Thứ Hai, 10 tháng 2, 2014

Hoàn thiện hoạt động phân tích tài chính tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Sài Gòn Thương Tín

Ngoài các hoạt động tài chính trên NHTM còn cung cấp các dịch vụ
như: dịch vụ thanh toán, chuyển tiền, chi trả kiều hối,
1.2.Phân tích tài chính của NHTM.
1.2.1. Khái niệm hoạt động phân tích tài chính NHTM.
- Phân tích tài chính: là việc sử dụng một tập hợp các khái niệm, phương
pháp và các công cụ cho phép để xử lý các thông tin kế toán và các thông tin
khác nhằm đánh giá tình hình tài chính của một doanh nghiệp, đánh giá rủi ro
và hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp đó.
- NHTM với tư cách là một loại hình doanh nghiệp đặc biệt với đặc
trưng chủ yếu là kinh doanh tiền tệ, các công cụ trên thị trường tài chính và
các dịch vụ tài chính. Do vậy hoạt động phân tích tài chính của NHTM có thể
định nghĩa như sau: “Phân tích tài chính của NHTM là việc xử lý các thông
tin tài chính, phân tích các thông tin dựa trên các tiêu chí đánh giá tổng hợp
về hoạt động kinh doanh của NHTM nhằm rút ra được những nhận xét, đánh
giá về tình hình hoạt động của NHTM về cả mặt chất và mặt lượng”.
1.2.2. Mục đích của hoạt động phân tích tài chính NHTM.
- Mục đích của hoạt động phân tích tài chính NHTM là đánh giá tình
hình tài chính, hoạt động kinh doanh của ngân hàng trong mối quan hệ so
sánh với các ngân hàng khác và các chỉ tiêu bình quân của ngành, giúp các
nhà quản lý, các nhà đầu tư và những đối tượng quan tâm nắm bắt được tình
hình hoạt động kinh doanh của ngân hàng với đầy đủ điểm mạnh, điểm yếu
cũng như những thuận lợi, khó khăn trong từng giai đoạn để từ đó có cơ sở
đưa ra những quyết định kinh doanh đúng đắn.
- Đối tượng khác nhau sẽ có mục đích phân tích khác nhau:
+ Đối với nhà quản trị ngân hàng:
-> Thông qua phân tích tài chính, các nhà quản lý có thể nhìn nhận đúng
đắn về khả năng, sức mạnh cũng như những tồn tại, hạn chế của ngân hàng, từ
5
đó xác định được mục tiêu và những biện pháp nhằm thúc đẩy kinh doanh,
xây dựng chiến lược kinh doanh hiệu quả.
-> Phân tích tài chính là cơ sở để ngân hàng phát hiện, đo lường các rủi
ro, từ đó có những biện pháp kịp thời để phòng ngừa, hạn chế rủi ro đó.
-> Phân tích tài chính sẽ giúp cho các nhà quản trị ngân hàng đánh giá,
đo lường được mức độ thực hiện cũng như tính đúng đắn của chiến lược kinh
doanh, để từ đó có những điều chỉnh kịp thời giúp ngân hàng không đi chệch
hướng.
-> Phân tích tài chính của ngân hàng còn là điều kiện cần thiết cho cơ
quan quản lý có cơ sở đưa ra các biện pháp thích hợp trong việc huy động vốn
và sử dụng vốn một cách hiệu quả hơn nhằm góp phần hạn chế rủi ro và nâng
cao lợi nhuận cho Ngân hàng.
+ Đối với nhà đầu tư: đánh giá kết quả kinh doanh và khả năng sinh lời
của ngân hàng để có quyết định đầu tư đúng đắn.
+ Đối với người gửi tiền: đánh giá khả năng thanh toán của ngân hàng
+ Đối với Ngân hàng Nhà nước: Nắm được tình hình kinh doanh, mức
độ an toàn, minh bạch trong hoạt động kinh doanh của các NHTM để có
những chính sách quản lý và những biện pháp xử lý kịp thời nhằm đảm bảo
hoạt động của hệ thống ngân hàng được lành mạnh và hiệu quả.
+
1.2.3. Các phương pháp phân tích tài chính NHTM.
1.2.3.1. Phương pháp so sánh:
- Đây là phương pháp được sử dụng phổ biến để đánh giá kết quả, xác
định vị trí và xu hướng biến động của chỉ tiêu phân tích. Khi phân tích, các
nhà phân tích thường so sánh theo thời gian (so sánh kỳ này với kỳ trước) để
nhận biết được xu hướng thay đổi tình hình tài chính của ngân hàng và so
sánh theo không gian (so sánh với mức bình quân của ngành, với các đơn vị
khác) để đánh giá vị thế của ngân hàng trong ngành.
6
- Để áp dụng phương pháp so sánh, cần chú ý đến các vấn đề sau:
+ Điều kiện so sánh được của các chỉ tiêu: Để so sánh được với nhau,
các chỉ tiêu phải đảm bảo các điều kiện có thể so sánh. Các chỉ tiêu sử dụng để
so sánh phải thống nhất về nội dung phản ánh, phương pháp tính toán, về thời
gian và đơn vị đo lường. Nếu không thống nhất các điều kiện so sánh, việc so
sánh sẽ không có giá trị, thậm trí còn phản ánh sai lệch thông tin.
+ Gốc so sánh: Để so sánh cần phải có gốc so sánh. Việc xác định
gốc so sánh tuỳ thuộc vào mục đích phân tích. Gốc so sánh thường được xác
định theo thời gian và không gian. Về mặt thời gian: Có thể lựa chọn kỳ kế
hoạch, kỳ trước, cùng kỳ năm trước hay lựa chọn các điểm thời gian (năm,
tháng, tuần, ngày cụ thể) để làm gốc so sánh; Về mặt không gian: Có thể lựa
chọn các đơn vị khác có cùng điều kiện tương đương để làm gốc so sánh.
+ Kỹ thuật so sánh: Để phục vụ cho mục đích cụ thể của phân tích,
phương pháp so sánh thường được sử dụng dưới các dạng sau:
* So sánh tuyệt đối: Được sử dụng để phản ánh quy mô của các hiện
tượng, sự vật, hoạt động,…Bởi vậy, khi so sánh bằng số tuyệt đối, các nhà
phân tích sẽ biết được quy mô biến động của các chỉ tiêu phân tích. Nói cách
khá, so sánh bằng số tuyệt đối sẽ cung cấp thông tin về mức độ biến động
(vượt (+) hay hụt (-)) của chỉ tiêu nghiên cứu giữa kỳ phân tích so với kỳ gốc.
* So sánh tương đối: Là kết quả so sánh giữa các kỳ phân tích được
thực hiện bằng phép chia giữa các mức độ của chỉ tiêu xem xét ở các thời kỳ
khác nhau. Kết quả so sánh bằng số tương đối phản ánh mối quan hệ tỷ lệ, kết
cấu của từng chỉ tiêu trong tổng thể hoặc biến động về tốc độ của chỉ tiêu
nghiên cứu giữa các thời kỳ khác nhau.
* So sánh số bình quân: Khi so sánh bằng số bình quân, các nhà quản lý
sẽ biết được mức độ mà doanh nghiệp mình đã đạt được so với bình quân chung
của tổng thể, của ngành, Từ đó xác định được vị trí của doanh nghiệp mình.
7
1.2.3.2. Phương pháp tỷ lệ:
Là phương pháp phản ánh kết cấu, mối quan hệ giữa các chỉ tiêu tài
chính cũng như sự biến đổi của lượng tài chính thông qua hàng loạt tỷ lệ theo
chuỗi thời gian liên tục hoặc theo từng giai đoạn.
Phương pháp tỷ lệ là một trong những phương pháp dễ thực hiện và kết
quả có độ chính xác khá cao với điều kiện áp dụng ngày càng được bổ sung
và hoàn thiện, do:
Thứ nhất: Nguồn thông tin kế toán và tài chính được cải tiến và được
cung cấp ngày càng chi tiết, đầy đủ hơn. Đó là cơ sở hình thành những tham
chiếu tin cậy cho việc đánh giá một tỷ lệ nào đó của một NHTM.
Thứ hai: Việc áp dụng các công nghệ tin học cho phép tích luỹ dữ liệu
và thúc đẩy nhanh quá trình tính toán hàng loạt các tỷ lệ.
Thứ ba: Phương pháp phân tích này giúp nhà phân tích khai thác có
hiệu quả những số liệu và phân tích một cách có hệ thống hàng loạt tỷ lệ theo
chuỗi thời gian liên tục hoặc theo từng giai đoạn.
Nhược điểm của phương pháp này là sự rời rạc, không liên kết trong hệ
thống các chỉ số.
1.2.3.3. Phương pháp Dupont:
Là phương pháp phân tích tài chính nhằm đánh giá sự tác động hỗ trợ
giữa các tỷ số tài chính, biến một chỉ tiêu tổng hợp thành một hàm số của một
loạt biến số. Điều đó cho phép phân tích ảnh hưởng của các tỷ số đó đối với
tỷ số tổng hợp. Như vậy, với phương pháp phân tích này các nhà phân tích sẽ
nhận biết được nguyên nhân dẫn đến các hiện tượng tốt, xấu trong hoạt động
của NHTM. Đây cũng chính là ưu điểm của phương pháp phân tích tài chính
này với khả năng khắc phục nhược điểm của hai phương pháp trên. Thực tế
cho thấy phương pháp này đã được áp dụng ở nhiều nước và đang bắt đầu
8
được áp dụng ở Việt Nam.
1.2.3.4. Phương pháp phân tích định tính.
Đây là phương pháp phân tích bổ sung cho phương pháp phân tích định
lượng, khắc phục những nhược điểm của phương pháp phân tích định lượng
là không tạo ra được tính liên kết, tổng hợp giữa các thông tin phục vụ phân
tích được phân theo các nhóm khác nhau.
Phương pháp phân tích này có thể sử dụng kết quả từ phương pháp
định lượng để đánh giá các điểm mạnh, điểm yếu, phân tích các cơ hội và
những mối đe doạ đối với hoạt động tài chính của ngân hàng để từ đó có thể
đề ra các chiến lược, tận dụng các cơ hội để phát huy điểm mạnh, khắc phục
điểm yếu.
1.2.4. Nội dung của hoạt động phân tích tài chính NHTM.
1.2.4.1. Các thông tin sử dụng trong phân tích tài chính.
Trong phân tích tài chính nhà phân tích phải thu thập, sử dụng mọi
nguồn thông tin từ những thông tin từ nội bộ ngân hàng đến những thông tin
bên ngoài ngân hàng. Những thông tin đó đều giúp cho nhà phân tích có thể
đưa ra được những đánh giá, nhận xét nhất định. Tuy nhiên, để có thể đánh
giá được một cách cơ bản nhất tình hình tài chính của một NHTM có thể sử
dụng những thông tin kế toán tài chính như một nguồn thông tin quan trọng
nhất đó chính là các báo cáo tài chính (Bảng cân đối kế toán; Báo cáo kết quả
hoạt động kinh doanh).
* Bảng cân đối kế toán:
- Phần nội bảng: Bảng cân đối kế toán gồm 2 phần Tài sản và Nguồn
vốn. Trong đó, phần Tài sản thể hiện những gì ngân hàng đang sở
hữu mà chủ yếu là những khoản tín dụng và đầu tư; phần Nguồn vốn
chủ yếu là tiền gửi của khách hàng; Tiền gửi và vay các TCTD khác;
Các khoản nợ chính phủ và NHNN; Vốn tài trợ, uỷ thác đầu tư;
9
Vốn chủ sở hữu gồm Vốn điều lệ; các khoản chênh lệch do đánh giá
lại tài sản, chênh lệch tỷ giá theo quy định của pháp luật; Thặng dư
vốn cổ phần; Các quỹ dự trữ bổ sung vốn điều lệ, quỹ đầu tư phát
triển nghiệp vụ, quỹ dự phòng tài chính; Lợi nhuận được để lại.
Bảng cân đối kế toán thường được lập vào cuối kỳ (quý hoặc năm) phản
ánh quy mô, cấu trúc Nguồn vốn và Tài sản của ngân hàng. Tài sản và Nguồn
vốn phải luôn bằng nhau. Rõ ràng Bảng cân đối kế toán phải thoả mãn điều kiện:
Tổng tài sản = Tổng nguồn vốn
= Tổng nợ phải trả và Vốn chủ sở hữu
So với Bảng cân đối kế toán của các doanh nghiệp phi tài chính,
Bảng cân đối kế toán của NHTM có cơ cấu khác biệt. Hầu hết tài sản của
NHTM là các khoản nợ về tài chính. Sự khác biệt về Tài sản giữa NHTM với
các doanh nghiệp khác xuất phát từ sự khác biệt về bản chất của của các
khoản nợ và đặc điểm hoạt động sinh lời mà các đơn vị thực hiện. Đối với
đơn vị hoạt động sản xuất kinh doanh phần lớn lợi nhuận được tạo ra từ hoạt
động sản xuất, buôn bán do đó họ cần nhiều máy móc, thiết bị, nguyên vật
liệu, hàng hoá tồn kho,…Ngược lại, lợi nhuận chủ yếu của NHTM có được từ
việc cho vay và đầu tư, cho nên NHTM nắm giữ nhiều trái phiếu, kỳ phiếu và
các công cụ tài chính khác làm cơ sở cho các khoản tiền tệ sẽ được thanh toán
trong tương lai.
- Phần ngoại bảng: Ngoài các giao dịch được phản ánh trong nội bảng,
các Ngân hàng còn tham gia vào các hoạt động khác nữa và các hoạt
động này được theo dõi ở các tài khoản ngoại bảng như: Bảo lãnh
ngân hàng, các giao dịch về hối đoái như: giao dịch swaps, options,
futures, các chứng từ có giá, các cam kết mua bán không hạch toán
nội bảng,…Mặc dù sự biến động của các giao dịch ngoại bảng không
làm thay đổi kết cấu, cân số của Bảng cân đối kế toán nhưng vì nó
10
cũng là một hiện tượng kinh tế phát sinh trong quá trình kinh doanh
nên độ rủi ro của nó cũng tác động mạnh mẽ đến độ an toàn và kết
quả kinh doanh chung của của ngân hàng.
+ Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh: Phản ánh các khoản thu
nhập và chi phí diễn ra trong kỳ. Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh phản
ánh tập trung nhất kết quả kinh doanh trong kỳ của ngân hàng.
Thu nhập của ngân hàng: gồm thu nhập lãi; thu nhập từ hoạt động dịch
vụ; hoạt động kinh doanh chứng khoán; hoạt động kinh doanh ngoại hối; thu
nhập từ hoạt động khác và thu nhập từ góp vốn, mua cổ phần. Thu nhập lãi từ
các tài sản sinh lãi như thu lãi tiền gửi, thu lãi cho vay, thu lãi chứng khoán,…
Thu nhập khác bao gồm các khoản thu ngoài lãi như thu phí, chênh lệch tỷ
giá,…
Chi phí của ngân hàng: Gồm chi phí trả lãi; chi phí hoạt động dịch vụ;
chi phí kinh doanh chứng khoán, kinh doanh ngoại hối; chi phí hoạt động
khác; chi phí hoạt động; chi phí dự phòng rủi ro và chi phí thuế thu nhập
doanh nghiệp.
Lợi nhuận thuần từ hoạt động kinh doanh trước chi phí dự phòng rủi
ro tín dụng = (Thu nhập lãi thuần + Lãi/lỗ thuần từ hoạt động dịch vụ +
Lãi/lỗ thuần từ hoạt động kinh doanh ngoại hối + Lãi/lỗ thuần từ mua bán
chứng khoán kinh doanh + Lãi/lỗ thuần từ mua bán chứng khoán đầu tư +
Lãi/lỗ thuần từ hoạt động khác + Thu nhập từ góp vốn mua cổ phần) – Chi
phí hoạt động

Tổng lợi nhuận trước thuế = Lợi nhuận thuần từ hoạt động kinh doanh
trước chi phí dự phòng rủi ro tín dụng – Chi phí dự phòng rủi ro tín dụng
Lợi nhuận sau thuế = Tổng lợi nhuận trước thuế - (Chi phí thuế
TNDN hiện hành – Chi phí thuế TNDN hoãn lại)
11
1.2.4.2. Nội dung phân tích tài chính của NHTM
a/ Phân tích bảng Cân đối kế toán:
* Phân tích Nợ phải trả:
Đặc trưng cơ bản trong kinh doanh của một NHTM là kinh doanh tiền tệ
dưới hình thức cho vay, đầu tư và cung cấp các dịch vụ khác. Ngoài vốn chủ
sở hữu các NHTM phải huy động thêm vốn tạo nguồn vốn hoạt động cho
mình. Nợ phải trả của của NHTM bao gồm: Tiền gửi của khách hàng; Tiền
gửi và vay các TCTD khác; Các khoản nợ Chính phủ và NHNN; Vốn tài trợ,
uỷ thác đầu tư, cho vay TCTD chịu rủi ro; Phát hành giấy tờ có giá; Các công
cụ tài chính phái sinh và các khoản nợ tài chính khác; Và các khoản nợ khác.
Khi phân tích Nợ phải trả của ngân hàng, cần tập trung đến các nội dung sau:
- Phân tích quy mô và tốc độ tăng trưởng tổng nợ phải trả: Cần đánh giá
sự tăng trưởng của các hạng mục qua các thời kỳ nhất định bằng cách sử dụng
phương pháp tỷ lệ.
- Phân tích cơ cấu vốn huy động và sự thay đổi trong cơ cấu vốn huy
động: Chỉ cần một sự thay đổi về quy mô và cơ cấu vốn huy động của ngân
hàng có thể sẽ dẫn đến sự thay đổi đáng kể trong thu nhập của ngân hàng.
-> Phân tích tỷ trọng tiền gửi của khách hàng: Đây là nguồn vốn huy động
quan trọng nhất, chiếm tỷ trọng lớn trong tổng nguồn vốn hoạt động của
NHTM. Tiền gửi của khách hàng bao gồm: Tiền gửi thanh toán; Tiền gửi có kỳ
hạn của các doanh nghiệp, các tổ chức xã hội và tiền gửi tiết kiệm của dân cư.
Tiền gửi thanh toán là nguồn có lãi suất thấp nhưng yêu cầu chi trả lại rất
cao, yêu cầu dự trữ cao. Khả năng sử dụng nguồn vốn này để cho vay đầu tư
trung dài hạn là rất thấp.
-> Phân tích tỷ trọng nguồn tiền gửi và vay của các TCTD: Tiền gửi của
các TCTD chủ yếu nhằm mục đích nhờ thanh toán hộ, tuy nhiên nguồn này
12
thường không lớn.
-> Phân tích tỷ trọng nguồn vốn ngắn hạn và trung dài hạn: Phân tích kỳ
hạn danh nghĩa của nguồn tiền cho phép Ngân hàng đánh giá được tính ổn
định tương đối của nguồn vốn, tính toán khả năng hoán chuyển kỳ hạn của
nguồn vốn ngắn hạn, xác định thị phần và khả năng tăng trưởng quy mô của
mỗi loại.
+ Rủi ro thiếu vốn khả dụng tức thời: “Hệ số vốn khả dụng” - Hệ số này
đánh giá khả năng chi trả cho khách hàng trong một thời gian ngắn, tức là khả
năng đáp ứng yêu cầu rút tiền của người gửi.
+ Rủi ro chuyển hoán vốn: “Hệ số chuyển hoán vốn” - Hệ số này đánh giá
mức sử dụng nguồn vốn ngắn hạn ổn định để cho vay dài hạn của ngân hàng.
-> Phân tích tỷ trọng nguồn tiền gửi bằng VNĐ và bằng các ngoại tệ
khác: Lãi suất huy động bằng ngoại tệ thường thấp hơn bằng nội tệ, do vậy tỷ
trọng ngoại tệ trong tổng tiền gửi ảnh hưởng tới tình hình tài chính của Ngân
hàng. Tuy nhiên, nếu tỷ giá có tính ổn định không cao, việc cho vay bằng
ngoại tệ sẽ gặp khó khăn, việc chuyển từ tiền gửi loại này sang loại khác do
biến động tỷ giá và lãi suất cũng gây rủi ro tài chính cho ngân hàng.
-> Phân tích tỷ trọng tiền gửi tiết kiệm trong tổng tiền gửi: ở hầu hết các
ngân hàng tiết kiệm là nguồn huy động lớn nhất. Tuy lãi suất cao hơn các loại
tiền gửi khác song tính ổn định của tiết kiệm cao, là nguồn chính để cho vay
và đầu tư.
* Phân tích Vốn chủ sở hữu:
Trong hoạt động kinh doanh tiền tệ, vốn chủ sở hữu của một ngân hàng
mặc dù chiếm tỷ trọng rất nhỏ trong tổng nguồn vốn của ngân hàng (khoảng
<10%) nhưng nó giữ vị trí rất quan trọng, quyết định quy mô và phạm vi kinh
doanh. Mặt khác vốn chủ sở hữu của ngân hàng là cái đệm chống đỡ sự sụt
giảm giá trị của tài sản của ngân hàng. Đối với kinh doanh tiền tệ, ngân hàng
13
có đủ vốn tự có, có vốn tự có lớn và duy trì được vốn tự có cao là biểu hiện
một ngân hàng bền vững.
Vốn chủ sở hữu của ngân hàng bao gồm: Vốn điều lệ; Các khoản chênh
lệch do đánh giá lại tài sản, chênh lệch tỷ giá theo quy định của pháp luật;
Thặng dư vốn cổ phần; các quỹ dự trữ bổ sung vốn điều lệ, quỹ đầu tư phát
triển nghiệp vụ, quỹ dự phòng tài chính và Lợi nhuận được để lại.
Thông thường, theo luật tổ chức tín dụng và các quy chế an toàn trong
kinh doanh tiền tệ thì phạm vi hoạt động và quy mô kinh doanh của một ngân
hàng phụ thuộc vào quy mô vốn chủ sở hữu. Vốn chủ sở hữu được sử dụng vào
các giới hạn sau: tỷ lệ đầu tư vốn cổ phần hoặc liên doanh; Là căn cứ để giới
hạn các hoạt động kinh doanh tiền tệ,…Nếu có sự vi phạm vượt mức giới hạn
quy định thì tổ chức tín dụng bị đánh giá là ở trong tình trạng bị mất an toàn.
-> Phân tích tỷ lệ Vốn chủ sở hữu trong các tài sản rủi ro: Tổn thất làm
giảm quy mô tổng tài sản và trực tiếp làm giảm vốn chủ sở hữu. Do vậy, một
số cơ quan quản lý đã tìm kiếm mối liên hệ giữa Vốn chủ sở hữu và các tài
sản rủi ro nhằm xác định quy mô của vốn chủ sở hữu. Ngoài ra, Vốn tự có là
căn cứ để xác định khả năng thanh toán cuối cùng (tỷ lệ an toàn vốn tối
thiểu): là khả năng đáp ứng toàn bộ các cam kết của một ngân hàng. Khả năng
thanh toán có tính chất cơ cấu và lâu dài hơn khả năng sẵn sàng chi trả. Một
ngân hàng có thể thiếu tạm thời khả năng chi trả nhưng về cơ bản có khả năng
thanh toán và ngược lại.
Vốn chủ sở hữu là căn cứ để xác định giới hạn cho vay đối với một
khách hàng: Đánh giá khả năng hạn chế rủi ro từ phía bạn hàng, tức là đánh
giá khả năng phân tán rủi ro, không tập trung vốn cho một khách hàng hoặc
một số khách hàng quá lớn. Người ra thường đánh giá khả năng này của một
ngân hàng theo chỉ tiêu Hệ số phân tán rủi ro.
Đối với các NHTM tại Việt Nam, vốn tự có là căn cứ để xác định các
giới hạn: Đầu tư cổ phần hoặc liên doanh không quá 50% vốn tự có; Cho vay
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét