản các ngân hàng bạn. Đối với nghiệp vụ thị trường mở,
Vietcombank tích cực tham gia thị trường mở sử dụng tối đa hóa nguồn giấy
tờ có giá, thực hiện giao dịch bán kỳ hạn với NHNN với tổng doanh số đạt
53.267 tỷ VND.
 Hoạt động tín dụng: Dư nợ tín dụng là 141.621 tỷ quy đồng, tăng 25,6%.
Tỷ trọng dư nợ cho vay khách hàng trong tổng sử dụng vốn đạt 55,4%. Tỷ lệ
tăng trưởng tín dụng của Vietcombank thấp hơn nhiều so với tốc độ tăng
trưởng tín dụng chung của toàn ngành Ngân hàng (37,7%), nhưng đảm bảo
được sự cân bằng giữa an toàn và hiệu quả trong hoạt động tín dụng.
Trong năm 2009, Vietcombank đã theo đuổi chính sách tăng trưởng tín dụng bền
vững, coi trọng việc nâng cao chất lượng tín dụng với các biện pháp : cơ cấu lại
danh mục đầu tư, củng cố quan hệ khách hàng…; áp dụng kỹ thuật hiện đại vào
quản trị danh mục đầu tư, kiểm soát chặt chẽ chất lượng tín dụng, quản trị rủi ro
v.v Kết quả là chất lượng tín dụng của Vietcombank trong năm 2009 được cải
thiện đáng kể. Đến 31/12/09 tỉ lệ nợ xấu của Vietcombank là 2,47% - thấp hơn
nhiều so với mức 4,61% vào cuối năm 2008, thấp hơn mức dự kiến mà Đại hội
cổ đông cho phép là 3,5%.
 Hoạt động thanh toán xuất nhập khẩu: Năm 2009 chịu tác động mạnh
của cuộc khủng hoảng kinh tế và suy thoái toàn cầu, hoạt động xuất nhập
khẩu của cả nước gặp khó khăn và bị sụt giảm. Trong bối cảnh chung, hoạt
động thanh toán của Vietcombank cũng không tránh khỏi sự tụt giảm. Doanh
số thanh toán xuất nhập khẩu của Vietcombank đạt 25,62 tỷ USD, giảm
23,8% so với năm 2008. Mặc dù vậy, Vietcombank vẫn duy trì thị phần lớn
trong hoạt động thanh toán XNK : chiếm 20,4% trong tổng kim ngạch XNK
của cả nước năm 2009.
 Hoạt động thẻ: Vietcombank là ngân hàng có số lượng thẻ phát hành và
doanh số thanh toán không ngừng gia tăng qua các năm và luôn giữ vị trí dẫn
đầu về các chỉ tiêu này trên thị trường thẻ Việt Nam. Tổng số lượng thẻ do
Vietcombank phát hành được 966.243 thẻ, tăng 11,7% so với năm 2008.
Doanh số thanh toán thẻ quốc tế đạt 567 triệu USD, đạt 105,5% kế hoạch
năm. Vietcombank hiện chiếm hơn 53% thị phần thanh toán thẻ quốc tế, gần
36% thị phần phát hành thẻ quốc tế, 21% thị phần phát hành thẻ nội địa và
hơn 33% thị phần doanh số sử dụng thẻ các loại.
 Kinh doanh ngoại tệ: Năm 2009 là năm rất khó khăn cho hoạt động kinh
doanh ngoại tệ do tình hình tỷ giá và thị trường ngoại tệ có nhiều biến động
lớn, tình trạng căng thẳng cung ngoại tệ kéo dài. Do vậy, tổng doanh số mua
bán ngoại tệ của Vietcombank trong năm 2009 giảm 14,3% so với năm 2008.
Trong năm, Vietcombank đã bám sát thị trường, liên tục đưa ra các chính
sách chỉ đạo để thích ứng với sự thay đổi của thị trường, đồng thời áp dụng
các biện pháp điều tiết mua ngoại tệ để hạn chế rủi ro. Kết quả hoạt động
kinh doanh ngoại tệ trong năm đã đóng góp một nguồn thu đáng kể trong
tổng thu nhập của Vietcombank.
 Ngân hàng bán lẻ: Trong năm 2009, Vietcombank đã xây dựng các chính
sách áp dụng cho khách hàng cá nhân, điều chỉnh theo sát diễn biến của thị
trường, từ khuyến mại, chăm sóc khách hàng tới các chính sách giá, phí, lãi
suất, cũng như cung cấp hàng loạt các sản mới. Kết thúc năm, các chỉ tiêu kế
hoạch bán lẻ đã được thực hiện khá tốt và tương đối toàn diện. Tính đến
ngày 31/12/09, huy động vốn từ dân cư tăng 34,5% so với 31/12/08; Tổng dư
nợ cho vay tăng 36% ; Tổng doanh số chuyển tiền đến trực tiếp cho khách
hàng cá nhân trong năm 2009 là 1.016 triệu USD; doanh số chuyển tiền cá
nhân gián tiếp qua các doanh nghiệp và ngân hang làm dịch vụ đạt khoảng
300 triệu USD; Các dịch vụ điện tử được đẩy mạnh và quan tâm.
Dịch vụ Internet B@nking: ; SMS B@nking, VCB-Securities-Online v.v
đều có số khách hàng sử dụng gia tăng cả về số lượng và doanh số .
 Hoạt động góp vốn đầu tư, liên doanh, mua cổ phần: Đến 31/12/2009,
Vietcombank tham gia góp vốn vào 29 đơn vị. Tổng vốn góp đầu tư, liên
doanh, mua cổ phần đạt 3.527 tỷ đồng (không bao gồm phần vốn góp vào
các công ty trực thuộc), chiếm 29,1% Vốn điều lệ. Vốn góp vào liên doanh
với các đối tác nước ngoài chiếm 30,5%, góp vốn cổ phần với các TCTD
trong nước chiếm 55,4%, góp vốn cổ phần với các TCKT trong nước khoảng
14,1%. Tổng thu nhập từ hoạt động góp vốn, mua cổ phần trong năm 2009
đạt 454,7 tỷ đồng.
b)Khả năng cạnh tranh : Được đánh giá là ngân hàng nội địa tốt nhất Việt Nam
trong những năm vừa qua, và với số lượng tài khoản cũng như luôn dẫn đầu về số
lượng thẻ thanh toán quốc tế và nội địa, Vietcombank chứng tỏ khả năng cạnh tranh
của mình trên thị trường.

1.2.3 Đánh giá chung về ngân hang TMCP Ngoại Thương:
1.2.3.1 Thuận lợi:
 Ngân hàng luôn có mặt bằng LS cho vay thấp. Hoạt động giải ngân vốn ODA
các NH được chỉ định phục vụ thu được một số lợi ích trong kinh doanh ngoại
tệ, hoạt động tín dụng và thanh toán, đặc biệt là trong huy động vốn vì thông
qua việc rút vốn ODA ngân hàng phục vụ đã thu hút được lượng tiền ngoại tệ
(vốn ODA) và nội tệ (các nhà thầu) khá lớn duy trì trên các tài khoản mở tại
NH phục vụ với chi phí rất thấp.
 Bên cạnh đó, các NHTM nhà nước luôn nhận được sự hỗ trợ từ NHNN. Gần
đây, NHNN tuyên bố sẽ đáp ứng nhu cầu vay vốn thiếu hụt thanh khoản tạm
thời của các NHTM nhà nước với LS thích hợp và thời gian phù hợp (chắc LS
thấp hơn khá nhiều so mặt bằng LS huy động thị trường và thời gian dài hơn
cho vay tái cấp vốn và chiết khấu với các NHTM cổ phần). Các NHTM cũng
chủ định hướng khai thác tối đa kênh hỗ trợ của NHNN.
 Một trong những thành công nhất trong năm 2009 là hoạt động của hệ thống
các tổ chức tín dụng (TCTD) Việt Nam đảm bảo an toàn, ổn định và có bước
tăng trưởng khá, năng lực tài chính và quy mô hoạt động tăng lên. Tính thanh
khoản của hệ thống được đảm bảo, đáp ứng đủ nhu cầu thanh toán của nền
kinh tế.
 Trong các thời điểm khác nhau, ngân hàng nhà nước (NHNN) cũng linh hoạt
điều chỉnh giảm và tăng các mức lãi suất chủ đạo, lãi suất tái cấp vốn và lãi
suất tái chiết khấu, tạo điều kiện cho các TCTD giảm và tăng lãi suất huy
động, cho vay phù hợp mục tiêu điều tiết lượng vốn huy động và cho vay tín
dụng theo hướng nới lỏng một cách thận trọng.
1.2.3.2 Khó khăn:
 Khó khăn lớn nhất của năm nay đó là vốn, kênh dẫn vốn mà các ngân hàng đều
trông chờ hiện nay vẫn nằm ở nguồn tiền gửi của dân cư và tổ chức.
 Do tác động của các giải pháp kích thích kinh tế, nhu cầu vay vốn của các
doanh nghiệp, hộ sản xuất tăng cao, kéo theo tăng trưởng tín dụng của hệ
thống ngân hàng ở mức cao, trong khi huy động vốn gặp nhiều khó khăn, ảnh
hưởng đến khả năng cân đối vốn của các TCTD. Lãi suất huy động tăng cao
trong khi trần lãi suất cho vay bị khống chế bởi lãi suất cơ bản làm chênh lệch
giữa lãi suất huy động và cho vay bị thu hẹp, gây khó khăn cho việc trích lập
dự phòng rủi ro và ảnh hưởng đến kết quả kinh doanh của các TCTD. Trong
khi thị trường ngoại hối, thị trường vàng và cán cân thanh toán quốc tế còn
nhiều diễn biến không thuận lợi, nhất là vấn đề cân đối cung - cầu ngoại tệ.
 Hạ lãi suất tái cấp vốn, lãi suất tái chiết khấu! Trong khi bản thân nhiều ngân
hàng đang thiếu giấy tờ có giá, tỷ lệ dự trữ bắt buộc hiện là 3% - mức được
các tổ chức quốc tế khuyến nghị là phù hợp. Nếu hạ bớt 1%, các ngân hàng có
thêm vài trăm tỷ đồng, nhưng đây chỉ là con số “muối bỏ biển” so với nhu cầu
vốn của nền kinh tế. Còn nếu cho phép sử dụng vốn liên ngân hàng (vốn có kỳ
hạn rất ngắn) để các ngân hàng cho vay, trong trường hợp một ngân hàng rủi
ro trong thanh toán, trả nợ, sẽ dẫn đến phản ứng dây chuyền, đó sẽ là một
quyết định vô cùng mạo hiểm với NHNN.
1.2.4 Định hướng phát triển:
Căn cứ các Nghị quyết của Chính phủ và định hướng của NHNN trong năm
2010 đối với hoạt động ngân hàng, trên cơ sở kết quả hoạt động kinh doanh đạt
được trong năm vừa qua, Ban Lãnh đạo Vietcombank xác định mục tiêu và nhiệm
vụ trọng tâm trong năm 2010 như sau:
Các chỉ tiêu hoạt động chính
• Tổng tích sản Tăng 15,0%
• Huy động vốn từ nền kinh tế Tăng 23,0%
• Dư nợ tín dụng Tăng 20,0%
• Nợ xấu 1 dưới 3,5%
• Lợi nhuận trước thuế đạt 4.500 tỷ đồng
• Mức chi trả cổ tức (đồng/cổ phiếu) 1.200 đồng
Với phương châm hoạt động “ Tăng tốc - An toàn - Chất lượng - Hiệu quả”,
toàn hệ thống Vietcombank tập trung thực hiện các nhiệm vụ trọng tâm sau đây:
1. Đột phá mạnh trong huy động vốn. Đặt nhiệm vụ huy động vốn làm nhiệm vụ
trọng tâm và ưu tiên hàng đầu của năm nhằm mở rộng và tăng quy mô hoạt động;
2. Tăng cường hoạt động ngân hàng bán buôn, đẩy mạnh mảng hoạt động ngân
hàng bán lẻ nhằm cải thiện cơ cấu nguồn vốn và sử dụng vốn theo hướng tăng tính
ổn định và phân tán rủi ro;
3. Tăng trưởng trong hoạt động kinh doanh đi đôi với việc bảo đảm tuân thủ các
giới hạn an toàn trong hoạt động ngân hàng; Phát huy tối đa lợi thế của
Vietcombank trong các hoạt động truyền thống; Đảm bảo sự cân đối hài hoà giữa
huy động và sử dụng vốn;
4. Tiếp tục cơ cấu lại tổ chức theo mô hình khối tại HSC cũng như chuyển hoá
cơ cấu tổ chức của các chi nhánh. Thực hiện nghiêm túc kỷ cương điều hành và ý
thức tuân thủ, chấp hành của các cán bộ trong toàn hệ thống;
5. Tiếp tục đổi mới, hiện đại hoá công nghệ nhằm đáp ứng yêu cầu ngày càng
cao của khách hàng trong kinh doanh và hỗ trợ công tác quản trị, điều hành;
6. Đẩy mạnh các quan hệ đối ngoại; Thực hiện tốt hoạt động thông tin tuyên
truyền, hoạt động truyền thông về hình ảnh, thương hiệu và sản phẩm của
Vietcombank trong hệ thống cũng như trên thị trường;
7. Ban hành và hoàn thiện các quy trình, quy chế của Vietcombank để phù hợp
với các quy định của pháp luật, đi dần tới chuẩn mực quốc tế và nhằm giảm thiểu
các rủi ro trong hoạt động.
8. Tiếp tục chọn đối tác chiến lược theo tiêu chí đã định, phát hành cổ phiếu tăng
vốn Điều lệ nâng hệ số an toàn (CAR) 10%
1.3 Những rủi ro trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng:
Trong các nghiệp vụ ngân hàng thực hiện hằng ngày có rất nhiều nguy cơ
tiềm ẩn có thể ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động của ngân hàng. Theo nghiên cứu
của nhà chuyên môn trong lĩnh vực ngân hàng thì có nhiều loại rủi ro khác nhau
nhưng về bản chất có thể chia ra 4 nhóm rủi ro chính:
• Rủi ro thị trường
• Rủi ro hoạt động (rủi ro tác nghiệp)
• Rủi ro thanh khoản
• Rủi ro tín dụng
• Rủi ro thị trường là rủi ro nảy sinh từ sự mất ổn định liên quan tới những thay đổi
về giá cả thị trường, tỷ giá và lãi suất ví như là rủi ro lãi suất, rủi ro ngoại hối, rủi
ro chứng khoán, rủi ro hàng hóa.
− Rủi ro lãi suất là nguy cơ biến động nguy cơ thu nhập và giá trị ròng của ngân hàng
khi lãi suất thị trường thị tường có biến động, sẽ tác động bất lợi tiềm ẩn ảnh hưởng
tới lợi nhuận và giá trị kinh tế do các thay đổi về lãi suất. Nguyên nhân chủ yếu là
do có độ lệch lãi suất, rủi ro về biên độ lãi suất tín dung, rủi ro lãi suất cơ bản và rủi
ro quyền chọn.
Ở đây, rủi ro độ lệch lãi suất phát sinh khi có những chênh lệch trên số lượng
tài sản Có, tài sản Nợ và các tài sản ngoại bảng đáo hạn hay được định giá cho một
kỳ hạn định trước theo thỏa thuận với khách hàng. Về rủi ro về biên độ lãi suất tín
dụng xảy ra khi có sự thay đổi về biên độ lãi suất tín dụng do thay đổi quan niệm,
nhìn nhận của thị trường về chất lượng tín dụng và tính thanh khoản ở cấp độ chung
hay ở một khía cạnh cụ thể. Còn rủi ro lãi suất cơ bản phát sinh khi các chỉ số định
giá lãi suất chuẩn định giá sản phẩm thay đổi. Còn lại thì rủi ro quyền chọn xuất
hiện từ ảnh hưởng về lãi suất và thay đổi về giá trị thị trường của quyền chọn trong
danh mục đầu tư.
− Rủi ro ngoại hối là tác động bất lợi tiểm ẩn ảnh hưởng trực tiếp đến lợi nhuận và giá
trị kinh tế của ngân hàng do biến động tỷ giá trong cả thị trường ngoại hối giao ngay
lẫn có kỳ hạn và trong thị trường quyền chọn. Nguyên nhân dẫn đến rủi ro trên thị
trường giao ngay là do tổng giá trị hiện tại của tài sản Có không ngang bằng với với
tổng giá trị tài sản Nợ. Còn rủi ro ngoại hối kỳ hạn xảy ra đối với một loại tiền tệ cụ
thể khi có chêch lệch về kỳ hạn mua/bán so với loại tiền tệ khác.
− Rủi ro chứng khoán là tác động tiêu cực tới lợi nhuận của ngân hàng do bíên động
về giá cổ phiếu nào đó hay biến động chung của thị trường chứng khoán. Rủi ro này
xảy ra khi thực hiện mua bán chứng khoán cho chính mình trong hoạt động môi
giới.
− Rủi ro hàng hóa ảnh hưởng tới lợi nhuận và giá trị kinh tế do biến động giá hàng
hóa.
• Rủi ro hoạt động là khả năng tổn thất gây ra bởi không có hoặc có không đầy đủ các
quy trình nội bộ, con người, hệ thống hoặc từ những sự kiện bên ngoài. Có khi rủi
ro này do các lý do công nghệ và nhân viên cố tình làm sai trái do thiếu minh mẫn.
Chẳng hạn như thông tin sai sự thật về khách hàng, về tình hình tài chính, tình hình
kinh doanh, tính thanh khoản, quản trị điều hành của doanh nghiệp, uy tín của
doanh nghiệp; cán bộ ngân hàng thông đồng với khách hàng lập hồ sơ khống để
vay vốn; cán bộ ngân hàng nâng giá trị tài sản đảm bảo để cho vay mục đích nhận
“thù lao”; cán bộ ngân hàng quản lý khách hàng vay vốn trực tiếp thu nợ gốc và lãi
vay ngân hàng nhưng chỉ nộp lãi vào ngân hàng, nợ gốc giữ lại chi tiêu cá nhân
hoặc hệ thống dữ liệu bị tin tặc tấn công, bị cướp
• Rủi ro thanh khoản có thể xét dưới góc độ tài sản và dưới góc độ ngân hàng. Nhưng
trong phạm vi nghiên cứu là lĩnh vực ngân hàng ta chỉ xét ở góc độ ngân hàng. Rủi
ro thanh khoản là khả năng ngân hàng không có được đủ vốn khả dụng (cung thanh
khoản) với chi phí hợp lí vào đúng thời điểm mà ngân hàng cần để đáp ứng cầu
thanh khoản cũng chính là khả năng và yêu cầu về thanh khoản thể hiện trong
nguồn cung và cầu thanh khoản. Rủi ro xảy ra khi cung về tiền ít hơn cầu về tiền và
cũng liên quan đến loại công cụ tài chính có thể chuyển thành tiền mặt.
• Rủi ro tín dụng là khoản lỗ tiềm tàng vốn khi ngân hàng cho các đối tượng cần vốn
vay mà khi đến hạn không có khả năng trả hay trả không đúng hạn vì bất cứ lí do
nào. Hoạt động tín dụng là hoạt động cơ bản làm phát sinh rủi ro tín dụng và thêm
nữa là do các danh mục đầu tư tín dụng, hoạt động kinh doanh tiền tệ.
 Khi nhắc đến ngân hàng, mọi người sẽ nghĩ ngay đến việc là nơi để
gửi tiền nhưng nghiệp vụ chính của ngân hàng là thực hiện các
hoạt động cho vay, tài trợ để tạo điều kiện cho các doanh nghiệp
hay công ty vay vốn để kinh doanh hay xoay xở trong lúc đồng tiền
chưa nhàn rỗi. Và trong tất cả các rủi ro trên, rủi ro thường gặp
nhất của ngân hàng là rủi ro tín dụng vì hoạt động cho vay chiếm
từ 70% - 90% tổng tài sản và có một tỷ lệ tương đương tổng thu
nhập của ngân hàng.
− Rủi ro tín dụng gồm: rủi ro đọng vốn và rủi ro mất vốn. Có rất nhiều tiêu chí thể
hiện là ngân hàng đang mắc phải rủi ro tín dụng như là: nợ xấu và tỷ lệ nợ xấu trên
tổng dư nợ; tỷ lệ nợ xấu trên vốn chủ sở hữu; tỷ lệ nợ xấu trên quĩ dự phòng tổn
thất; nợ đáng nghi ngờ (có vấn đề) – có khả năng chuyển thành nợ xấu cao.
− Nợ quá hạn chính là thước đo quan trọng nhất đánh giá sự lành mạnh của thể chế và
quá trình hoạt động của ngân hàng. Nó tác động tới tất cả các lĩnh vực hoạt động
chính của ngân hàng.
• Các nguyên nhân gây ra rủi ro tín dụng:
− Nguyên nhân khách quan:
• Từ chính trị-pháp luật:
Các khoản vay chính sách.
Luật pháp thường xuyên thay đổi, luật không nhất quán, đôi khi đềiu luật này
mâu thuẫn với điều luật kia.
• Từ môi trường kinh tế:
Lạm phát, thất nghiệp, tỷ giá,  ảnh hưởng tới hoạt động của doanh
nghiệp  gây nguy cơ mất vốn hay đọng vốn.
− Nguyên nhân từ phía khách hàng: khi khách hàng là các doanh nghiệp sản xuất. mối
quan hệ giữa doanh nghiệp sản xuất với khách hàng, nhà cung, của họ sẽ ảnh hưởng
tới hoạt động cho vay của ngân hàng. Và khi khách doanh nghiệp không thể thực
hiện đúng các thỏa thuận giữa các bên trong hợp đồng thương mại kinh doanh thì
khả năng có được tiền và thu nhập từ hoạt động kinh doanh là rất khó. Điều này sẽ
dẫn đến việc thanh tóan chậm hoặc không thanh toán cho ngân hàng và ngân hàng
đã thất bại trong hoạt động cho vay.
− Nguyên nhân từ phía ngân hàng:
• Chính sách tín dụng không hợp lý
• Vấn đề trong thẩm định tín dụng – vấn đề đo lường RRTD
• Vấn đề trong giám sát tín dụng
• Vấn đề rủi ro đạo đức của cán bộ tín dụng
• Vấn đề trong áp dụng các công cụ phòng chống rủi ro tín dụng
− Nguyên nhân từ phía bảo đảm tín dụng:
• Do giá cả biến động, khó định giá,
• Tranh chấp về pháp lý,
• Mất khả năng tài chính, tài sản giảm giá trị.
Hiện nay, hoạt động cho vay trong các ngân hàng vẫn là chủ yếu, chiếm từ
70% đến 90% tổng tài sản có và một tỷ lệ tương đương trong tổng thu nhập của hệ
thống ngân hàng. Đồng thời, tỷ lệ nợ xấu mặc dù đã được cải thiện song vẫn ở mức
cao và đang có xu hướng tăng lên.
2. CÁC PHƯƠNG PHÁP QUẢN TRỊ RỦI RO TÀI TRỢ
2.1 Các phương pháp quản trị rủi ro tài trợ trên lý thuyết:
 Để hạn chế và giảm thiểu các rủi ro tài trợ, các doanh nghiệp, mà
trong trường hợp này là các ngân hàng phải tiến hành tìm hiểu, điều
tra và phân tích thật kỹ đối tượng xin tài trợ. Bằng các nghiệp vụ
chuyên môn của mình, các ngân hàng sẽ phân tích các yếu tố căn bản
sau đây trước khi ra quyết định tài trợ :
• Đối với bản thân ngân hàng:
 Nguồn lực:
o Ngân hàng có chính sách, qui trình tín dụng hoàn thiện
và đảm bảo về chất lượng.
o Khả năng tài chính của ngân hàng; khả năng thanh
toán và các khoản nợ khó đòi của ngân hàng
o Hệ thống thông tin phòng ngừa rủi ro của ngân hàng
o Năng lực thẩm định dự án của cán bộ trong bộ phận
quản trị rủi ro tài trợ
 Đa dạng hóa các thành phần khách hàng xin tài trợ theo hướng tăng tỷ
trọng khách hàng có tài sản đảm bảo, nhất là đối với khách hàng thuộc thành
phần kinh tế ngoài quốc doanh và cho vay bán lẻ. Thực hiện phân tán rủi ro.
 Mở rộng cho vay đối với các khách hàng đang sản xuất kinh doanh
trong các ngành kinh tế mũi nhọn, kinh doanh mặt hàng có thị trường tiêu
thụ ổn định; cho vay thận trọng đối với các mặt hàng có nhiều biến động về
thị trường giá cả.
• Đối với khách hàng
 Yếu tố cá nhân/công ty: xem xét tư cách, địa vị xã hội của khách
hàng để đảm bảo khả năng hoàn trả.
 Kinh nghiệm: khách hàng cần tài trợ vốn cho một dự án kinh
doanh nào đó, ta cần phải biết chính xác khách hàng đó có
chuyên môn hay kinh nghiệm trong lĩnh vực kinh doanh đó
không (phân tích các yếu tố rủi ro trong kinh doanh của khách
hàng)
 Các chỉ số tài chính của khách hàng: yêu cầu khách hàng cung
cấp các báo cáo tài chính mới nhất và chính xác nhất. Dựa trên
cơ sở đó, tính tóan các chỉ tiêu tài chính để xác định
o Điểm mạnh, điểm yếu trong việc quản lý nguồn vốn của
khách hàng
o Khả năng sinh lợi và khả năng hoàn trả nợ của khách
hàng.
o Các chỉ tiêu tài chính quan trọng có liên quan trong việc
phân tích như: tỷ số lợi nhuận, tỷ số thanh tóan nợ, các tỷ
số hoạt động của doanh nghiệp………
 Thông tin bên ngoài: xem xét các yếu tố từ bên ngoài để kiểm
tra tư cách và năng lực của khách hàng xin tài trợ
 Tài sản đảm bảo : thường là những tài sản dễ bán có giá trị,
được dùng thế chấp khi khách hàng xin tài trợ
• Đối với đối tượng tài trợ: các dự án kinh doanh
o Mang tính hợp pháp: ngân hàng cần phải xem xát dự án xin tài
trợ có chính đáng không, có phù hợp với pháp luật nhà nước
hay không
o Qui mô của dự án: căn cứ vào chính tài sản và năng lực sinh lợi
của dự án
 Số tiền cần được tài trợ cho dự án
 Kỳ hạn trả nợ
 Lãi suất của dự án cho vay
o Mang tính kinh tế: xem xét khả năng sinh lợi của dự án căn cứ
chủ yếu vào dòng ngân lưu ròng của chính dự án đó. Các chỉ số
có liên quan như:
 Hiện giá thuần
 Tỷ suất lợi nhuận
 Tỷ suất sinh lời nội bộ
 Thời gian hoàn vốn có chiết khấu của dự án
Ý nghĩa của việc phân tích các yếu tố trên:
Với việc phân tích đầy đủ, chính xác đối tượng xin tài trợ trước khi tiến
hành tài trợ sẽ giúp ngân hàng rà soát và phân loại và đánh giá đối tượng xin
tài trợ, từ đó mới đề ra quyết định có tài trợ hay không? Điều này giúp giảm
thiểu các rủi ro mà ngân hàng có thể gặp về sau.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét