Thứ Ba, 11 tháng 2, 2014

CA – TBD chuyển hướng phát triển trong tương lai & kiến nghị nhằm thực hiện có hiệu quả quan hệ kinh tế VN- APEC

I . Thuận lợi và thách thức đối với Việt Nam trên con đờng
hội nhập
80
1. Thuận lợi
80
2.Thách thức
84
75
II . Kinh nghiệm của một số nớc có nền kinh tế tơng đồng trong
khu vực về vấn đề hội nhập kinh tế quốc tế .
88
79
1. Nhật Bản
88
79
2. Hàn Quốc
92
5

83
3. Trung Quốc
97
87
III . Giải pháp cơ bản để đẩy nhanh quá trình hội nhập kinh tế
quốc tế của Việt Nam .
101
91
1. Ưu tiên phát triển các ngành sản xuất kinh doanh mà
Việt Nam có lợi thế so với các nớc trong khu vực
103
91
2. Tăng hiệu quả và sức cạnh tranh của hàng hoá
6
104
93
3. Thực hiện các biện pháp khuyến khích đầu t
105
94
4. Hoàn thiện hệ thống thuế quan
106

95
5. Phát triển nguồn nhân lực theo hớng công nghiệp hoá - hiện
đại hoá hội nhập với khu vực và thế giới.
108

97
Kết luận
110
98
7
Danh mục tài liệu tham khảo
111

99
8
Lời mở đầu
Hiện nay, xu thế toàn cầu hoá kinh tế đang diễn ra mạnh mẽ cả về qui mô và
tốc độ . Bất kỳ một nền kinh tế nào muốn phát triển đều phải tham gia vào hội nhập
kinh tế quốc tế để giành lấy lợi ích tối đa có thể đạt đợc cho đất nớc mình . Việt nam
cũng không nằm ngoài xu thế đó .
Quá trình hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam đang ngày càng đợc mở
rộngvà tăng cờng . Việt Nam đã tham gia ASEAN ( năm 1995 ); APEC ( năm 1998 )
và tiến tới gia nhập tổ chức thơng mại thế giới (WTO) , là thành viên chính thức của
IMF, WB , UNCTAD, Có thể nói , tham gia vào hội nhập kinh tế quốc tế , Việt
Nam ngày càng tăng cờng đợc vị trí và vai trò của mình trên trờng quốc tế, đồng thời
đa nền kinh tế đất nớc phát triển hoà nhập vào quỹ đạo chung của nền kinh tế toàn
cầu.
Trong các chiến lợc phát triển của các quốc gia đêù đề cập đến xu thế toàn cầu
hoá kinh tế . Vậy toàn cầu hoá kinh tế là gì , có vai trò quan trọng nh thế nào trong
tiến trình phát triển của các quốc gia ?. Trên sách báo và các phơng tiện thông tin đại
chúng đã bàn không ít đến vấn đề này . Tuy vậy , việc nhìn nhận nguồn gốc , bản
chất của toàn cầu hoá kinh tế , đánh giá những tác động của nó trên các bình diện
cũng không phải là đã có sự thống nhất , thậm trí đôi khi còn trái ngợc nhau . Để góp
phần tìm hiểu vấn đề còn tranh luận nêu trên , luận văn tập trung tìm hiểu rõ cơ sở
của toàn cầu hoá kinh tế là gì ? , đặc trng và tác động của nó ra sao ? , từ đó bớc đầu
làm rõ về việc tham gia của Việt Nam vào quá trình này .
Chính vì mục đích nghiên cứu nêu trên , luận văn đợc chia làm 3 phần :
Phần I : Cơ sở và đặc trng của toàn cầu hoá kinh tế.
Phần II : Tác động của toàn cầu hoá và việc Việt Nam hội nhập kinh tế quốc tế.
Phần III : Giải pháp để đẩy nhanh quá trình hội nhập kinh tế quốc tế .
Nghiên cứu đề tài Toàn cầu hoá kinh tế và hội nhập kinh tế quốc tế của Việt
Nam là một vấn đề khó nhng lại hết sức cần thiết . Qua đây em mong nhận đợc
những ý kiến đóng góp của thầy cô , của bạn bè để luận văn này đợc hoàn thiện hơn .

9
Chơng I
Cơ sở và đặc trng của toàn cầu hoá
kinh tế
I . Cơ sở của toàn cầu hoá kinh tế
1 . Quan niệm về toàn cầu hoá
Toàn cầu hoá kinh tế có phải là một quá trình tất yếu không? Để lý giải điều
này, một trong những vấn đề tởng chừng đã giải quyết lại trở thành vấn đề gây tranh
luận nhất: Đó là toàn cầu hoá là gì? Chính từ quan niệm khác nhau về toàn cầu hoá
mà có những lý giải không giống nhau về cơ sở của toàn cầu hoá, về tính tất yếu hay
không của toàn cầu hoá.
Hiện nay, ngay trong học thuật cũng còn dùng khá nhiều khái niệm để cùng
chỉ về quá trình toàn cầu hoá. Chẳng hạn, trong nhiều tài liệu dùng từ thế giới hoá,
rồi quốc tế hoá và rồi hội nhập vào nền kinh tế toàn cầu, thậm chí có ngời còn đánh
đồng thế giới hoá, toàn cầu hoá với các vấn đề có tính toàn cầu.
Toàn cầu hoá là kết quả của sự phát triển mạnh mẽ của lực lợng sản xuất dẫn
đến phá vỡ sự biệt lập của các quốc gia tạo ra sự gắn kết, sự phụ thuộc giữa các
quốc gia dân tộc trong sự vận động phát triển. Với quan niêm nh vây thế giới hoá
cũng có nghĩa là toàn cầu hoá và quốc tế hoá đợc xem nh giai đoạn trớc đó của xu
thế toàn cầu hoá. Quốc tế hoá toàn cầu hoá là một quá trình, và vì vậy nó khác với
vấn đề toàn cầu. Tham gia vào quá trình quốc tế hoá toàn cầu hoá chính là thực hiện
hội nhập quốc tế.
Toàn cầu hoá là một xu hớng bao gồm nhiều phơng diện: Kinh tế, chính trị,
văn hoá, xã hội vv, là sự gia tăng các mối quan hệ trên các mặt của đời sống xã hội
loài ngời. Trong các mặt đó thì toàn cầu hoá kinh tế vừa là trung tâm vừa là cơ sở và
cũng là động lực thúc đẩy các lĩnh vực khác của xu thế toàn cầu hoá nói chung.
Tuy nhiên, điều cần thấy là do thực tế vận động của toàn cầu hoá cùng với
những hệ quả của nó đã đa lại những cách lý giải và thái độ không giống nhau đối
với xu thế này.
10
Có quan điểm cho rằng toàn cầu hoá chỉ mới xuất hiện gần đây . Sau khi chế
độ XHCN ở Liên Xô và Đông Âu xụp đổ, Mỹ trở thành siêu cờng trên thế giới.Toàn
cầu hoá đợc hiểu là chính sách của Mỹ nhằm bành trớng quyền lực, thống trị thế giới
theo kiểu Mỹ. Thực chất toàn cầu hoá là Mỹ hoá. Quan điểm này không chỉ tồn tại ở
những nớc đang phát triển mà còn có ngay cả ở các nớc phát triển nh Nhật Bản và
Pháp vv.
Chúng ta biết rằng sau chiến tranh lạnh, thế giới vận động theo trật tự đa cực
với một siêu cờng là Mỹ. Với sức mạnh của mình, Mỹ đang đóng vai trò chi phối bàn
cờ thế giới. Suốt những thập kỷ sau chiến tranh thế giới thứ II Mỹ luôn chiếm 30%
GDP thế giới. Mỹ là một trong hai siêu cờng hạt nhân trên thế giới và sau khi Nga
khủng hoảng suy yếu thì Mỹ đang có u thế về lĩnh vực này.
Kể từ khi sụp đổ cửa cờng quốc Xô Viết do khuyết tật trong mô hình, cùng sai
lầm trong đờng lối, Mỹ thực sự trở thành một siêu cờng quốc duy nhất, Mỹ đã xúc
tiến một chiến lợc nhằm đề cao vai trò lãnh đạo của mình. Mu đồ của Mỹ là không
để có một kẻ thách thức nào ở lục địa Âu - á nổi lên có đủ khả năng thống trị nơi
đây và thách thức nớc Mỹ
(1)
. Mỹ muốn quy tụ toàn thế giới vào vòng ảnh hởng, chịu
sự chỉ huy, điều khiển của mình.
Trong lĩnh vực quốc tế, Mỹ thao túng các định chế kinh tế toàn cầu, đòi các
quốc gia phải mở rộng cửa thi trờng, tham gia hội nhập vào bàn cờ kinh tế quốc tế
theo các luật chơi đã đợc định sẵn xuất phát từ nhu cầu, lợi ích và quan niệm chuẩn
mực giá trị lối sống Mỹ. Vì vậy, không phải ngẫu nhiên mà ngời ta đồng nhất toàn
cầu hoá với Mỹ hoá.
Với quan niệm toàn cầu hoá là chính sách của Mỹ là Mỹ hoá nên đã đẩy tới
thái độ trên cả bình diện lý thuyết và trong hoạt động thực tiễn cần phải chống lại
quá trình này, nhằm đảm bảo cho sự phát triển độc lập, đa dạng các quốc gia dân tộc.
Thực ra quan điểm này mới chỉ chú ý đến khía cạnh chính trị của toàn cầu hoá
kinh tế. Đúng là Mỹ đang giữ vai trò bá chủ chi phối phần lớn các hoạt động quan hệ
kinh tế quốc tế. Song cơ sở nào dẫn đến, cho phép thực hiện vai trò này thì lại cha có
sự quan tâm phân tích thoả đáng.
11
Nghiên cứu lịch sử phát triển của nền kinh tế t bản chủ nghĩa nói chung của
Mỹ nói riêng ta thấy bản thân các nền kinh tế này cũng đã trải qua thời kỳ bảo hộ
cao, chống lại sự xâm nhập từ bên ngoài. Các quốc gia t bản phát triển kêu gọi tự do
hoá nền kinh tế toàn cầu, song thực tế cha có một quốc gia nào thực sự tự do hoá.
Toàn cầu hoá nền kinh tế biểu hiện trớc hết ở sự gia tăng của tự do hoá trong
lu chuyển các loại hàng hoá, vốn, công nghệ và lao động. Nguyên nhân dẫn đến tự
do hoá , dẫn đến sự lu động không vợt qua khỏi biên giới quốc gia, các yếu tố của
quá trình sản xuất chình là ở sự phát triển mạnh mẽ của lực lợng sản xuất. Trong các
xã hội xa xa, các quốc gia dân tộc tồn tại tơng đối độc lập, ít có quan hệ với nhau.
Nhng cùng với sự phát triển của lực lợng sản xuất, sự tăng lên của sản xuất và trao
đổi hàng hoá, sự mở rộng thị trờng, thì các quan hệ cũng dần vợt ra khỏi danh giới
quốc gia, hình thành các mối quan hệ quốc tế,phạm vi các hoạt động kinh tế mở
rộng. Nếu không có sự phát triển của lực lợng sản xuất, trong đó có sự phát triển của
khoa học kỹ thuật, nhất là kỹ thuật giao thông đờng thuỷ, đờng sắt vv mà sau này
là sự phát triển của khoa học, kỹ thuật viễn thông thì dù có mở cửa thị trờng, có tự do
hoá cũng không thể có sự lu thông các yếu tố sản xuất, con ngời và các mối quan hệ
nói chung giữa các quốc gia, các vùng.
Việc giao lu giữa các vùng đơng nhiên đặt ra nhiều cơ hội cho phát triển sản
xuất kinh doanh, cho việc tìm kiếm lợi nhuận. Chính sự phát triển sản xuất mà qua
đó nhu cầu mở rộng giao tiếp và mở rộng thị trờng ngày càng đợc đẩy mạnh. Sự phát
triển của CNTB (nh Mác đã chỉ ra) luôn bị hai giới hạn bởi thị trờng và nguyện liệu
có nguồn gốc trong kết cấu phát triển của CNTB. Việc tạo ra sự phát triển vợt bậc
của lực lợng sản xuất trong CNTB so với các xã hội trớc đó cũng chính là cơ sở, là
điều kiện cho quá trình bành trớng ra bên ngoài.
Kêu gọi tự do hoá, thâm nhập vào thị trờng các quốc gia nhằm tìm kiếm lợi
nhuận, rõ ràng có nguồn gốc từ bản chất của nền sản xuất TBCN. Sự bành trớng của
Mỹ , mà đợc gọi là Mỹ hoá không chỉ bị phản ứng của các nớc đang phát triển mà
còn của ngay cả các nớc TBCN phát triển, chính là xuất phát từ mục tiêu cạnh tranh
lợi ích , muốn phản kháng lại vai trò của Mỹ với t cách là trọng tài của các cuộc
chơi kinh tế, muốn giành giật ảnh hởng với Mỹ.
Chính do xu hớng quốc tế hoá, toàn cầu hoá xuất hiện gắn liền với sự hình
thành và phát triển của CNTB mà dẫn đến nảy sinh quan niệm về quốc tế hoá trớc
12
kia và toàn cầu hoá ngày nay là xu thế lớn của sự vận động nền kinh tế thế giới do
các nớc t bản mà đứng đầu là Mỹ chủ trơng. Từ sự phân tích ở trên chúng ta có thể
thấy rằng quốc tế hoá, toàn cầu hoá thực chất không phải là chủ trơng của một quốc
gia nào. Nhu cầu về tự do hoá và hội nhập đợc đẩy đến bởi sự phát triển của lựclợng
sản xuất do chính CNTB tạo ra.
Loại quan điểm thứ hai là quan điểm thừa nhận tính tất yếu khách quan của
quốc tế hoá, toàn cầu hoá kinh tế. Tuy vậy ở đây cũng còn cách lý giải khác nhau.
Có ý kiến cho rằng toàn cầu hoá kinh tế là sự điều chỉnh quan hệ sản xuất, là giải
pháp quan hệ sản xuất. Song vấn đề đặt ra là, tại sao toàn cầu hoá lại chỉ trở thành
thực tế trong một, hai thập kỷ vừa qua, sự xuất hiện đó phản ánh điều gì?. Nh vậy,
toàn cầu hoá ngoài việc thể hiện ra là bớc điều chỉnh quan hệ sản xuất, nó còn phản
ánh sự tăng tiến, phát triển mới của sức sản xuất ở một trình độ cao với quy mô toàn
cầu.
Nh vậy , toàn cầu hoá kinh tế là sự gia tăng nhanh chóng các hoạt động kinh tế vợt
qua mọi biên giới quốc gia khu vực tạo ra sự phụ thuộc lẫn nhau giữa các nền kinh
tế trong sự vận động phát triển . Sự gia tăng của xu thế này đợc thể hiện ở sự mở
rộng mức độ và quy mô mậu dịch thế giới, sự lu chuyển của các dòng vốn và lao
động trên toàn cầu. Cơ sở ra tăng và thúc đẩy xu hớng trên gắn liền với hàng loạt
nguyên nhân mà dới đây chúng ta đi sâu và phân tích.
2. Cơ sở khách quan thúc đẩy sự gia tăng xu thế toàn cầu hoá
2 . 1 Thứ nhất là sự phát triển của lực lợng sản xuất.
Chúng ta thấy rằng trong xã hội phong kiến lực lợng sản xuất và giao thông kém
phát triển cho nên sản xuất và trao đổi chỉ đợc diễn ra trong một phạm vi quy mô
nhỏ. Tính tự cung, tự cấp của sản xuất là đặc trng chủ yếu của phơng thức sản xuất
phong kiến. Tuy vậy trong thời đại phong kiến cũng đã có thông thơng vợt biên giới
quốc gia nhng cha tạo ra những quan hệ phụ thuộc trong phát triển, cha có thị trờng
thế giới theo nghĩa hiện đại.
Khi nghiên cứu chủ nghĩa t bản Mác và Ănghen đã cho rằng do sự phát triển
của lực lợng sản xuất đã dẫn đến sự phân công lao động sản xuất quốc tế, làm cho
quá trình sản xuất và tiêu thụ mang tính quốc tế, gắn bó phụ thuộc vào nhau. Mác và
13
Ănghen viết Đại công nghiệp đã tạo ra thị trờng thế giới thay cho tình trạng cô
lập trớc kia của các địa phơng và dân tộc vẫn tự cung tự cấp ta thấy phát triển những
quan hệ phổ biến, sự phụ thuộc phổ biến giữa các dân tộc (C. Mác và Ănghen, Tuyên ngôn
của Đảng cộng sản , NXB sự thật , H.1986, tr.47).
Nh vậy quốc tế hoá có cơ sở từ chính sự phát triển của sản xuất, nó ra đời gắn
liền với sự hình thành của thị trờng quốc tế, kéo theo đó là quá trình di dân lao động
và giao dịch tài chính phát triển mạnh mẽ vợt biên giới quốc gia.
Trong thời kỳ đầu quá trình quốc tế hóa, các hoạt động kinh tế giữa các quốc
gia mang nặng tính chất phụ thuộc một chiều. Các quốc gia kém phát triển thực hiện
cung cấp nguyên vật liệu cho các quốc gia phát triển cao hơn và thờng là các nớc
thuộc địa vào chính quốc. Mỗi quốc gia phát triển cao hơn đều tìm cách tạo lập cho
mình một khu vực thuộc địa và thực hiện bảo hộ trong khu vực đó. Do vậy, trên thực
tế sản xuất và trao đổi cha có tính toàn cầu. Thế giới bị chia cắt thành nhiều khu vực
thuộc địa và phụ thuộc khác nhau chịu ảnh hởng của từng quốc gia phát triển hơn,
chủ yếu là Pháp, Hà lan, Anh quan hệ giữa các khu vực này luôn bị kiểm soát và
hạn chế nhằm bảo vệ vùng ảnh hởng và quyền lợi của các cờng quốc thực dân.
Tuy vậy, do sự phát triển mạnh mẽ của lực lợng sản xuất cùng với ý thức độc
lập đã đa lại sự phát triển mới của phân công lao động. Các quốc gia vốn trớc là phụ
thuộc sau khi giành đợc độc lập đã chủ động tham gia vào quá trình phân công lao
động quốc tế, tạo ra điều kiện phát triển hơn nữa của quá trình quốc tế hoá. Quan hệ
giữa các quốc gia dân tộc, giữa các nớc phát triển và kém phát triển từ đặc trng phụ
thuộc một chiều chuyển dần sang quan hệ tơng hỗ phụ thuộc lẫn nhau.
Từ sau chiến tranh thế giới thứ II gắn liền với sự phát triển của phong trào giải
phóng dân tộc là hiện tợng khoa học kỹ thuật phát triển mạnh mẽ và ngày càng trở
thành lực lợng sản xuất trực tiếp. Các phát kiến về khoa học nhanh chóng đợc áp
dụng vào sản xuất đã thúc đẩy phân công lao động phát triển lên một bớc mới. Trên
thực tế quan hệ giữa khoa học công nghệ và sản xuất ngày càng gắn bó chặt chẽ với
nhau. Trong thế kỷ XIX thời gian đa phát minh khoa học vào ứng dụng trong sản
xuất phải mất từ 60 đến 70 năm, đầu thế kỷ XX chỉ còn vài trục năm và trong thập
niên 90 khoảng 3 đến 5 năm. Dự báo sau năm 2000 chỉ còn dới một năm.
Do sự tác động của các thành tựu khoa học kỹ thuật và sự xoá bỏ của hệ thống
thuộc địa và phụ thuộc, nhờ có sự phát triển mạnh mẽ dựa trên phân công lao động
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét