Tuy nhiên các định nghĩa trên cha nhấn mạnh đến khía cạnh sở hữu.
Cách tiếp cận khác, khi tìm kiếm một định nghĩa về FDI là cách tiếp cận sở
hữu. Synthia day, Wallacc, một chuyên gia Mỹ nghiên cứu về công ty xuyên quốc
gia viết:
Đầu t nớc ngoài có thể định nghĩa theo nghĩa rộng là việc thiết lập hay
giành đợc quyền sở hữu đáng kể trong một hãng (công ty) ở nớc ngoài hay sự gia
tăng khối lợng của một khoản đầu t nớc ngoài nhằm đạt đợc quyền sở hữu đáng
kể.
Các nhà kinh tế Việt Nam, khi nghiên cứu FDI thờng đi theo cách tiếp cận
nguồn vốn, coi FDI là một trong các nguồn vốn nớc ngoài, bên cạnh các nguồn
vốn nh: Tài trợ phát triển chính thức (ODA), viện trợ của các tổ chức phi Chính
phủ (NGOs) tín dụng từ các ngân hàng thơng mại.
Mỗi khái niệm, mỗi cách tiếp cận đều có điểm mạnh và điểm yếu của nó,
nhng dù sao cách hiểu nào đi chăng nữa cũng phần nào giúp chúng ta hiểu đợc về
FDI.
1.2. Khái niệm quản lý Nhà nớc về đầu t nớc ngoài
Quản lý là một chức năng xã hội bắt nguồn từ tính xã hội của lao động. Sự
phát triển không ngừng sản xuất xã hội về quy mô trình độ khoa học và công
nghệ, về các quan hệ phân công và hợp tác trên phạm vi quốc tế, sự phát triển rất
cao của nền kinh tế thị trờng đợc quốc tế hoá nhanh chóng đã thúc đẩy mạnh mẽ
xu hớng nâng cao vai trò quản lý với t cách là một chức năng xã hội đặc biệt.
Từ khi xuất hiện Nhà nớc thì bộ phận quan hệ quản lý quan trọng nhất,- tức
là phần quản lý xã hội quan trọng nhất- do Nhà nớc đảm nhận. Tất nhiên, chúng ta
cần thấy rằng, quản lý xã hội nói chung và quản lý kinh tế nói riêng không chỉ do
Nhà nớc với t cách là tổ chức chính trị quyền lực đặc biệt thực hiện mà còn do các
bộ phận cấu thành khác của hệ thống chính trị thực hiện nh giai cấp, chính đảng,
cơ quan xã hội và ở dới góc độ khác là hộ gia đình, tổ hợp tác hay doanh nghiệp
t nhân.
Quản lý Nhà nớc ở đây không phải là quản lý cái tổ chức chính trị gọi là
Nhà nớc, mà là sự quản lý có tính chất Nhà nớc, do Nhà nớc thực hiện thông qua
bộ máy các cơ quan Nhà nớc, trên cơ sở quyền lực Nhà nớc nhằm thực hiện các
chức năng và nhiệm vụ của mình.
Nghiên cứu về quản lý nhà nớc đối với các hoạt động đầu t trực tiếp, luận
văn này chỉ giới hạn ở khía cạnh quản lý Nhà nớc theo nghĩa hẹp đó là hoạt động
chấp hành và điều hành do hệ thống cơ quan hành chính Nhà nớc thực hiện.
5
Dới trạng thái tĩnh, cơ cấu của quản lý Nhà nớc gồm các yếu tố: Chủ thể,
khách thể, và quan hệ giữa chúng. Trong quá trình quản lý Nhà nớc về đầu t trực
tiếp giữa chủ thể quản lý và khách thể quản lý có mối liên hệ qua lại, gắn bó hữu
cơ. Hoàn toàn sai lầm khi cho rằng quan hệ quản lý chỉ đơn thuần là tác động một
chiều từ chủ thể quản lý lên khác thể quản lý. Quản lý Nhà nớc về đầu t trực tiếp là
sự tác động của chủ thể quản lý (các cơ quan quản lý Nhà nớc) vào khách thể quản
lý (các hoạt động đầu t trực tiếp) nhằm đạt đợc những mục tiêu đã định.
Từ những phân tích trên đây có thể đa ra khái niệm:
Quản lý Nhà nớc về đầu t nớc ngoài là hoạt động chấp hành và điều hành
của các cơ quan hành chính Nhà nớc Việt Nam đợc tiến hành trên cơ sở pháp luật
và để thi hành pháp luật về đầu t trực tiếp nớc ngoài nhằm khuyến khích và bảo
đảm cho các nhà đầu t nớc ngoài tiến hành các hoạt động đầu t tại Việt Nam trên
cơ sở tuân thủ pháp luật và hai bên cùng có lợi.
Mặt chấp hành của hoạt động này thể hiện ở sự thực hiện các quy định của
pháp luật về đầu t trực tiếp nớc ngoài.
Mặt điều hành là sự chỉ đạo trực tiếp hoạt động của đối tợng bị quản lý-
-nhà đầu t nớc ngoài, các bên hợp doanh và doanh nghiệp có vốn đầu t trực tiếp n-
ớc ngoài. Một đặc trng của hoạt động điều hành là ra các văn bản dới luật mang
tính chất pháp lý- quyền lực đợc đảm bảo bởi khả năng áp dụng cỡng chế. Hoạt
động chấp hành thờng bao hàm hoạt động điều hành bởi trong đa số các trờng hợp,
nếu thiếu các hoạt động điều hành thì không thể chấp hành pháp luật một cách
nghiêm chỉnh đợc.
Quản lý Nhà nớc về đầu t trực tiếp nớc ngoài có những đặc trng chủ yếu của
hoạt động quản lý Nhà nớc đó là: hoạt động mang tính tổ chức là chủ yếu. Hoạt
động bảo vệ pháp luật- tài phán trong quản lý Nhà nớc là cần thiết và quan trọng
nhng chỉ chiếm phần nhỏ.
Là hoạt động mang tính chất chủ quan của con ngời nhng quản lý Nhà nớc
về đầu t trực tiếp nớc ngoài còn mang tính tổ chức và sáng tạo cao. Đặc trng này
xuất phát trực tiếp từ bản chất mặt điều hành của quản lý Nhà nớc. Tính chủ động
sáng tạo thể hiện ở hoạt động xây dựng pháp luật theo thẩm quyền, đặc biệt có thể
cả những văn bản chứa đựng các quy phạm tiên phát điều chỉnh quan hệ mới phát
sinh cha ổn định và cha đợc luật điều chỉnh. Tính chủ động sáng tạo đợc quy định
bởi chính sự phức tạp, phong phú và đa dạng của các hoạt động đầu t trực tiếp. Đầu
t trực tiếp luôn biến động và phát triển không ngừng, đòi hỏi phải có sự phối hợp
kịp thời giữa các cơ quan chức năng trong việc vận dụng pháp luật một cách sáng
tạo để giải quyết kịp thời các vấn đề phát sinh trong quá trình hình thành và triển
6
khai dự án. Tất nhiên, trong mọi trờng hợp không thể "chủ động, sáng tạo" ngoài
phạm vi khuôn khổ thẩm quyền luật định.
Quản lý Nhà nớc về đầu t trực tiếp nớc ngoài còn mang tính dới luật. Tính
dới luật thể hiện ở chỗ bản thân hoạt động quản lý là hoạt động chấp hành và điều
hành trên cơ sở các quy định của Luật đầu t nớc ngoài và các đạo luật có liên quan.
Quyết định đợc ban hành của các cơ quan quản lý Nhà nớc về đầu t nớc ngoài phải
phù hợp với các quyết định của luật và các văn bản của cơ quan Nhà nớc cấp trên.
Quản lý Nhà nớc về đầu t nớc ngoài là hoạt động đợc sự bảo đảm về phơng
diện tỏ chức- bộ máy và cơ sở vật chất đó là hệ thống các cơ quan nhiều về số lợng
và biên chế, phức tạp về tổ chức- cơ cấu với nhiều chức năng, nhiệm vụ và phong
phú về hình thức, đa dạng về phơng pháp hoạt động.
Vì đầu t trực tiếp nớc ngoài có mối quan hệ với chính trị cho nên quản lý
Nhà nớc về đầu t trực tiếp nớc ngoài cũng mang tính chính trị. Hoạt động quản lý
kinh tế của Nhà nớc nói chung- trong đó có lĩnh vực đầu t trực tiếp- là một trong
những kênh thực hiện quyền lực Nhà nớc.
Một địa điểm nữa của quản lý Nhà nớc về đầu t trực tiếp nớc ngoài là tính
chuyên nghiệp và liên tục. Đầu t trực tiếp trong giai đoạn phát triển thứ ba của nền
kinh tế thế giới có tính chất tập trung cao và gắn chặt với buôn bán quốc tế và
chuyển giao công nghệ. Vì vậy, hoạt động quản lý đầu t trực tiếp phải là hoạt động
có tính chuyên nghiệp cao. Đây là vấn đề hết sức bức xúc với đội ngũ cán bộ quản
lý vừa thiếu, lại vừa yếu của chúng ta. Nhà quản lý không những chỉ cần có kiến
thức về lý luận quản lý, về pháp luật kinh tế vững vàng mà phải có kinh nghiệm
thực tiễn, có kiến thức về ngành, lĩnh vực mình đảm nhiệm. Tính liên tục thể hiện
ở chỗ, hoạt động quản lý phải đợc tiến hành thờng xuyên mà không thể bị gián
đoạn vì hoạt động bị quản lý diễn ra khong ngừng trong thực tiễn. Ngoài ra quản
lý Nhà nớc về đầu t nớc ngoài còn có các địa điểm khác là: Tính khoa học, tính kế
hoạch, tính thờng đợc thể hiện dới hình thức pháp lý
Mỗi giai đoạn lịch sử, tuỳ theo những nhiệm vụ kinh tế- xã hội đòi hỏi phải
thực hiện mà nội hàm khái niệm quản lý Nhà nớc về kinh tế đã có sự thay đổi.
Điều này thể hiện rõ trong các học thuyết về kinh tế khi đi tìm tòi vai trò của Nhà
nớc đối với nền kinh tế.
Với t tởng cho rằng, nguồn gốc của sự giàu có của mỗi dân tộc nằm ở sự tự
do kinh tế, Adam Smith (1723-1790) cha nhận thấy vai trò đích thực của Nhà nớc.
Theo ông, nền kinh tế phát triển, xã hội giàu có là nhờ sự tự do cạnh tranh, còn vai
trò kinh tế của Nhà nớc chỉ dừng lại ở việc bảo vệ quyền sở hữu, bảo đảm môi tr-
ờng kinh doanh. Nền kinh tế thị trờng tự do (the free market economy) với lý
7
thuyết của Adam Smith đã đề cao vai trò cạnh tranh và sự điều tiết bởi "Bàn tay vô
hình" của cơ chế thị trờng, hạ thấp vai trò của Nhà nớc và cho rằng Nhà nớc cần
thiết phải rút lui ra khỏi nền kinh tế, chỉ nên là "Ngời lính gác đêm" cho nền kinh
tế.
Ngợc lại, những nhà kinh tế học theo trờng phái Keynes đã đề cao vai trò
điều tiết vĩ mô của Nhà nớc. Học thuyết này đa ra nhiều biện pháp can thiệp vào
quá trình phát triển kinh tế nh sử dụng đơn đặt hàng của Nhà nớc, sử dụng ngân
sách Nhà nớc nh là công cụ điều tiết, sử dụng các biện pháp điều hoà nhằm phối
hợp giữa đầu t t nhân với việc sử dụng linh hoạt các khoản chi ngân sách Nhà nớc.
Nhiều nhà kinh tế theo học thuyết này cho rằng để điều tiết nền kinh tế có hiệu quả
chủ yếu phải bằng kế hoạch hoá.
Học thuyết về nền kinh tế hỗn hợp (The mixed economy) xây dựng một mô
hình kinh tế mới phối hợp năng động giữa thị trờng và sự can thiệp của Nhà nớc
trong giải quyết các vấn đề kinh tế. Học thuyết này đợc phát triển hoàn chỉnh với
đỉnh cao là công trình nghiên cứu của nhà kinh tế học đợc giải Nôbel về kinh tế
ngời Mỹ là A.SamuelSon. Học thuyết nền kinh tế hỗn hợp dã tìm kiếm đợc con đ-
ờng thứ ba nằm giữa mô hình kinh tế thị trờng tự do với "bàn tay vô hình" của thị
trờng và nền kinh tế kế hoạch tập trung mệnh lệnh (The command economy) với
"bàn tay hữu hình" của Nhà nớc.
Mô hình kinh tế hỗn hợp đang đợc áp dụng có hiệu quả ở hầu hết các quốc
gia có nền kinh tế thị trờng phát triển, tuy mức độ hỗn hợp của mỗi nớc có khác
nhau. Nhà nớc cần can thiệp vào các hoạt động trong nền kinh tế thị trờng ở những
chừng mực và phơng pháp nhất định là đúng đắn và cần thiết khách quan. Lý do
của sự can thiệp này nhằm khắc phục nhanh chóng và kịp thời các khuyết tật cố
hữu của thị trờng, phân bổ các nguồn lực kinh tế hợp lý, hớng các hoạt động kinh
tế- đầu t vào quỹ đạo với hiệu quả cao nhất.
Vấn đề đổi mới theo hớng nâng cao vai trò quản lý về kinh tế nói chung và
đầu t trực tiếp nớc ngoài nói riêng là một xu thế khách quan đối với tất cả các quốc
gia không phân biệt chế độ chính trị, văn hoá, xã hội, xu hớng quốc tế hoá đời
sống kinh tế đòi hỏi Nhà nớc bằng mọi biện pháp có thể can thiệp vào quá trình
đầu t trực tiếp nớc ngoài để cho nền kinh tế phát triển đúng hớng và sâu xa hơn là
do chính sự tồn tại của chế độ Nhà nớc đó. Nh vậy, muốn tồn tại và phát triển,
không có quốc gia nào đứng ngoài đời sống kinh tế quốc tế và cũng kông có nền
kinh tế thị trờng nào thuần khiết mà không có sự điều tiết của Nhà nớc.
Cơng lĩnh Đại hội VII đã chỉ rõ: " Là tổ chức thể hiện và thực hiện ý chí,
quyền lực của nhân dân, thay mặt nhân dân nhà nớc phải có đủ quyền lực, đủ khả
8
năng định ra luật pháp, tổ chức và quản lý mọi mặt đời sống xã hội bằng pháp
luật.
Quản lý Nhà nớc về đầu t trực tiếp nớc ngoài là bộ phận của quản lý Nhà n-
ớc về kinh tế. Nó chịu sự tác động và chi phối của cơ chế quản lý và phơng pháp
quản lý. Một khi Nhà nớc trực tiếp tiến hành quản lý nền sản xuất xã hội, điều tiết
nền kinh tế bằng các công cụ quản lý vĩ mô thì việc điều chỉnh các quan hệ đầu t
trực tiếp, hớng các quan hệ này phát triển này trong khuôn khổ luật định là điều
hết sức dễ hiểu. Bất kỳ quốc gia tiếp nhận đầu t nào cũng nắm chắc các công cụ
quan trọng nhất là pháp luật về kế hoạch để thu hút, kiểm soát và điều tiết đầu t
trực tiếp theo những mục tiêu trong từng giai đoạn nhất định.
Hoạt động quản lý Nhà nớc về đầu t trực tiếp nớc ngoài đợc hình thành và
từng bớc hoàn thiện gắn liền với phơng hớng đổi mới vai trò kinh tế của Nhà nớc
gắn liền với việc thực hiện một cuộc cải cách lớn về tổ chức và hoạt động của quản
lý Nhà nớc. Đó là việc tìm kiếm và tận dụng tối đa những lợi thế so sánh để thu
hút đầu t nớc ngoài đồng thời khai thác và phát huy triệt để mọi năng lực sản xuất
trong nớc, kết hợp hài hoà giữa nguồn lực bên trong và bên ngoài vì mục tiêu xây
dựng xã hội, dân chủ công bằng văn minh.
Đờng lối trên là sự áp dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác- Lê nin, t tởng Hồ Chí
Minh trong thực tiễn Cách mạng Việt Nam, là kinh nghiệm đúc rút "kết hợp sức
mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại" vào công cuộc xây dựng và phát triển kinh tế.
Cần tránh việc coi chính sách kinh tế mở nh là một chính sách kinh tế hớng ngoại,
trái lại đó là một chính sách vừa mở ra cho sản xuất trong nớc, vừa mở ra cho t bản
bên ngoài, tận dụng mọi nguồn lực có thể đợc từ bên ngoài mà không coi nhẹ đầu
t cho sản xuất trong nớc. Mở cửa cho bên ngoài nhng có các biện pháp cần thiết để
bảo hộ mậu dịch, bảo vệ an ninh quốc phòng, đẩy mạnh xuất khẩu và phấn đấu
tham gia ngày càng sâu trong phân công lao động quốc tế nhng vẫn kết hợp hài
hoà với việc mở rộng phân công lao động trong nớc và phát triển các thị trờng
trong nớc.
Sự thông thoáng của Luật đầu t nớc ngoài là cái giá mà nớc ta phải trả một
cách có tính toán nhằm thực hiện các mục tiêu hợp tác- đầu t với nớc ngoài để
nhận đợc càng sớm càng tốt những cái ta đang thiếu và rất cần cho chiến lợc công
nghiệp hoá, hiện đại hoá hớng về xuất khẩu. Nhng, nh một hành lang, dù có rộng
rãi đến đâu vẫn cần phải có những khuôn khổ. Nh vậy song với những quy định
cởi mở nhằm thu hút đầu t nớc ngoài thì cần thiết phải tăng cờng hoạt động quản
lý Nhà nớc để đảm bảo hiệu quả và mục đích của đầu t trực tiếp đối với nền kinh tế
nớc ta. Đổi mới và thực hiện cơ chế quản lý về đầu t trực tiếp nớc ngoài, Nhà nớc
9
ta thực hiện sự tác động mang tính quyền lực vào các quan hệ đầu t trực tiếp theo
những hình thức và phơng pháp nhất định để đạt đợc mục tiêu sự nghiệp công
nghiệp hoá, hiện đại hoá đặt ra.
1.3. Chức năng và các nguyên tắc quản lý Nhà nớc về đầu t
nớc ngoài
1.3.1. Các chức năng của quản lý Nhà nớc về đầu
t nớc ngoài
Dới trạng thái "động", quản lý Nhà nớc về đầu t nớc ngoài là một loại hoạt
động có những nội dung và hình thức biểu hiện sinh động. Nội dung của quản lý
Nhà nớc về đầu t nớc ngoài gồm các yếu tố: Mục đích, nhiệm vụ, chức năng và ph-
ơng pháp quản lý. Trong phần này, ta đi vào nghiên cứu yếu tố quan trọng nhất đó
là chức năng của quản lý Nhà nớc về đầu t nớc ngoài. Sự cần thiết khách quan của
việc nghiên cứu các chức năng này thể hiện ở chỗ các mục đích và nhiệm vụ quản
lý đạt đợc là nhờ chức năng quản lý. Vì vậy, có thể coi chức năng quản lý nh là
một phơng tiện thực hiện nhiệm vụ quản lý.
Trong lĩnh vực đầu t nớc ngoài quản lý Nhà nớc mang nhiều chức năng
khác nhau, các chức năng này vừa có mối liên hệ chặt chẽ, vừa có tính độc lập t-
ơng đối do quá trình hợp tác, phân công và chuyên môn hoá cao.
Số lợng, phân loại các chức năng quản lý Nhà nớc về đầu t nớc ngoài phụ
thuộc vào mục đích nghiên cứu và giác độ tiếp cận vấn đề.
ở đây, có thể phân loại các chức năng quản lý Nhà nớc về đầu t trực tiếp nớc
ngoài thành nhóm các chức năng cơ bản và nhóm các chức năng không cơ bản.
Những chức năng cơ bản của quản lý Nhà nớc về đầu t nớc ngoài là:
Chức năng dự báo: là hoạt động dựa trên các cơ sở các thông tin
chính xác và kết luận khoa học, nghiên cứu và dự báo các quá trình, đặc điểm, xu
hớng phát triển của đầu t trực tiếp. Tính chất và động thái của tình hình đầu t trực
tiếp diễn ra hết sức phức tạp, theo nhiều chu trình. Dự báo là điều kiện không thể
thiếu đợc trong việc xây dựng và thực hiện các dự án đầu t, việc tiến hành các nội
dung của quản lý Nhà nớc về đầu t nớc ngoài. Do vậy, dự báo ngày càng đóng vai
trò quan trọng, có ý nghĩa đặc biệt để thực hiện tốt các chức năng khác.
Chức năng kế hoạch hoá: Kinh tế thị trờng không đồng nghĩa với
việc loại trừ vai trò của kế hoạch hoá mà trái lại, nó rất cần sự định hớng và điều
tiết của Nhà nớc thông qua công cụ kế hoạch. Việc xây dựng các phơng án, mục
tiêu, chơng trình hành động và những bớc đi cụ thể có ý nghĩa đặc biệt to lớn đối
10
với hoạt động đầu t trực tiếp. Điều này hoàn toàn không làm cho các nhà đầu t nớc
ngoài lo sợ mà còn làm tăng độ hấp dẫn của môi trờng đầu t bởi đó là những định
hớng, quan điểm chính thức của Nhà nớc khi thừa nhận các hoạt động đầu t nớc
ngoài. Trong bối cảnh hiện nay khi thị trờng trong nớc và quốc tế đang dần xích lại
thì vai trò của kế hoạch hoá càng trở nên quan trọng hơn bao giờ hết.
Chức năng tổ chức- điều hành: Chức năng này đóng vai trò hết sức
quan trọng trong quản lý Nhà nớc về đầu t nớc ngoài. Đó là việc xây dựng hệ
thống cơ quan quản lý và cả một số chủ thể tham gia trực tiếp vào các quan hệ đầu
t nớc ngoài, đó là việc ban hành các quy định hành chính- pháp lý thừa nhận các tổ
chức, cá nhân có đầy đủ năng lực tham gia quan hệ đầu t, tham gia các hoạt động
liên quan đến đầu t trực tiếp. Đồng thời chức năng này còn bao hàm những hoạt
động xác lập và điều chỉnh những hành vi nhất định của các chủ thể quan hệ đầu t
trực tiếp. Chức năng tổ chức điều hành còn thể hiện qua việc thiết lập các chế độ
quản lý đầu t, cho hoạt động đầu t nhằm bảo vệ lợi ích Nhà nớc, bảo hộ sản xuất
trong nớc và khuyến khích hoạt động đầu t nớc ngoài vào các lĩnh vực của nền
kinh tế theo nguyên tắc : "Cơ quan Nhà nớc chỉ đợc làm những gì pháp luật không
cấm".
Chức năng kiểm tra, giám sát các hoạt động đầu t nớc ngoài: Đó là
việc căn cứ vào chế độ, chính sách, kế hoạch và pháp luật để phát hiện và đề ra các
biện pháp khắc phục những sai sót lệch lạc, vớng mắc trong quá trình đàm phán,
triển khai và thực hiện dự án đầu t. Vì vậy, có thể coi: "Kiểm tra là tai, là mắt của
quản lý". Hoạt động kiểm tra, thanh tra cần đợc tiến hành thờng xuyên dới nhiều
hình thức và phơng pháp đối với các nhà đầu t đối với các nhà đầu t lẫn cơ quan
quản lý về đầu t nớc ngoài.
Tóm lại, các chức năng cơ bản của quản lý Nhà nớc về đầu t nớc
ngoài không tồn tại độc lập mà tác động qua lại với nhau. Chỉ có thể quản lý tốt
các hoạt động đầu t nớc ngoài khi các chức năng quản lý nêu trên một cách đồng
bộ và thống nhất.
1.3.2. Các nguyên tắc quản lý Nhà nớc về đầu t n-
ớc ngoài
Nhiệm vụ của hoạt động quản lý là giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa
hoạt động chủ quan và thực tiễn khách quan. Trong quá trình quản lý- với t cách
đại diện cho quyền lực công, cho lợi ích quốc gia- mỗi viên chức trong các cơ quan
quản lý Nhà nớc về đầu t nớc ngoài phải có t duy và hành động khoa học, nghiêm
chỉnh chấp hành hoạt động công vụ. Với tính chất phức tạp của đầu t nớc ngoài,
11
mọi quyết định quản lý ra đời từ sự chủ quan duy ý chí hay nóng vội đều đi tới thất
bại.
Thuật ngữ "Nguyên tắc" có nguồn gốc từ tiếng La tinh "principiuim"
(nguyên lý) và có nghĩa là những t tởng đầu tiên t tởng chỉ đạo trong khoa học,
hiện tợng, quá trình. Nguyên tắc đó đợc áp dụng để nghiên cứu pháp luật nói
chung và các chế định của nó nói riêng. Nguyên tắc- nh Ph.Anghen viết- không
phải là "Chân lý tuyệt đối" mà thợng đế đã ban cho con ngời, nhng cũng phải thừa
nhận rằng, nguyên tắc không phải là bản thân thực tiễn quản lý. Ông viết tiếp:
"Nguyên tắc chính là kết quả đợc rút ra từ quá trình nghiên cứu sự phát triển của tự
nhiên và lịch sử".
Trong lĩnh vực quản lý Nhà nớc về đầu t nớc ngoài, nguyên tắc quản lý Nhà
nớc về đầu t nớc ngoài là những t tởng chỉ đạo, làm nền tảng cho quá trình tổ chức
và thực hiện các chức năng của quản lý Nhà nớc về đầu t nớc ngoài.
Đầu t nớc ngoài- hoạt động kinh tế mới mẻ hoàn toàn cha có tỷ lệ- do đó
quản lý về đầu t nớc ngoài đòi hỏi phải nắm vững chính sách, pháp luật, đồng thời
phải tìm tòi, sáng tạo những nội dung và hình thức quản lý mới đã đợc thực tiễn
thừa nhận.
Nh vậy, các nguyên tắc không thể đặt ra bởi ý chí chủ quan của con ngời.
Chúng ta không thể nghĩ ra các nguyên tắc, mà chỉ nêu chúng lên, mô tả chúng,
tổng kết chúng do kết quả của sự nghiên cứu thực tiễn khách quan. Bởi bản thân
các nguyên tắc không phải là cái gì khác mà chính là biểu hiện của các quy luật
khách quan đợc con ngời nhận thức.
Tự thân các quy luật có tính ổn định cao, vì thế các nguyên tắc quản lý Nhà
nớc cũng mang tính ổn định cao. Tuy vậy, chúng không phải là bất biến vì cuộc
sống luôn phát triển và vận động cùng các quy luật của nó. Do đó, các nguyên tắc
của quản lý Nhà nớc sẽ phát triển theo, mất đi những nguyên tắc này và xuất hiện
những nguyên tắc khác. Các nguyên tắc cũ còn tồn tại đợc sửa đổi sửa đổi, bổ
sung, đợc làm phong phú hơn về nội dung và hình thức. Vì vậy, cần nắm vững và
vận dụng đúng đắn những nguyên tắc quản lý Nhà nớc về đầu t nớc ngoài.
Vì mỗi nguyên tắc chỉ phản ánh một hay một số quy luật khách quan- chứ
không phản ánh toàn bộ các quy luật đó- nên chúng có tính độc lập tơng đối với
nhau. Đồng thời, chúng có quan hệ chặt chẽ bởi cùng đề cập đến những mặt khác
nhau của một hoạt động- đó là quản lý Nhà nớc về đầu t nớc ngoài. Việc tuân thủ
nguyên tắc này sẽ tạo điều kiện thực hiện các nguyên tắc khác, ngợc lại, vi phạm
nguyên tắc nào đó sẽ kéo theo sự vi phạm các nguyên tắc tơng ứng.
12
Hệ thống các nguyên tắc quản lý Nhà nớc về đầu t nớc ngoài rất đa dạng, ở
đây chỉ đi vào trình bày những nguyên tắc đặc trng cơ bản sau:
+ Nguyên tắc pháp chế
+ Nguyên tắc kế hoạch hoá
+ Nguyên tắc "một cửa" trong quản lý Nhà nớc.
+ Nguyên tắc đơn giản, nhanh chóng.
+ Nguyên tắc bảo đảm và khuyến khích các hoạt động đầu t nớc ngoài.
Nguyên tắc pháp chế:
Pháp chế là sự hiện diện của một hệ thống pháp luật cần và đủ để điều
chỉnh các quan hệ xã hội, làm cơ sở cho sự tồn tại một trật tự pháp luật và kỷ luật,
là sự tuân thủ và thực hiện đầy đủ pháp luật trong tổ chức và hoạt động của Nhà n-
ớc, của các cơ quan đơn vị, tổ chức và đối với công dân.
Pháp chế là phơng thức để tổ chức, trật tự hoá đời sống xã hội phù hợp với
ý chí của giai cấp cầm quyền. Nếu nh ý chí của giai cấp thống trị đợc đa lên thành
luật, xuất phát từ nhu cầu và điều kiện xã hội thực tại của giai cấp đó thì pháp chế
là việc đa ý chí đó vào cuộc sống, trở thành hiện thực và có đợc sức mạnh vật chất.
Dới góc độ quản lý Nhà nớc về đầu t nớc ngoài, đây là nguyên tắc của mọi
nguyên tắc, nó đòi hỏi tổ chức và hoạt động của bộ máy quản lý Nhà nớc về đầu t
nớc ngoài phải đợc pháp luật điều chỉnh chặt chẽ và pháp luật đó phải đợc tuân thủ
nghiêm chỉnh.
Cơ sở nguyên tắc này là điều 12/hiến pháp 1992: "Nhà nớc quản lý xã hội
bằng pháp luật và không ngừng tăng cờng pháp chế XHCN "
Nguyên tắc pháp chế đòi hỏi việc tổ chức cac cơ quan Nhà nớc thực hiện
chức năng quản lý về đầu t nớc ngoài phải trên cơ sở các văn bản pháp luật và vấn
đề then chốt tiếp theo là những cơ quan này phải thực hiện đúng các chức năng,
nhiệm vụ của mình.
Để thực hiện những đòi hỏi về tính thống nhất của pháp chế, cơ quan quản
lý Nhà nớc về đầu t khi ban hành quyết định quản lý và thực hiện hành vi quản lý
không đợc vợt quá thẩm quyền theo luật định. Nguyên tắc pháp chế đợc thể hiện
tại nhiều quy định trong cac văn bản pháp luật về đầu t nớc ngoài. Điều 1-Luật đầu
t nớc ngoài quy định: "Nhà nớc Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khuyến
khích các nhà đầu t nớc ngoài đầu t vào Việt Nam trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ
quyền và tuân thủ pháp luật của Việt Nam".
13
Khoản 1, điều 5 nghị định 12/CP quy định:"Trong hoạt động đầu t tại Việt
Nam, các đối tợng tham gia hợp tác đầu t phải tuân thủ các quy định của Luật
đầu t nớc ngoài tại Việt Nam, các quy định của nghị định này và các quy định
khác có liên quan của pháp luật Việt Nam".
Mọi hoạt động đầu t bất hợp pháp hay hoạt động cản trở đầu t hợp pháp đều
bị xử lý theo pháp luật. Theo điều 63 Luật đầu t nớc ngoài thì: "Nhà đầu t nớc
ngoài, doanh nghiệp có vốn đầu t nớc ngoài các bên tham gia hoạt động hợp tác
kinh doanh, tổ chức, cá nhân, viên chức, cơ quan Nhà nớc vi phạm các quy định
của pháp luật về đầu t nớc ngoài thì tuỳ theo mức độ vi phạm sẽ bị xử lý theo quy
định của pháp luật".
Lần đầu tiên, một quy phạm mới đã đợc bổ sung trong lần sửa Luật tháng
10/1996 đã thiết lập chế độ trách nhiệm của viên chức và cơ quan Nhà nớc khi
thừa hành công vụ. Điều 64, Luật đầu t nớc ngoài quy định: "Nhà đầu t nớc ngoài,
doanh nghiệp có vốn đầu t nớc ngoài, các bên tham gia hợp đồng hợp tác kinh
doanh, tổ chức, cá nhân đợc quyền khiếu nại, khởi kiện đối với các quyết định và
hành vi trái pháp luật, gây khó khăn, phiền hà của viên chức, cơ quan Nhà nớc "
Nguyên tắc kế hoạch hoá:
Kế hoạch hoá trong quản lý Nhà nớc xã hội chủ nghĩa Việt Nam là một
chức năng cơ bản nhất, là một đặc trng.
Để quản lý nền kinh tế trong lĩnh vực đầu t trực tiếp nớc ngoài, Nhà nớc sử
dụng kế hoạch hoá nh là một công cụ chủ yếu. Kế hoạch hoá là hoạt động nhằm
sử dụng công cụ kế hoạch trong thực tiễn quản lý. Kế hoạch chỉ đợc thực hiện và
phát huy vai trò của mình qua công tác kế hoạch hoá. Ngày nay, các Nhà nớc hiện
đại đều coi trọng kế hoạch hoá trong quản lý với nhiều hình thức và mức độ khác
nhau.
Quản lý có kế hoạch hoạt động đầu t nớc ngoài là một tất yếu khách quan.
Tuy nhiên, để quản lý theo nguyên tắc kế hoạch hoá cần phải có quá trình học hỏi,
tìm tòi, thử nghiệm khó khăn và phức tạp. Kinh nghiệm lịch sử cho thấy, sức mạnh
và tính u việt của nền kinh tế có kế hoạch, đồng thời chỉ ra rằng phải không ngừng
đổi mới, nâng cao trình độ kế hoạch hoá. Kế hoạch hoá là xây dựng kế hoạch
thành những phơng án cụ thể hoá đờng lối của Đảng, pháp luật của Nhà nớc về
đầu t nớc ngoài.
Thông qua kế hoạch mà đờng lối vận động, chính sách quản lý đầu t nớc
ngoài đợc cụ thể hoá thành mục tiêu trong từng thời gian nhất định.
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét