Thứ Tư, 19 tháng 2, 2014

Nghiên cứu về hệ thống báo cáo tài chính trong điều kiện hội nhập kinh tế ở Việt Nam


5
nghiệp, các hình thức kinh doanh, hình thức đầu tư và sở hữu vốn; trong mối
quan hệ với cơ chế tài chính, mức độ lạm phát Ngoài ra, cũng cần phải xác
đònh một cách rõ ràng những vấn đề về quan điểm, mục tiêu, làm cơ sở quan
trọng cho việc hoàn thiện hệ thống báo cáo tài chính Việt Nam.
Luận văn này ra đời nhằm đáp ứng phần nào yêu cầu cấp thiết đó.

* Mục đích của luận văn
:
Trên cơ sở hệ thống hóa và xác đònh những vấn đề lý luận về bản chất,
vai trò, nguyên tắc lập và trình bày, các tiêu chuẩn và nội dung của thông tin
trình bày trên báo cáo tài chính, thông qua việc đánh giá thực trạng và những
vấn đề cần đặt ra đối với hệ thống báo cáo tài chính Việt Nam trong mối quan
hệ với những yêu cầu của quá trình hội nhập kinh tế hiện nay, luận văn xác đònh
rõ những vấn đề về quan điểm, mục tiêu, phương hướng hoàn thiện hệ thống
báo cáo tài chính; đề xuất, xây dựng một số phương hướng và giải pháp nhằm
hoàn thiện hệ thống báo cáo tài chính trong điều kiện hội nhập kinh tế ở Việt
Nam.

* Nội dung, đối tượng nghiên cứu
:
- Những vấn đề lý luận về bản chất vai trò, mục tiêu của báo cáo tài chính, các
nguyên tắc và lập và trình bày báo cáo tài chính, nội dung các thông tin trình
bày trên báo cáo tài chính.
- Đánh giá khái quát quá trình phát triển của hệ thống báo cáo tài chính ở Việt
Nam
-Thực trạng vàø những vấn đề cần đặt ra đối với hệ thống báo cáo tài chính Việt
Nam trong điều kiện hội nhập kinh tế hiện nay
- Quan điểm, mục tiêu và phương hướng hoàn thiện hệ thống báo cáo tài chính
trong điều kiện hội nhập kinh tế ở Việt Nam
- Một số phương hướng và giải pháp cụ thể góp phần hoàn thiện hệ thống báo
cáo tài chính trong điều kiện hội nhập kinh tế ở Việt Nam, bao gồm những nội

6
dung chủ yếu về tạo lập cơ sở pháp lý cho việc thực hiện các mục tiêu của việc
hoàn thiện hệ thống BCTC ; điều chỉnh, bổ sung những tồn tại của thông tin hiện
hữu trên BCTC hiện hành ; kế toán khoản chênh lệch giữa kế toán và thuế ; báo
cáo tài chính của công ty cổ phần niêm yết ; lý luận và kỹ thuật tính toán trong
lập BCTC hợp nhất ; xây dựng mô hình BCTC linh hoạt cho các loại hình doanh
nghiệp khác nhau.
*
Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp chủ yếu được vận dụng trong nghiên cứu đề tài là phương
pháp duy vật biện chứng và duy vật lòch sử. Các vấn đề được nghiên cứu trong
trong mối quan hệ phổ biến và trong sự vận động phát triển. Ngoài ra, kết hợp
nhiều phương pháp phân tích, so sánh, quy nạp, diễn giải để làm sáng tỏ vấn đề
cần giải quyết.
Quá trình nghiên cứu xuất phát từ điều kiện cụ thể của Việt Nam, có tính
đến xu hướng vận động của chúng, có xem xét đến sự hòa hợp với những thông
lệ quốc tế cũng như kinh nghiệm phát triển của các nước.
Ngoài lời mở đầu và kết luận, nội dung của luận văn gồm 3 chương :
- Chương 1
: Tổng quan về hệ thống báo cáo tài chính
- Chương 2
: Thực trạng và những vấn đề cần đặt ra đối với hệ thống báo cáo
tài chính trong điều kiện hội nhập kinh tế ở Việt Nam
- Chương 3
: Một số phương hướng và giải pháp hoàn thiện hệ thống báo cáo tài
chính trong điều kiện hội nhập kinh tế ở Việt Nam.







7
CHƯƠNG I

TỔNG QUAN VỀ HỆ THỐNG BÁO CÁO TÀI CHÍNH

1.1. Bản chất và vai trò của báo cáo tài chính
1.1.1.Mục đích, ý nghóa của thông tin kế toán
Thông tin kinh tế là một yếu tố có vai trò hết sức quan trọng trong quản
lý và phát triển kinh tế. Trong điều kiện trình độ khoa học kỹ thuật liên tục được
nâng cao, mức độ cạnh tranh để tồn tại đi liền với xu thế hội nhập để phát triển
diễn ra từng ngày, thì thông tin kinh tế, trong đó thông tin kế toán là một bộ
phận cốt lõi, càng trở nên có ý nghóa quan trọng.
Thông tin kế toán không những có ý nghóa quan trọng đối với Chính phủ
trong quản lý vó mô nền kinh tế mà nó ngày càng trở nên không thể thiếu đối
với nhiều đối tượng sử dụng khác Bất cứ một nhà quản lý nào trong bất kỳ
doanh nghiệp nào cũng cần tới thông tin kế toán. Các tổ chức kinh doanh vì lợi
nhuận sử dụng các thông tin kế toán để điều hành hoạt động và tối đa hóa lợi
nhuận; ngân hàng sử dụng thông tin kế toán để theo dõi tình hình hoạt động,
đánh giá triển vọng và khả năng thanh toán nợ vay Tóm lại, thông tin kế toán
có ý nghóa quan trọng, là cơ sở cho việc ra quyết đònh của những ngưòi chủ sở
hữu và cổ đông, người cho vay, nhà cung cấp, khách hàng, chính phủ và cơ quan
quản lý, nhân viên công ty và công chúng, nói chung là những người có lợi ích
gắn liền với hoạt động của doanh nghiệp.
Hệ thống thông tin kế toán là hệ thống thông tin được sử dụng rộng rãi và
lâu đời, nó theo dõi, phản ánh và báo cáo hoạt động kinh doanh và các sự kiện
kinh tế khác. Hệ thống thông tin này dựa vào việc lưu giữ thông tin trên các loại
sổ sách kế toán thông qua khái niệm ghi sổ kép đã có từ rất lâu cũng như các
khái niệm kế toán khác hiện đại hơn như khái niệm trách nhiệm, khái niệm lợi
tức …
Để tổ chức hệ thống thông tin kế toán một cách khoa học, có thể có
nhiều cách phân loại hệ thống thông tin khác nhau. Cách phân loại tương đối
phổ biến hiện nay dựa theo đối tượng nhận thông tin với mục đích sử dụng thông

8
tin khác nhau. Theo cách phân loại này, kế toán được chia ra kế toán tài chính
và kế toán quản trò.
Kế toán tài chính chủ yếu cung cấp thông tin kinh tế cho đối tượng bên
ngoài doanh nghiệp như các cơ quan quản lý Nhà nước về kinh tế (Cơ quan chủ
quản, tài chính, thanh tra, …), các cơ quan nghiên cứu, thông tấn báo chí, các chủ
sở hữu, các chủ nợ, nhà đầu tư … nhằm mục đích kiểm tra, kiểm soát và đánh giá
hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.
Kế toán quản trò cung cấp thông tin kinh tế chủ yếu cho các đối tượng
bên trong doanh nghiệp nhằm mục đích ra các quyết đònh quản trò và đồng thời
cũng nhằm đảm bảo được nguyên tắc bí mật về thông tin kinh tế.
1.1.2.Bản chất và vai trò của Báo cáo tài chính
Báo cáo tài chính ( BCTC ) là một hệ thống thông tin được xử lý bởi hệ
thống kế toán tài chính nhằm cung cấp những thông tin tài chính có ích cho các
đối tượng sử dụng để đưa ra các quyết đònh kinh tế
Bản chất của BCTC là phản ánh sự kết hợp của những sự kiện xảy ra
trong quá khứ với những nguyên tắc kế toán đã được thừa nhận nhằm cung cấp
thông tin tài chính hữu ích chủ yếu cho người sử dụng bên ngoài.
Vai trò của BCTC được xem xét thông qua nhu cầu sử dụng thông tin trên
BCTC của một số đối tượng liên quan chủ yếu như sau:
- Đối với Nhà nước : BCTC cung cấp thông tin cần thiết giúp cho việc
thực hiện chức năng quản lý vó mô của Nhà nước đối với nền kinh tế; giúp cho
việc thực hiện kiểm tra, kiểm soát các cơ quan tài chính Nhà nước đối với các
hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp cũng như làm cơ sở cho việc
tính thuế và các khoản nộp khác của doanh nghiệp đối với ngân sách Nhà Nước.
- Đối với các nhà quản lý doanh nghiệp : Các nhà quản lý cần công bố
công khai các thông tin trên BCTC đònh kỳ về hoạt động của doanh nghiệp
nhằm thuyết phục các nhà đầu tư cũng như các chủ nợ rằng doanh nghiệp đang
có mức lợi nhuận cao nhất với độ rủi ro thấp nhất. Hơn nữa, thông tin trên BCTC
cũng phục vụ cho công tác điều hành quản lý hoạt động sản xuất kinh doanh của
nhà quản lý.

9
- Đối với các nhà đầu tư hiện tại và tương lai, các chủ nợ, người cho vay,
cho thuê : Nói chung, các đối tượng này cần thông tin trên BCTC để giám sát và
bắt buộc các nhà quản lý phải thực hiện theo đúng hợp đồng đã ký kết và để
thực hiện các quyết đònh đầu tư hoặc cho vay, cho thuê của họ.
1.2 .Chuẩn mực kế toán “ Trình bày báo cáo tài chính” – cơ sở
quan trọng của hệ thống thông tin trình bày trên BCTC
1.2.1. Chuẩn mực kế toán và ý nghóa của nó
Chuẩn mực kế toán là những quy ước, nguyên tắc, thủ tục được công nhận
như những hướng dẫn cho nghề nghiệp kế toán trong việc lựa chọn các phương
pháp để ghi chép, phương pháp đánh giá các yếu tố trong việc soạn thảo BCTC .
Về mặt kỹ thuật, hệ thống chuẩn mực kế toán quốc tế (IAS) do y ban
chuẩn mực quốc tế về kế toán (IASC) ban hành, bao gồm 3 nội dung chính :
khuôn mẫu của chuẩn mực, các chuẩn mực kế toán cụ thể và từ điển thuật ngữ,
tập trung giải quyết 2 vấn đề chính :
- Các khoản mục trên BCTC được đánh giá như thế nào
- Những thông tin tối thiểu cần phải công bố trên BCTC .
Có thể thấy rằng chuẩn mực kế toán có ý nghóa rất quan trọng đối với hệ thống
BCTC . Đó chính là những quy đònh mang tính khuôn mẫu cho việc đánh giá, ghi
nhận và trình bày thông tin trên BCTC .
Chuẩn mực kế toán quốc tế còn là cơ sở tạo nên sự hòa hợp các quy đònh
và thủ tục kế toán liên quan đến việc soạn thảo và trình bày BCTC . Với việc
những nội dung của chuẩn mực kế toán quốc tế được công nhận và tôn trọng ở
nhiều quốc gia, chất lượng, tính hữu ích và khả năng so sánh của BCTC các
quốc gia sẽ được nâng lên, từng bước tạo nên tiếng nói chung của các thông tin
trình bày trên BCTC .
Hệ thống chuẩn mực kế toán đang được khẩn trương hoàn thành ở Việt
Nam cũng được soạn thảo dựa trên những nội dung và quy tắc cơ bản của hệ
thống chuẩn mực kế toán quốc tế. Điều này là cơ sở quan trọng cho việc phát
triển và hoàn thiện hệ thống BCTC đáp ứng yêu cầu đổi mới và hội nhập ở Việt
Nam.

10
1.2.2.Chuẩn mực “ Trình bày báo cáo tài chính” - cơ sở quan
trọng của hệ thống thông tin trình bày BCTC
Chuẩn mực kế toán quốc tế số 1- “ Trình bày báo cáo tài chính” ( IAS1)
được ban hành bởi y ban chuẩn mực kế toán quốc tế vào tháng 07/1997 và có
hiệu lực cho kỳ kế toán bắt đầu sau ngày 01/07/1998.
Với mục đích nâng cao chất lượng của các BCTC trình bày tuân thủ theo
các chuẩn mực kế toán quốc tế, chuẩn mực này tập trung vào một số mục tiêu
và nội dung cơ bản sau :
- Đảm bảo các BCTC áp dụng các chuẩn mực kế toán quốc tế tuân thủ
theo các chuẩn mực cụ thể
- Cung cấp hướng dẫn về cấu trúc của BCTC, bao gồm những yêu cầu tối
thiểu cho những báo cáo cơ bản, các chính sách, thuyết minh kế toán, phụ lục
diễn giải.
- Thiết lập các yêu cầu thực hành về các vấn đề như tính trọng yếu, hoạït
động liên tục, sự chọn lựa các chính sách kế toán, tính nhất quán và sự trình bày
các thông tin có thể so sánh được.
Những nội dung cơ bản của chuẩn mực số 1 “ Trình bày báo cáo tài chính”,
bao gồm :
- Mục đích và phạm vi áp dụng
- Các yêu cầu chung
- Các giả đònh và nguyên tắc cho việc diễn giải thông tin trên BCTC .
- Thông tin trình bày trên bảng cân đối kế toán, báo cáo thu nhập, báo cáo
thay đổi vốn, báo cáo lưu chuyển tiền tệ ( theo chuẩn mực số 7) và thuyết minh
BCTC.
Ngày 31/12/2003, chuẩn mực số 21 “ Trình bày báo cáo tài chính” của
Việt Nam (VAS21) cũng đã được ban hành theo QĐ số 234/2003/QĐ –BTC. Ở
một chừng mực nào đó, nội dung của VAS 21 tương tự như IAS 1, một số khác
biệt nhỏ bao gồm những nội dung trình bày dưới đây
( xem Bảng C1-1 )


11
Nội dung IAS 1 VAS 21
Hệ thống
BCTC
Bao gồm :
- Bảng cân đối kế toán
- Báo cáo thu nhập
- Báo cáo vốn chủ sở hữu
- Báo cáo lưu chuyển tiền tệ
-Thuyết minh BCTC

Không có “Báo cáo vốn chủ sở
hữu”

Yêu cầu lập
BCTC
Chấp nhận sự không tuân thủ
một chuẩn mực kế toán nào
đó nếu xuất phát từ yêu cầu
cần thiết nhằm đạt được sự
trình bày hợp lý
Không chấp nhận trường hợp
ngoại lệ.
Nguyên tắc
lập và trình
bày
Có đề cập đến :
- Nhận diện BCTC
- Tính kòp thời
- Không đề cập đến sự nhận
diện BCTC ( so với các báo cáo
thường niên hay báo cáo khác)
- Tính kòp thời được trình bày
trong chuẩn mực chung
Thông tin trình
bày trên bảng
cân đối kế
toán
Trình bày cách xác đònh
những khoản mục được trình
bày bổ sung hay tách biệt
Không đề cập đến
Thông tin trình
bày trên báo
cáo kết quả
kinh doanh
* Không yêu cầu trình bày
những nội dung cụ thể này
* Thuế được xem như một
khoản chi phí
* Yêu cầu trình bày :
- Các khoản giảm trừ DT
- Doanh thu thuần
- Giá vốn hàng bán
- Lợi nhuận gộp
- Chi phí bán hàng
- Chi phí QL doanh nghiệp
* Thuế chưa được xem như một
khoản chi phí

12
Thay đổi vốn Trình bày các thông tin tách
biệt trên báo cáo vốn chủ sở
hữu
Trình bày trong thuyết minh
BCTC
Thuyết minh
BCTC
Không yêu cầu
Yêu cầu trình bày chính sách
phân bổ chi phí
Bảng C1-1
Như vậy, sự ra đời của hệ thống chuẩn mực kế toán Việt Nam nói chung,
chuẩn mực “Trình bày báo cáo tài chính” nói riêng với những nội dung phù hơp
với chuẩn mực và thông lệ quốc tế chính là cơ sở quan trọng cho việc thiết lập
và trình bày thông tin trên BCTC cũng như là cơ sở cho việc tiếp tục hoàn thiện
hệ thống BCTC Việt Nam.
1.3. Mục đích, yêu cầu lập và trình bày Báo cáo tài chính
1.3.1. Mục đích của BCTC
BCTC phản ánh theo một cấu trúc chặt chẽ tình hình tài chính, tình hình
và kết quả kinh doanh của một doanh nghiêïp. Mục đích của BCTC là cung cấp
các thông tin về tình hình tài chính, tình hình kinh doanh và các luồng tiền của
một doanh nghiệp, đáp ứng nhu cầu của hữu ích cho số đông những người sử
dụng trong việc đưa ra các quyết đònh kinh tế. Người sử dụng ở đây bao gồm :
các nhà đầu tư, nhà quản lý và nhân viên, những người cho thuê, các nhà cung
cấp, các khách hàng, chính phủ, công chúng.
Để đạt được mục đích cung cấp thông tin đáp ứng nhu cầu của hữu ích cho
số đông những người sử dụng, BCTC phải cung cấp những thông tin của một
doanh nghiệp về :
- Tài sản
- Nợ phải trả
- Vốn chủ sở hữu
- Doanh thu,thu nhập khác, chi phí, lãi và lỗ
- Các luồng tiền.

13
Các thông tin này cùng với các thông tin trình bày trong Bản thuyết minh BCTC
sẽ giúp người sử dụng dự đoán được các luồng tiền trong tương lai và đặc biệt là
thời điểm và mức độ chắc chắn của việc tạo ra các luồng tiền và các khoản
tương đương tiền.
Thông tin về tình hình hình tài chính được cung cấp thông qua bảng cân
đối kế toán sẽ giúp cho người sử dụng đánh giá năng lực của doanh nghiệp trong
việc tạo ra các nguồn tiền và khoản tương đương tiền, dự đoán nhu cầu đi vay và
phương thức phân phối lợi tức, dự đoán khả năng huy động các nguồn tài chính,
đánh giá khả năng thực hiện các cam kết tài chính đến hạn.
Thông tin về tình hình kinh doanh được cung cấp qua báo cáo kết quả
hoạt động kinh doanh sẽ giúp cho người sử dụng đánh giá được các thay đổi tiềm
tàng của các nguồn lực kinh tế mà doanh nghiệp có thể kiểm soát trong tương
lai, dự đoán khả năng tạo ra các nguồn tiền của doanh nghiêp trên cơ sở hiện có
, đánh giá tính hiệu quả của các nguồn lực bổ sung mà doanh nghiệp sử dụng.
Thông tin về những biến động tài chính được cung cấp qua báo cáo lưu
chuyển tiền tệ sẽ rất hữu ích cho người sử dụng trong việc đánh giá mức độ có
tiền và các khoản tương đương tiền của doanh nghiệp, đánh giá các hoạt động
kinh doanh đầu tư tài chính, khả năng tạo ra tiền và các khoản tương đương tiền
trong tương lai của doanh nghiệp
1.3.2 . Yêu cầu lập và trình bày BCTC
BCTC phải trình bày một các trung thực và hợp lý tình hình tài chính, tình
hình và kết quả kinh doanh và các luồng tiền của doanh nghiệp. Để đạt được các
yêu cầu đó, BCTC phải được lập trên cơ sở tuân thủ các chuẩn mực kế toán và
các quy đònh liên quan.
Để lập và trình bày BCTC trung thực và hợp lý, doanh nghiệp phải :
- Lựa chọn và áp dụng các chính sách kế toán phù hợp
- Trình bày các thông tin, kể cả các chính sách kế toán, nhằm cung cấp thông tin
phù hợp, đáng tin cậy, so sánh được và dễ hiểu
- Cung cấp các thông tin bổ sung khi quy đònh trong trong chuẩn mực kế toán


14
không đủ để giúp cho người sử dụng hiểu được tác động của những giao dòch
hoặc của những sự kiện cụ thể đến tình hình tài chính, tình hình và kết quả kinh
doanh của doanh nghiệp.
Chính sách kế toán cho việc lập và trình bày BCTC phù hợp với quy đònh
của từng chuẩn mực kế toán. Trường hợp chưa có quy đònh ở chuẩn mực kế toán
hiện hành, doanh nghiệp phải xây dựng các phương pháp kế toán hợp lý nhằm
đảm bảo BCTC cung cấp được các thông tin đáp ứng được các yêu cầu sau :
- Thích hợp với nhu cầu ra các quyết đònh kinh tế của người sử dụng
- Đáng tin cậy, khi :
+ Trình bày trung thực, hợp lý tình hình tài chính, tình hình và kết quả
hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp
+ Phản ánh đúng bản chất kinh tế của các giao dòch và sự kiện, không chỉ
đơn thuần phản ánh hình thức hợp pháp của chúng.
+ Trình bày khách quan, không thiên vò
+ Tuân thủ nguyên tắc thận trọng
+ Trình bày đầy đủ trên mọi khía cạnh trọng yếu.
1.4. Nguyên tắc lập và trình bày báo cáo tài chính
Các giả đònh và nguyên tắc cho việc lập và trình bày BCTC bao gồm :
1.4.1.Hoạt động liên tục
Khi lập và trình bày BCTC, người đứùng đầu doanh nghiệp cần phải đánh
giá về khả năng hoạt động liên tục của doanh nghiệp . BCTC phải được lập trên
cơ sở giả đònh là doanh nghiệp đang hoạt động liên tục và sẽ tiếp tục hoạt động
kinh doanh bình thường trong tương lai gần, trừ khi doanh nghiệp có ý đònh cũng
như buộc phải ngừng hoat động, hoặc phải thu hẹp đáng kể quy mô hoạt động
của mình.
Nếu BCTC không được lập trên cơ sở hoạt động liên tục thì cần phải được
nêu rõ cùng với cơ sở dùng để lập BCTC và láy do khiến cho doanh nghiệp
không được coi là hoạt động liên tục.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét