LỜI MỞ ĐẦU
Hội nhập kinh tế quốc tế đã và đang trở thành một trong những xu thế của quan hệ
kinh tế quốc tế hiện đại. Những phát triển mạnh mẽ về khoa học công nghệ đã góp
phần thúc đẩy quá trình quốc tế hoá nền kinh tế thế giới. Thương mại thế giới đã
tăng lên nhanh chóng. Quá trình này thể hiện không chỉ trong lĩnh vực thương mại
mà cả trong cả lĩnh vực sản xuất, đầu tư cũng như các lĩnh vực văn hoá, xã hội
khác.
Hoà trong bối cảnh đó cùng với phương châm “đa dạng hoá, đa phương hoá quan
hệ” và “là bạn với tấc cả các nước trong cộng đồng thế giới, phấn đấu vì hoà bình,
độc lập và phát triển”, Việt Nam đã thiết lập quan hệ ngoại giao với hơn 160 nước
và hầu hết các tổ chức quốc tế và khu vực quan trọng. Với việc gia nhập ASEAN
(7 – 1995), ký Hiệp định khung về hợp tác kinh tế với EU (7 – 1995), tham gia
APEC (11 – 1998), và việc Việt Nam chính thức trở thành viên WTO từ ngày 11
tháng 12 năm 2006. Việt Nam đã và đang từng bước vững chắc hội nhập sâu
rộng vào nền kinh tế khu vực và thế giới.
Sau một năm Việt Nam trở thành thành viên của tổ chức quốc tế WTO, Nước ta
đã có những mặt tịch cực như xuất khẩu hàng may mặc và một số mặt vẫn còn
hạn chế.
Vì vậy, qua việc tham khảo tài liệu và những kiến thức đã học ở trường, em chon
đề tài Phân tích những ảnh hưởng sau một năm gia nhập WTO ở Việt Nam.
Em rất mong được sự góp ý, giúp đỡ của thầy để bài viết được hoàn thiện hơn.
Em xin chân thành cảm ơn!
1
PHẦN I: NHỮNG NHẬN XÉT CHUNG
1. về mặt thị trường
Sau gần 1 năm trở thành thành viên của Tổ chức Thương mại thế giới (WTO), nền
kinh tế Việt Nam đã có nhiều bước chuyển đáng mừng như hội nhập sâu hơn, thu
hút đầu tư nước ngoài tăng mạnh Song, bên cạnh đó, cũng nảy sinh hàng loạt
vấn đề liên quan đến phát triển kinh tế cần được giải quyết.
1.1 Xuất khẩu tăng, nhưng không đột biến
Theo ông Trương Đình Tuyển, nguyên Bộ trưởng Bộ Thương mại, trong 11 tháng
năm 2007, kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam đã đạt 43,6 tỷ USD, tăng 30% so với
cùng kỳ năm 2006 và nếu xuất khẩu dầu thô không giảm thì tốc độ xuất khẩu còn
tăng cao hơn nữa. Ông Tuyển nhận xét, một biểu hiện đáng mừng mà từ trước đến
nay chưa từng xảy ra là tốc độ tăng trưởng xuất khẩu của khối doanh nghiệp (DN)
trong nước đã tăng cao hơn so với DN có vốn đầu tư nước ngoài (22% so với
18,6%). Một điểm nhấn đáng chú ý nữa là, sau khi đã được dỡ bỏ hạn ngạch, kim
ngạch xuất khẩu hàng dệt may có thể đạt trên 7,5 tỷ USD và nhiều khả năng sẽ đạt
10 tỷ USD vào năm 2010. Bên cạnh đó, mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam đã đa
dạng hơn rất nhiều và thị trường xuất khẩu cũng đã được mở rộng hơn.
Mặc dù vậy, theo ông Tuyển, xuất khẩu của Việt Nam trong gần 1 năm qua vẫn
chưa tăng đột biến. “Điều này đã được tôi dự báo từ trước khi Việt Nam gia nhập
WTO. Và 1 năm sau dự báo này đã đúng. Điều đó cho thấy, chúng ta đã có sự thay
đổi ở nhiều mặt, song còn chậm trễ”, ông Tuyển nói. Cụ thể, cơ cấu kinh tế và sản
phẩm của Việt Nam thay đổi còn chậm; tỷ lệ của hàng hoá có hàm lượng kỹ thuật
và tri thức trong tổng hàng hoá xuất khẩu chưa tăng mạnh, nên kim ngạch xuất
khẩu chưa tăng đột biến “Tuy kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may là lớn, song tỷ
lệ nguyên liệu nhập khẩu lại chiếm tới 80%. Giá trị sản phẩm xuất khẩu của chúng
2
ta vẫn chủ yếu được tạo ra ở khâu gia công”, ông Tuyển nói.
1.2 Còn nhiều vấn đề cần giải quyết
Ông Tuyển nhận xét, đã có nhiều cơ hội được mở ra sau khi Việt Nam trở thành
thành viên của WTO như thị trường xuất khẩu được mở rộng hơn; đổi mới trong
nước được thúc đẩy nhanh và hình thành đồng bộ những yếu tố kinh tế thị trường;
có vị thế mới để triển khai đường lối đối ngoại Thế nhưng, vẫn còn nhiều vấn đề
cần phải giải quyết, bởi chúng ta cũng đang gặp nhiều thách thức. Cụ thể là cạnh
tranh diễn ra gay gắt ở cả 3 cấp độ sản phẩm và sản phẩm, DN và DN, chính phủ
và chính phủ. “Các sản phẩm của DN không chỉ gặp sự cạnh tranh rất mạnh ở thị
trường nước ngoài, mà ngay cả ở thị trường trong nước. Mặc dù vậy, nhiều yếu tố
liên q`uan tới khả năng cạnh tranh của DN lại nằm ngoài khả năng của DN như
pháp luật, bộ máy thực thi pháp luật, cơ sở hạ tầng và nguồn nhân lực. Điều này lại
nằm trong việc hoạch định chính sách của Chính phủ”, ông Tuyển nói.
Một trong những nguyên nhân của nhập siêu tăng mạnh trong thời gian qua là do
năng lực cạnh tranh của nền kinh tế còn yếu, cơ cấu sản xuất còn lạc hậu. Bên
cạnh đó, việc phân bổ nguồn lực vẫn còn nhiều điểm chưa hợp lý. Ông Tuyển cho
biết, hiện giá thép trong nước đang phụ thuộc rất lớn vào nhập khẩu phôi và giá
phôi của nước ngoài, song đầu tư vào sản xuất thép của các DN Việt Nam lại tập
trung vào cán thép, chứ không phải là sản xuất phôi từ quặng. Việc dư thừa công
suất cán thép là một ví dụ.
Trong bối cảnh nền kinh tế hội nhập sâu thì tác động của giá cả thế giới là điều khó
tránh khỏi. Trên thực tế, các nước khác cũng chịu sự tác động này, nhưng lại ít
biến động về giá như ở Việt Nam. Một trong những nguyên nhân mà ông Trương
Đình Tuyển chỉ ra là do sản xuất ở trong nước phụ thuộc quá nhiều vào nhập khẩu
và còn nhiều yếu kém trong quản lý tiền tệ.
“Chúng ta đã tung một lượng tiền đồng lớn ra để mua USD nhằm duy trì tỷ giá,
3
nhưng lại chưa có biện pháp để thu tiền về dẫn đến lượng tiền lưu thông trên thị
trường còn rất lớn. Công tác quản lý nhà nước về thị trường trong bối cảnh thế giới
toàn cầu hoá sẽ phức tạp hơn rất nhiều. Quá trình sản xuất là cả một dây chuyền
lớn với sự tham gia của nhiều nước và nhiều biến số phức tạp, trong đó có cả biến
số về sự tác động của môi trường và tương tác phát triển. Nếu không quản lý tốt thị
trường tài chính thì việc điều hành nền kinh tế sẽ rất khó khăn”, ông Tuyển lo ngại.
Nguyên Bộ trưởng Bộ Thương mại kết luận: “Một năm là chưa đủ thời gian để
đánh giá những tác động của việc gia nhập WTO với nền kinh tế nước ta. Tuy
nhiên, cơ hội để có sự bứt phá chỉ là 5 năm. Việc quan trọng nhất trong thời điểm
này là phải hành động, bởi chúng ta đang sống trong một thế giới có nhiều biến đổi
rất nhanh”.
PHẦN II: NHỮNG ẢNH HƯỞNG
4
quốc tế về kinh tế, đặc biệt thông qua tự do hóa hoạt động thương mại và đầu tư.
Việc gia nhập WTO là một bước ngoặt trong quá trình phát triển và hội nhập này.
Việt Nam đã nhận thấy hội nhập quốc tế và việc gia nhập WTO tạo ra những cơ
hội phát triển cho các ngành khác nhau, đồng thời cũng đem lại những thách thức
và một số ngành có thể phải chịu những tác động tiêu cực.
Sau 20 năm cải cách và 10 năm hội nhập quốc tế và khu vực, chính sách và hệ
thống pháp luật về thương mại ở Việt Nam tiếp tục thay đổi đáng kể sau khi gia
nhập WTO. Quyền kinh doanh tiếp tục được mở rộng hơn đối với cả các doanh
nghiệp trong nước và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (FDI). Thuế nhập
khẩu được cam kết ở toàn bộ 10,600 dòng thuế trong cả hai lĩnh vực nông nghiệp
và công nghiệp. Ngay sau khi gia nhập WTO, Việt Nam đã xóa bỏ trợ cấp trực tiếp
đối với xuất khẩu hàng nông sản và một số loại trợ cấp trong các ngành công
nghiệp. Chính sách đối với FDI, khu vực tư nhân và xúc tiến doanh nghiệp nhỏ và
vừa đã thay đổi và tạo ra môi truờng kinh doanh cạnh tranh và thông thoáng hơn
so với trước.
Nhờ cải cách trong nước và quá trình hội nhập, các lĩnh vực công nghiệp, dịch vụ
và nông nghiệp ở Việt Nam đã đạt được những phát triển tích cực trong những
năm vừa qua, đặc biệt là trong năm 2006-2007, tạo nên kỷ lục về tăng trưởng
GDP, xuất nhập khẩu và thu hút đầu tư nước ngoài trong năm đầu Việt Nam trở
thành thành viên của WTO.
Cơ cấu kinh tế của Việt Nam đã chuyển dịch dần từ nông nghiệp sang dịch vụ và
công nghiệp. Tỷ trọng của nông nghiệp trong GDP đã giảm trong khi tỷ trọng của
dịch vụ và công nghiệp tăng lên. Số lượng các doanh nghiệp công nghiệp, dịch vụ
và nông nghiệp tăng liên tục, đặc biệt là trong năm 2006 và 2007. Công ăn việc
làm trong lĩnh vực công nghiệp chế tạo và dịch vụ tăng cao. Giá trị vốn trong lĩnh
vực công nghiệp chế tạo tăng mạnh, đặc biệt là trong các ngành có định hướng
xuất khẩu. Cơ cấu sở hữu đã thay đổi với sự giảm sút vai trò của các doanh
nghiệp nhà nước trong khi khu vực tư nhân và đầu tư nước ngoài tăng nhanh
trong công nghiệp và dịch vụ. Trong nông nghiệp, các trang trại tư nhân và hộ gia
đình đã vượt các nông trường quốc doanh và hợp tác xã. Tỷ trọng đầu tư của nhà
5
PHẦN III: KẾT LUẬN
ĐƯA GIA NHỮNG KHUYẾN NGHỊ
3.1 Một số khuyến nghị của việc gia nhập WTO đến Cơ cấu kinh tế và ổn
định kinh tế vĩ mô của Việt Nam
• Cần cải thiện năng lực dự báo và điều hành chính sách tiền tệ của Ngân
hàng Nhà nước;
• Tiếp tục thực hiện chính sách tiền tệ chặt, hạn chế tăng trưởng tín dụng
nhằm giảm bớt áp lực phía cầu;
• Tiếp tục mua bổ sung dự trữ ngoại hối nhằm dự phòng khả năng đảo
chiều luồng vốn;
• Chính sách tỷ giá cần được linh hoạt theo cả chiều giảm giá và tăng giá
đồng nội tệ so với đô la Mỹ.
• Ngân hàng Nhà nước cần tập trung vào tỷ giá hối đóai thực hơn là tỷ giá
hối đóai danh nghĩa với đồng la Mỹ.
• Chính phủ cần có giải pháp nhằm hạn chế bớt nguồn vốn chảy vào, đặc
biệt các nguồn vốn đầu cơ ngắn hạn nhằm giảm bớt tác động tiêu cực,
ngăn ngừa khả năng rút vốn đột ngột và khủng hoảng tài chính.
Trong trường hợp luồng vốn đảo chiều, tỷ giá hối đoái danh nghĩa cần được giảm
giá mạnh nhằm giảm áp lực lên dự trữ ngoại hối.
6
3.2 Khuyến nghị đối với việc tiếp tục thực hiện những cam kết của WTO
1. Chính phủ cần tăng cường và thực hiện một cách sâu sắc cải cách về thể chế
và cơ cấu, tăng sự minh bạch và thông thoáng, giảm RIA (những tác động do
chính sách đem lại) như là một thủ tục bắt buộc đối với cải cách chính sách.
Cộng đồng doanh nghiệp hy vọng Chính phủ sẽ tiếp tục cải các lĩnh vực dịch vụ
hành chính công, tránh chồng chéo và trùng lặp giữa dịch vụ công với các quy
định có tính pháp lý, đặc biệt trong việc tiếp cận đấy đai, giấy phép xây dựng.
2. Chính phủ cần tiếp tục tuân thủ và thực hiện đúng thời hạn các cam kết trong
WTO
3. Luật Đầu tư cần được sửa đổi về việc cấp phép đầu tư và các quy định khách
để làm thuận lợi và đơn giản hơn việc thực hiện.
4. Việc thực thi vấn đề Bảo vệ Quyền sở hữu Trí tuệ cần phải được tăng cường
trong sự hợp tác với các hiệp hội doanh nghiệp, bao gồm cả các doanh nghiệp
có vốn đầu tư nước ngoài.
5. Hiệu lực và việc thực thi của hệ thống tư pháp, bảo vệ nhà đầu tư cần được
nâng cao.
6. Các quy định về việc thoát khỏi thị trường và phá sản cần được điều chỉnh và
thực hiện một cách hiệu quả.
7. Khung khổ pháp lý cho các hiệp hội doanh nghiệp cần được cải thiện; Luật
về các Hiệp hội Doanh nghiệp và xã hội dân sự cần được ban hành trong thời
gian tới.
7
8. Đối xử công bằng đối với tất cả các doanh nghiệp bao gồm cả doanh nghiệp
nhà nước và các tập đoàn kinh tế của nhà nước để đảm bảo cạnh tranh bình
đẳng.
9. Các ngành công nghiệp phụ trợ và dịch vụ cần được phát triển, đặc biệt là
trong các khu và trung tâm công nghiệp.
10. Chính phủ cần khuyến khích sự tham gia của các doanh nghiệp Việt Nam
trong chuỗi cung ứng và chuỗi giá trị quốc tế thông qua việc tạo lập khung khổ
pháp lý phù hợp và những khuyến khích về kinh tế.
11. Lĩnh vực tài chính, bao gồm cả ngân hàng, thị trường vốn và bảo hiểu cần
được tiếp tục phát triển để đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng.
12. Phát triển cơ sở hạ tầng cần được đẩy nhanh qua việc mở cho phép sự tham
gia của khu vực tư nhân vào khu vực này, áp dụng hình thức BOT, BT và các
hình thức phù hợp khác.
13. Phát triển nhanh nguồn cung cấp điện là rất cần thiết và có thể thực hiện bằng
việc cho phép tham gia của đầu tư nước ngoài cũng như khu vực tư nhân
trong nước trong lĩnh vực này. Hiệu lực của Cơ quan Điều hành Điện cần được
cải thiện trong sự hợp tác với hiệp hội doanh nghiệp.
14. Hệ thống giáo dục và đào tạo, từ trường đại học đến đào tạo nghề, cần được
cải cách và phát triển trong sự phối hợp chặt chẽ với cộng đồng doanh nghiệp
để cải thiện tình hình cung cấp nguồn nhân lực cả về số lượng và chất lượng.
8
3.3 Khuyến nghị hành động của những thay đổi về chính sách và một số
ngành xuất nhập khẩu chính do việc Việt Nam gia nhập WTO đối với một số
lĩnh vực kinh tế
Để duy trì tăng trưởng trong bối cảnh hội nhập toàn diện vào nền kinh tế thế giới,
Việt Nam cần phải tăng tốc cải cách, nâng cao chất lượng tăng trưởng và nâng
cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế, của các ngành cũng như các doanh
nghiệp.
a) Ở cấp vĩ mô
Việt Nam cần tiếp tục cải thiện hệ thống luật pháp và chính sách phù hợp với
những quy tắc của WTO và các cam kết của Việt Nam. Sự hình thành và thực thi
các luật pháp và chính sách kinh tế minh bạch, nhất quán và có thể tiên liệu được
cùng với một hệ thống quản trị công hữu hiệu là quan trọng để Việt Nam trở thành
một thị trường cạnh tranh và hấp dẫn và để đảm bảo sự phát triển bền vững của
đất nước.
Việt Nam cần rà soát và củng cố các kế hoạch và chiến lược phát triển kinh tế
thành một quy hoạch quốc gia thống nhất phù hợp với lộ trình thực hiện các cam
kết WTO. Việt Nam cần phải xem xét tới chỉ số ERP và sự phát triển của các
ngành công nghiệp, dịch vụ và nông nghiệp mà Việt Nam có lợi thế cạnh tranh.
Những chiến lược và chính sách cho ngành hoặc khu vực, phù hợp tốt hơn với
các quy tắc của WTO, phải toàn diện và bao trùm toàn bộ nền kinh tế chứ không
chỉ tập trung vào việc tạo khuyến khích đối với một số ngành. Sự ưu tiên trong
chính sách của Chính phủ phải hướng vào việc cải thiện kết cấu hạ tầng, phát
triển nguồn nhân lực, dịch vụ công và tạo lập môi trường thân thiện cho hoạt động
đầu tư, cạnh tranh bình đẳng, khuyến khích sáng tạo và chuyển giao công nghệ.
Để phát triển nông nghiệp, cần thiết phải có chính sách toàn diện và năng động
thể hiện sự kết hợp giữa định hướng thị trường với chính sách phát triển, giữa lợi
ích thương mại và chính sách phúc lợi xã hội. Các vòng đàm phán WTO sắp tới sẽ
là cơ hội tốt để Việt Nam đàm phán với các đối tác về những vấn đề quan trọng
liên quan tới việc mở cửa thị trường nông sản.
9
Cải cách hành chính không chỉ theo hướng tạo cơ chế một cửa hoặc ngăn chặn
tiêu cực, mà phải tập trung xây dựng một nền quản trị công chuyên nghiệp và hữu
hiệu với trách nhiệm cao, minh bạch và đủ năng lực giải quyết những vấn đề kinh
tế vĩ môi trong một môi trường thay đổi nhanh, và nhằm vào việc tạo thuận lợi cho
doanh nghiệp giảm thiểu chi phí giao dịch. Điều này có quan hệ trực tiếp với việc
tiếp tục những thay đổi về chức năng của chính phủ và tạo cơ chế khuyến khích
hợp lý đối với công chức.
Môi trường kinh doanh cần được tiếp tục cải thiện để hỗ trợ sự phát triển và khả
năng cạnh tranh của các lĩnh vực kinh tế và doanh nghiệp, đồng thời cũng giúp
cho việc đạt được sự công nhận Việt Nam là nền kinh tế thị trường. Sự công nhận
này có thể làm thu hẹp phạm vi của những vụ kiện chống bán phá giá đối với hàng
xuất khẩu của Việt Nam cũng như giảm thua thiệt cho doanh nghiệp Việt Nam khi
thuế chống bán phá giá được thực hiện.
Về chiến lược phát triển ngành để đẩy mạnh xuất khẩu của Việt Nam ra thị trường
thế giới, Việt Nam cần tiếp tục duy trì lợi thế cạnh tranh của mình trong những
ngành xuất khẩu chủ lực hiện nay như giầy dép, dệt may, chế biến nông sản và
hàng nông sản, ít nhất là trong trung hạn. Tuy nhiên, cần nâng cao hàm lượng tri
thức để đem lại giá trị gia tăng cao hơn cho hàng xuất khẩu và cải thiện vị trí của
Việt Nam trong chuỗi giá trị khu vực và toàn cầu. Điều này đòi hỏi đầu tư nhiều
hơn vào nguồn nhân lực, vốn và công nghệ. Nếu không Việt Nam sẽ vẫn tụt lại
trong cạnh tranh toàn cầu và sẽ gặp khó khăn để cải thiện vị thế về kinh tế trên thế
giới. Do đó, Chính phủ cần mở rộng những hỗ trợ và khuyến khích phù hợp với
thông lệ quốc tế và quy tắc của WTO, tập trung vào những lĩnh vực cụ thể như đào
tạo, xúc tiến thương mại, cung cấp thông tin về thị trường và sản phẩm, nghiên
cứu và phát triển sản phẩm, chuyển giao công nghệ
Về vấn đề hỗ trợ trong xúc tiến thương mại, việc thực hiện một cách hữu hiệu đòi
hỏi sự hợp tác chặt chẽ giữa Chính phủ và các hiệp hội doanh nghiệp trong cung
cấp thông tin và xúc tiến thương mại ở cấp vĩ mô. Trên thực tế, phần lớn các
doanh nghiệp xuất khẩu vẫn còn thiếu kinh nghiệm và năng lực về tài chính để thu
thập thông tin và thực hiện xúc tiến xuất khẩu ở quy mô lớn, đặc biệt tại các thị
10
trường nước ngoài. Những hỗ trợ như vậy của Chính phủ và các hiệp hội sẽ giúp
các doanh nghiệp giảm chi phí và bớt rủi ro trong các hoạt động xuất khẩu.
Các hiệp hội doanh nghiệp cần hỗ trợ các doanh nghiệp thông qua việc cung cấp
các dịch vụ tư vấn, thông tin, nghiên cứu thị trường, xúc tiến xuất khẩu và các dịch
vụ hỗ trợ kinh doanh khác; củng cố vai trò là người đại diện cho quyền lợi của
doanh nghiệp trong tất cả các vấn đề liên quan đến môi trường kinh doanh và tạo
thuận lợi cho xuất khẩu ở trong và ngoài nước; tham gia tích cực hơn trong các
hoạt động khuyến nghị về chính sách, xây dựng và thực hiện chính sách, và trong
việc giải quyết các tranh chấp thương mại có thể gây cản trở cho hoạt động xuất
khẩu của Việt Nam trên thị trường thế giới.
b) Ở cấp vi mô
Doanh nghiệp cần chủ động trong việc tìm hiểu các quy tắc của WTO; xem xét các
cam kết theo WTO liên quan đến khu vực doanh nghiệp để có thể hiểu rõ hơn về
những lợi ích và thách thức do những cam kết này đem lại. Đây là cơ sở cho các
doanh nghiệp xác định lại chiến lược kinh doanh và cạnh tranh của mình.
Doanh nghiệp cần xây dựng chiến lược dài hạn và cải thiện năng lực cạnh tranh
của minh. Chiến lược cạnh tranh của doanh nghiệp cần được kết hợp giữa việc
tiếp tục hoạt động xúc tiến xuất khẩu các sản phẩm truyền thống với việc đa dạng
hóa sản phẩm và cải thiện toàn diện năng lực cạnh tranh. Doanh nghiệp cần
chuyển dịch năng lực cạnh tranh dựa trên giá rẻ của mình sang việc tập trung vào
nâng cao hàm lượng giá trị gia tăng trong chuỗi giá trị. Doanh nghiệp cần hợp tác
để xây dựng những cụm và mạng lưới hiệu quả hơn để nâng cao hiệu quả và khả
năng cạnh tranh.
Để tránh việc bị áp đặt biện pháp trừng phạt thương mại, các doanh nghiệp xuất
khẩu cần chuẩn bị đối phó với các vụ kiện chống bán phá giá, và điều đầu tiên mà
họ phải thực hiện là nghiên cứu các luật mà những nhà nhập khẩu lớn sẽ áp dụng.
Các doanh nghiệp trong nước cần đa dạng hóa sản phẩm và thị trường xuất khẩu
cũng như nguồn nguyên liệu đầu vào. Doanh nghiệp cũng cần phải cải tiến chuẩn
mực kế toán để phù hợp với các quy tắc quốc tế chung, làm cơ sở cho việc điều
tra trong trường hợp bị kiện chống bán phá giá. Các hiệp hội doanh nghiệp cần
11
phối hợp hành vi của các công ty và chủ động kiểm soát tình hình xuất khẩu từ
phía Việt Nam.
Tài liệu tham khảo: http:// www.nciec.gov.vn
12
MỤC LỤC
Lời mở đầu 1
PHẦN I
Những nhân xét chung 2
1.1 Xuất khẩu tăng, những không đột biến 2
1.2 Còn nhiều vấn đề cần giải quyết 2
PHẦN II
Những ảnh hưởng 4
2.1 Tác động của việc gia nhập WTO đến cơ cấu kinh tế và ổn định kinh tế vĩ mô
của Việt Nam 4
a) Tác động đến cơ cấu kinh tế 4
b) Tác động đến cơ cấu xuất nhập khẩu 4
c) Tác động đến nguồn thu ngân sách 4
d) Tác động đến lạm phát, chính sách tiền tệ và tỷ giá 5
e) Tác động đến đầu tư trực tiếp nước ngoài 5
f) Tác động đến thị trường chứng khoán 5
g) Tác động đến cán cân thanh toán và dự trữ ngoại hối 5
2.2 Tác động đối với môi trường kinh doanh 6
2.3 Tác động của những thay đổi về chính sách và một số ngành 7
13
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét