Thứ Hai, 17 tháng 2, 2014

479 Nhận diện và giảm thiểu rủi ro tín dụng tại Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Lâm Đồng



3.2.1.2 Về chính sách khách hàng 53
3.2.1.3 Về chính sách sản phẩm tín dụng 53
3.2.1.4 Về chính sách đối với tài sản đảm bảo 53
3.2.2

Hoàn thiện và tuân thủ nghiêm ngặt quy trình cho vay 54

3.2.2.1 Về giai đoạn kiểm tra hồ sơ, thông tin khách hàng 54
3.2.2.2 Về giai đoạn thẩm định phương án vay vốn và trả nợ 55
3.2.2.3 Về giai đoạn quyết định cho vay 55
3.2.2.4 Về giai đoạn kiểm tra sử dụng vốn sau cho vay 56
3.2.2.5 Về xử lý các khoản nợ xấu 57
3.2.3

Ứng dụng công nghệ ngân hàng hiện đại trong quản lý thông tin 58

3.2.4

Xây dựng và hoàn thiện hệ thống kiểm tra, kiểm soát nội bộ 58

3.2.5

Xây dựng và hoàn thiện hệ thống thông tin phòng ngừa rủi ro 58

3.2.6

Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực 59

3.3

Một số kiến nghị 60

3.3.1

Kiến nghị với Ngân hàng nhà nước 61

3.3.1.1 Nâng cao chất lượng quản lý, điều hành 61
3.3.1.2 Tăng cường và nâng cao chất lượng công tác thanh tra, giám sát 61
3.3.1.3 Cải tiến và nâng cao vai trò của trung tâm thông tin tín dụng 62
3.3.2

Kiến nghị với Chính phủ 63







LỜI MỞ ĐẦU

Trong bối cảnh nền kinh tế nước đang phát triển khá ổn định, ngành ngân
hàng với vị thế của mình trong nền kinh tế đã và đang đóng một vai trò hết sức quan
trọng góp phần thúc đẩy tiến trình phát triển đó. Trong giai đoạn gần đây, hoạt động
của ngành ngân hàng khá hiệu quả với nhiều nỗ lực mở rộng hoạt động, nâng cấp hệ
thống, tăng cường quản lý, gia tăng dịch vụ.
Một trong những khía cạnh quan trọng để đánh giá hiệu quả hoạt động của
ngành ngân hàng là khả năng kiểm soát và ngăn ngừa rủi ro trong hoạt động, đặc
biệt là trong hoạt động tín dụng. Với những nỗ lực trên, việc kiểm soát rủi ro tín
dụng hiện nay đã khá hiệu quả với các chỉ tiêu nợ xấu trong hầu hết các ngân hàng
thương mại là khá lý tưởng. Tuy nhiên, những chỉ số trên có thể vẫn chưa phản ánh
hết những rủi ro tiềm ẩn trong hoạt động ngân hàng.
Hơn nữa, là một ngành kinh tế nhạy cảm nên hoạt động của ngành ngân hàng
nếu có hiệu quả sẽ có tác động tích cực đến nền kinh tế bao nhiêu thì sẽ tác động
tiêu cực bấy nhiêu nếu hoạt động kém hiệu quả. Do đó, công việc kiểm soát và ngăn
ngừa rủi ro trong hoạt động ngân hàng nói chung và rủi ro trong hoạt động tín dụng
nói riêng là một công việc thường xuyên, liên tục, không ngừng nghiên cứu giải
pháp để kiểm soát và ngăn ngừa rủi ro ngày càng hiệu quả hơn; đặc biệt là ở tại các
ngân hàng thương mại tại các địa phương mà tính cọ xát chưa cao.
Với suy nghĩ trên mà mong muốn được góp một phần nào đó trong nỗ lực
kiểm soát và ngăn ngừa rủi ro một cách thường xuyên trong hoạt động tín dụng tại
một ngân hàng thương mại ởmột đại phương nhỏ, tôi xin chọn đề tài: “Nhận diện và
giảm thiểu rủi ro tín dụng tại Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Lâm Đồng” làm luận
văn tốt nghiệp cao học kinh tế.




Mục đích nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu giải quyết các vấn đề cơ bản sau:
Làm sáng tỏ một số khái niệm liên quan đến vấn đề rủi ro trong hoạt động
ngân hàng, trong đó, tập trung phân tích đánh giá rủi ro trong hoạt động tín dụng.
Phân tích thực trạng, môi trường hoạt động của Ngân hàng Đầu tư và Phát
triển Lâm Đồng trong giai đoạn 2004 – 2006, khảo sát xu hướng, diễn biến nợ xấu,
nợ quá hạn nhằm nhận diện một cách đầy đủ các rủi ro phát sinh cũng như cảnh báo
tiềm ẩn rủi ro.
Trên cơ sở nghiên cứu những nguyên nhân gây rủi ro, cũng như các giải
pháp để ngăn ngừa và xử lý rủi ro đã thực hiện; rút ra bài học kinh nghiệm cũng như
đưa ra một số giải pháp, đề xuất, kiến nghị nhằm nâng cao hơn nữa hiệu quả kiểm
soát và ngăn ngừa rủi ro trong hoạt động tín dụng.
Đối tượng, phạm vi và phương pháp nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Lâm Đồng
Phạm vi nghiên cứu: Hoạt động kinh doanh ngân hàng nói chung và hoạt
động tín dụng của Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Lâm Đồng giai đoạn 2004 –
2006.
Phương pháp nghiên cứu: Sử dụng các phương pháp phân tích thống kê,
phương pháp chuyên gia, phương pháp điều tra khảo sát,…
Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, nội dung chính của luận văn được chia thành
03 chương như sau:
Chương I: Tổng quan về Ngân hàng thương mại, hoạt động tín dụng và rủi ro
trong hoạt động tín dụng
Chương II: Thực trạng rủi ro tín dụng tại Ngân hàng Đầu tư và Phát triển
Lâm Đồng




Chương III:Một số giải pháp nhằm giảm thiểu rủi ro tín dụng tại Ngân hàng
Đầu tư và Phát triển Lâm Đồng
Đề tài đã được tập trung nghiên cứu và cố gắng đạt được những mục đích đề
ra; tuy nhiên, do hạn chế về mặt kiến thức và thời gian nghiên cứu, đề tài không
tránh khỏi những thiếu sót, khiếm khuyết; rất mong nhận được sự chỉ bảo, đóng góp
của Quý Thầy Cô để luận văn được hoàn thiện hơn.
Xin chân thành cám ơn PGS-TS Trần Hoàng Ngân – người hướng dẫn khoa
học, chân thành cám ơn các Thầy Cô trường Đại học Kinh Tế, các Thầy Cô trường
Đại học Đà Lạt, các cô chú, anh chị Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Lâm Đồng và
các Ngân hàng khác ở Lâm Đồng, các bạn đồng nghiệp và cả gia đình đã hướng
dẫn, cung cấp số liệu, trao đổi kinh nghiệm và giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này.






CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN
VỀ NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI,
HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG
VÀ RỦI RO TRONG HOẠT ĐỘNG
TÍN DỤNG


2

1.1 Tổng quan về ngân hàng thương mại
1.1.1
Khái niệm
Ngân hàng thương mại là một doanh nghiệp đặc biệt kinh doanh trên lĩnh
vực tiền tệ, tín dụng; là doanh nghiệp tiến hành thường xuyên các nghiệp vụ huy
động vốn, tín dụng, bảo lãnh, chiết khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán, kinh
doanh ngoại tệ, đầu tư chứng khoán,… và cung cấp các dịch vụ tài chính khác.
1.1.2
Các chức năng của Ngân hàng thương mại
Như đã nói ở trên, Ngân hàng thương mại là một doanh nghiệp đặc biệt và
đóng một vai trò quan trọng trong nền kinh tế. Tầm quan trọng của các ngân hàng
thương mại được thể hiện qua các chức năng cơ bản của nó.
1.1.2.1
Chức năng làm trung gian tài chính
Trung gian tài chính là một hoạt động quan trọng trong nền kinh tế, hoạt
động làm cầu nối cho người cần vốn và người có khả năng cung cấp vốn.
Các ngân hàng thương mại thực hiện một dịch vụ rất quan trọng đối với tất
cả các khu vực của nền kinh tế bằng cách cung ứng những điều kiện thuận lợi cho
việc gửi tiền tiết kiệm của dân chúng. Người gửi tiền tiết kiệm nhận được một
khoản tiền thưởng dưới danh nghĩa lãi suất trên tổng số tiền gửi tiết kiệm ở các ngân
hàng với mức độ an toàn và khả năng thanh khoản cao. Số tiền huy động được qua
hình thức tiết kiệm luôn sẵn sàng đáp ứng nhu cầu vay vốn của các doanh nghệp và
cá nhân nhằm mở rộng khả năng sản xuất và các mục đích khác như tiêu dùng cá
nhân hay mua nhà cửa. Phần lớn tiền gửi tiết kiệm được huy động qua hệ thống
ngân hàng thương mại.
Ngay từ khi mới bắt đầu hình thành, các ngân hàng thương mại đã luôn tìm
kiếm các cơ hội để cho vay và coi đó là chức năng quan trọng nhất của mình. Trong
việc tạo ra khả năng tín dụng các ngân hàng thương mại đã và đang thực hiện chức
năng xã hội của mình làm cho sản phẩm xã hội được tăng lên, vốn đầu tư được mở
rộng và từ đó đời sống dân chúng được cải thiện. Tín dụng của các ngân hàng


3

thương mại có ý nghĩa quan trọng đối với toàn bộ nền kinh tế, nó tạo ra khả năng tài
trợ cho các hoạt động công nghiệp, thương nghiệp và nông nghiệp của nền kinh tế.
1.1.2.2
Chức năng làm trung gian thanh toán và quản lý các phương tiện thanh
toán
Ngân hàng thương mại đóng vai trò rất quan trọng trong việc tạo ra những cơ
chế thanh toán mới. Thật vậy, ban đầu tiền giấy có hình thái giấy nhận nợ và được
các ngân hàng đảm bảo đổi ra vàng hoặc bạc khi cần thiết. Tiếp đó séc ra đời thì
phần lớn việc thanh toán bù trừ séc được thực hiện thông qua hệ thống ngân hàng
thương mại. Việc vi tính hoá công việc thanh toán bù trừ séc đã rút ngắn quá trình
thanh toán này, đồng thời giảm bớt chi phí và nâng cao độ chính xác. Rồi trong
những năm gần đây nghiệp vụ ngân hàng không séc ra đời cho thấy vai trò quan
trọng của ngân hàng thương mại. Với dịch vụ ngân hàng điện tử khách hàng có thể
rút tiền từ tài khoản của mình, thực hiện gửi tiền, thanh toán nợ, chuyển vốn giữa
tiền gửi tiết kiệm và tài khoản séc thông qua một máy tính được nối mạng.
Mặc dù ngoại thương được hình thành và bắt nguồn từ các hoạt động buôn
bán quốc tế nhưng chúng có sự khác nhau đáng kể bắt nguồn từ sự khác nhau về hệ
thống tiền tệ ở mỗi nước, năng lực tài chính của người mua và người bán thuộc các
nước khác nhau. Chính từ sự khác nhau này, các ngân hàng thương mại cần thiết
cung ứng các nghiệp vụ ngân hàng quốc tế đối với các hoạt động ngoại thương như:
chiết khấu hối phiếu, bảo lãnh, tín dụng thư, mua và bán séc du lịch…
1.1.2.3
Chức năng tạo tiền
Tạo tiền là một chức năng quan trọng, phản ánh rõ bản chất của ngân hàng
thương mại. Với mục tiêu là tìm kiếm lợi nhuận như là một yêu cầu chính cho sự
tồn tại và phát triển của mình, các ngân hàng thương mại với nghiệp vụ kinh doanh
mang tính đặc thù của mình đã vô hình chung thực hiện chức năng tạo tiền cho nền
kinh tế.
Nền kinh tế cần có một số cung ứng tiền tệ vừa đủ, phù hợp với mục tiêu
khác như lạm phát, tăng trưởng kinh tế bền vững và tạo được việc làm. Và các ngân


4

hàng thương mại đóng vai trò rất quan trọng trong việc thực hiện các chính sách
này. Chúng được sử dụng như là một kênh mà qua đó lượng tiền cung ứng tăng lên
hoặc giảm xuống nhằm đạt được những mục tiêu quan trọng nói trên.
1.1.2.4
Chức năng làm dịch vụ tài chính và các dịch vụ khác
Phần lớn các ngân hàng thương mại đều thực hiện dịch vụ lưu ký chứng
khoán tức là dịch vụ lưu giữ , bảo quản và giúp khách hàng thực hiện quyền đối với
chứng khoán do họ sở hữu. Dịch vụ lưu ký chứng khoán có thể đem lại nguồn lợi
đáng kể cho các ngân hàng thương mại có đủ năng lực tài chính cũng như trình độ
nghiệp vụ. Tuy nhiên chính phủ luôn kiểm soát chặt chẽ sự tham gia và mức độ
tham gia của các ngân hàng thương mại vào dịch vụ này dựa trên cơ sở tín dụng
ngân hàng vượt quá giới hạn đầu cơ chứng khoán có thể gây ra khủng hoảng trong
hệ thống ngân hàng. Công nghệ ngân hàng đang tiến triển mạnh mẽ đem, lại nhiều
lợi ích cho nền kinh tế. Và nghiệp vụ môi giới chứng khoán sẽ còn là một nghiệp vụ
quan trọng của ngân hàng thương mại và nhận được nhiều tác động tích cực từ sự
đổi mới của công nghệ ngân hàng trong tương lai.
Việc thu nhập tăng lên đã tạo ra khả năng tích lũy lành mạnh, và chính khả
năng đó đã góp phần vào việc phát triển các dịch vụ ủy thác của ngân hàng thương
mại. Trong bối cảnh như thế mỗi cá nhân có thể tích lũy một khối lượng tài sản lớn,
thậm chí chỉ ở mức trung bình cũng có thể xuất hiện nhu cầu muốn phân chia số tài
sản đó trước khi qua đời. Với hình thức ủy thác, người ủy thác, các văn phòng ủy
thác có trách nhiệm sử dụng vốn để đầu tư và quản lý số vốn này, kể cả phân phối
thu nhập theo các điều khoản của hợp đồng ủy thác.
Nhờ ưu thế của các ngân hàng thương mại là nơi kiên cố dùng để bảo quản
tiền bạc và các vật có giá khác của bản thân ngân hàng, các ngân hàng thương mại
có điều kiện thực hiện chức năng bảo quản an toàn vật có giá của khách hàng. So
với các chức năng khác, bảo quản vật có giá ra đời trước ngay cả chức năng tín
dụng vốn là chức năng cơ bản và chủ yếu của ngân hàng thương mại. Công việc bảo


5

quản vật có giá được phân thành 2 bộ phận khác nhau trong một ngân hàng: Cho
thuê két sắt bảo quản; ký thác và trực tiếp bảo quản vật có giá của khách hàng.
1.1.3 Sơ lược các mặt hoạt động của ngân hàng thương mại

Trong hoạt động, Ngân hàng thương mại thực hiện và cụ thể các chức năng
trên thông qua các mặt hoạt động gồm 3 lĩnh vực nghiệp vụ: Nghiệp vụ nợ (huy
động vốn, đi vay,…), nghiệp vụ có (tín dụng, đầu tư,…), nghiệp vụ môi giới, trung
gian. Cụ thể các mặt hoạt động như sau:
1.1.3.1 Hoạt động huy động vốn

Đây là hoạt động chủ yếu và thường xuyên của ngân hàng thương mại, bởi vì
để có tiền cho vay và kinh doanh trong các lĩnh vực kinh doanh khác, ngân hàng
không thể chỉ dựa vào nguồn vốn điều lệ của mình mà phải huy động vốn trên thị
trường. Các hình thức huy động vốn cũng rất đa dạng, thích hợp với từng loại khách
hàng như tiền gửi thanh toán, tiền gửi có kỳ hạn, tiền gửi tiết kiệm, chứng chỉ tiền
gửi và trái phiếu ngân hàng,…
1.1.3.2 Vay của ngân hàng:

Để mở rộng nguồn vốn hoạt động hoặc đáp ứng khả năng thanh toán và chi
trả cho khách hàng, các ngân hàng có thể vay vốn của các tổ chức tín dụng trong và
ngoài nước, hoặc vay của ngân hàng trung ương dưới hình thức chiết khấu, tái chiết
khấu, tái thế chấp,…
1.1.3.3 Hoạt động tín dụng

Đây là hoạt động chủ lực của ngân hàng, đem lại nguồn thu cơ bản trong
tổng thu nghiệp vụ. Ngân hàng thương mại thường cấp tín dụng cho khách hàng
dưới những hình thức như: thấu chi, chiết khấu thương phiếu, tín dụng chấp nhận,
tín dụng thế chấp, tín dụng trả góp, tín dụng bảo lãnh, tín dụng liên kết, tín dụng
thuê mua, tài trợ cho thuê, tín dụng chứng từ,…


6

1.1.3.4 Nghiệp vụ đầu tư
Để tăng thêm lợi nhuận và tăng tính đa dạng trong hoạt động, các ngân hàng
còn sử dụng nguồn vốn tự có và huy động được để đầu tư vào chứng khoán hoặc
tham gia thành lập các công ty,…
1.1.3.5 Hoạt động kinh doanh ngoại tệ

Bên cạnh việc huy động vốn và cho vay bằng ngoại tệ, các ngân hàng thương
mại còn kinh doanh mua bán ngoại tệ trên thị trường hối đoái. Hoạt động này cũng
có thể đem lại cho ngân hàng một nguồn đáng kể lợi nhuận.
1.1.3.6 Dịch vụ ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác

Trong hoạt động kinh doanh hiện nay của ngân hàng thương mại, hoạt động
cung cấp dịch vụ ngân hàng ngày càng phát triển. Đây là loại hình kinh doanh ít rủi
ro nhưng lợi nhuận thu được trên nhiều mặt: vừa thu phí dịch vụ, đồng thời lại thu
hút được khách hàng. Cụ thể, có các hình thức dịch vụ chủ yếu sau: dịch vụ ngân
hàng trên thị trường chứng khoán , dịch vụ uỷ thác, dịch vụ thanh toán quốc tế, dịch
vụ cho thuê két sắt,…
1.2 Hoạt động tín dụng

1.2.1 Khái niệm

Tín dụng là một giao dịch về tài sản (tiền hoặc hàng hoá) giữa bên cho vay
và bên đi vay trong đó bên cho vay chuyển giao tài sản cho bên đi vay sử dụng
trong một thời gian nhất định theo thoả thuận, bên đi vay có trách nhiệm hoàn trả vô
điều kiện vốn gốc và lãi cho bên cho vay khi đến hạn thanh toán.
1.2.2 Phân loại hoạt động tín dụng

Ngân hàng thương mại thực hiện cho vay đối với nhiều đối tượng khác nhau,
với nhiều hình thức khác nhau, với nhiều thời hạn khác nhau. Để thuận tiện cho việc
quản lý, hoạt động tín dụng được chia thành nhiều loại căn cứ trên các tiêu thức
khác nhau như căn cứ vào mục đích, căn cứ vào thời hạn, căn cứ vào mức độ tín
nhiệm của khách hàng, căn cứ vào hình thức cấp tín dụng, căn cứ vào phương pháp
hoàn trả, căn cứ vào xuất xứ tín dụng,…


Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét