Chủ Nhật, 16 tháng 2, 2014

101 Hoàn thiện kế toán tiêu thụ kẹo Chew và xác định kết quả tiêu thụ kẹo Chew tại Công ty cổ phần bánh kẹo Hải Hà

Năm 2007 tình hình tài chính của Công ty khả quan hơn nhiều do với
năm 2006. Về cơ cấu nguồn vốn, nợ phải trả giảm đáng kể (5.24%), như vậy
Công ty đã thanh toán được một lượng lớn nợ cho các bên liên quan. Qua các
tỉ suất thanh toán cũng cho thấy khả năng thanh toán của Công ty tăng lên rất
nhiều. Các khoản tiền mặt, tiền gửi ngân hàng cũng như khoản phải thu tăng
lên, khẳng định sự tăng trưởng của Công ty trong năm vừa qua. Tuy nhiên,
khoản phải thu của Công ty đang còn nhiều dễ gây nên tình trạng ứ đọng vốn.
Về tỉ suất vốn chủ sở hữu trong tổng nguồn vốn theo bảng phản ánh là giảm
sút, thực tế cho thấy đây là do nguyên nhân chủ quan từ phía Công ty khi
nhượng bán liên doanh Miwon và Kotobuki để tách ra hoạt động độc lập theo
hình thức Công ty cổ phần. Những năm trước, các quĩ đầu tư phát triển, khen
thưởng phúc lợi, quĩ dự phòng đều do trích từ lợi nhuận của liên doanh
chuyển về. Vì vậy, sự sụt giảm như trên bảng cho thấy là chấp nhận được.
Với những kết quả đạt được trong thời gian qua, Công ty bánh kẹo Hải
Hà đang từng bước khẳng định vị trí của mình trên thị trường. Năm 2008 này
cùng với những cải tiến về dây chuyền công nghệ, bộ máy quản lý và đặc biệt
là việc cổ phần hoá doanh nghiệp, từ đây người lao động cũng là chủ Công ty.
Cơ chế mới, tinh thần làm việc mới cùng những tiềm năng sẵn có về thị
trường, sản phẩm, con người Công ty đang có những điều kiện thuận lợi để
phát triển nhiều hơn trong tương lai.
1.2. Đặc điểm tổ chức bộ máy quản lý hoạt động kinh doanh và phân cấp
quản lý tài chính của Công ty
1.2.1. Đặc điểm tổ chức bộ máy quản lý hoạt động kinh doanh
Bộ máy quản lý hoạt động kinh doanh của Công ty được tơ chức theo
mô hình trực tuyến - chức năng và mang đặc thù của Công ty cổ phần.
Đứng đầu Công ty là Hội đồng quản trị, gồm có 5 thành viên, trong đó
có 3 thành viên là đại diện của Nhà nước và 2 thành viên là đại diện của các
cổ đông còn lại. Đây là cơ quan có quyền lực cao nhất, quyết định mọi hoạt
5
động của Công ty và chịu trách nhiệm trước Đại hội đồng cổ đông về tình
hình hoạt động của Công ty.
Hội đồng quản trị có quyền lựa chọn Tổng Giám đốc và các Phó Tổng
Giám đốc. Tổng giám đốc là người chịu trách nhiệm điều hành Công ty, chịu
trách nhiệm trước Hội đồng quản trị về tình hình hoạt động của Công ty. Giúp
việc cho Tổng Giám đốc là các Phó tổng giám đốc, trong đó Phó tổng giám
đốc tài chính là người chịu trách nhiệm về việc huy động và sử dụng vốn,
xem xét việc tính giá thành và xác định kết quả kinh doanh lãi lỗ,…Phó tổng
giám đốc kinh doanh là người chịu trách nhiệm về quản lý vật liệu và tiêu thụ
sản phẩm, đảm bảo quá trình sản xuất kinh doanh liên tục,…
Các phòng ban chức năng của Công ty gồm có: Phòng KCS, Phòng kỹ
thuật, Phòng kinh doanh, Phòng kế toán tài chính (Phòng Tài vụ). Phòng
KCS: Phụ trách kiểm tra kiểm soát chất lượng sản phẩm đảm bảo theo tiêu
chuẩn quy định. Phòng kỹ thuật: Phụ trách đảm bảo các mặt kỹ thuật trong
toàn Công ty. Phòng kinh doanh: Phụ trách lập kế hoạch và thực hiện kinh
doanh, tiêu thụ sản phẩm, thực hiện marketing sản phẩm, Phòng kế toán tài
chính: Có chức năng huy động vốn cho sản xuất, tính giá thành sản phẩm, xác
định kết quả kinh doanh của Công ty,
Ngoài ra còn có các xí nghiệp phụ trợ để hỗ trợ các phòng ban khác (kỹ
thuật, điện, nước,…) và các xí nghiệp thành viên chịu trách nhiệm trực tiếp
sản xuất sản phẩm cho Công ty, chịu trách nhiệm về chất lượng sản phẩm và
các yếu tố kỹ thuật.
Kiểu cơ cấu tổ chức này vừa phát huy được năng lực chuyên môn của
các bộ phận vừa đảm bảo quyền chỉ huy của bộ phận trực tuyến.
Do yêu cầu về việc thống nhất tên gọi và cũng để khách hàng dễ nhận
biết sản phẩm của Công ty, cuối năm 2006, “Nhà máy thực phẩm Việt Trì”
6
đổi tên gọi thành “Nhà máy bánh kẹo Hải Hà I”, còn “Nhà máy bột dinh
dưỡng Nam Định” đổi tên thành “Nhà máy bánh kẹo Hải Hà II”.
Tổ chức bộ máy quản lý hoạt động kinh doanh của Công ty có thể được
khái quát bằng sơ đồ sau:
Sơ đồ 1.1. Bộ máy quản lý hoạt động của Công ty
7
Phó
TGĐ-TC
Phòng
Y tế
Tổng
giám đốc
Văn
phòng
KCS Phòng
kỹ thuật
Phó TGĐ-
KD
XN Kẹo
Chew
XN.Tp
Việt Trì
XN
Phụ trợ
XN
Bánh
XN
Kẹo
cứng
XN bột
Nam
Định
Phòng
Kế toán
Phòng
KD
CN. Đà
Nẵng
CH.Giới
thiệu SP
Đội xe KhoCN.TP
HCM
XN
Kẹo
mềm
Hội đồng
quản trị
1.2.2. Đặc điểm phân cấp quản lý tài chính
Thực tế Công ty không dùng thu để bù chi mà các khoản thu chi được
thực hiện riêng rẽ trong năm. Trong quá trình chi tiền như thanh toán với
người mua, người bán, với nhà nước Công ty sử dụng nguồn dự trữ của mình,
nếu thiếu thì vay từ các ngân hàng. Các ngân hàng mà Công ty hợp tác và mở
tài khoản tại đó là Ngân hàng công thương Việt Nam, Ngân hàng thương mại
và cổ phần Sài Gòn - Thương Tín Với tình hình hoạt động của mình Công ty
luôn đạt được sự tin tưởng và có mối quan hệ tốt với các ngân hàng nên các
khoản thanh toán đều được thực hiện nhanh chóng, kịp thời, đúng tiến độ.
Các khoản thu của Công ty được thực hiện cũng qua ngân hàng, hoặc ngay
trực tiếp tại Công ty. Cuối năm, căn cứ vào lợi nhuận đạt được Công ty tiến
hành trích các quỹ và thực hiện các phân phối khác.
1.3. Đặc điểm tổ chức sản xuất và quy trình công nghệ sản xuất sản phẩm
của Công ty cổ phần bánh kẹo Hải Hà
1.3.1. Đặc điểm về tổ chức sản xuất
Việc tổ chức sản xuất tại Công ty do Phó tổng giám đốc phụ trách kinh
doanh trực tiếp giám sát. Tại các xí nghiệp có quản đốc, nhân viên kỹ thuật,
nhân viên thống kê và tiền lương giám sát hoạt động sản xuất, tài sản, nhân
lực, của Công ty.
1.3.2. Đặc điểm về quy trình công nghệ sản xuất sản phẩm
Trong những năm gần đây Công ty đã đưa vào sử dụng một số máy
móc thiết bị, công nghệ sản xuất tiên tiến được nhập từ những nước có nền
công nghiệp bánh kẹo hàng đầu thế giới như Italia, Đan mạch, Malaysia.
Công ty rất chú trọng vào công tác đầu tư đổi mới trang thiết bị công nghệ,
hiện đại hoá sản xuất nhằm nâng cao chất lượng sản phẩm, nâng cao năng lực
sản xuất. Ngày nay do nhu cầu bánh kẹo tăng cao cả về số lượng và chất
lượng, Công ty đã đầu tư thêm cả dây chuyền thiết bị hiện đại như dây chuyền
8
sản xuất kẹo Caramel, bánh Cracker góp phần không nhỏ vào việc tăng sản
lượng sản xuất và lợi nhuận hàng năm của Công ty.
Quy trình công nghệ sản xuất của Công ty theo kiểu liên tục, khép kín,
sản xuất với mẻ lớn trên dây chuyền bán tự động, thủ công và nửa cơ khí.
Công suất trung bình hiện nay của toàn Công ty là ~ 220.000 tấn/năm.
Đặc điểm công nghệ sản xuất bánh kẹo của Hải Hà là không có sản
phẩm dở dang, mỗi sản phẩm được hoàn thành ngay sau khi kết thúc dây
chuyền sản xuất, sản phẩm hỏng được đem đi tái chế ngay trong ca làm việc.
Trên một dây chuyền sản xuất có thể sản xuất ra nhiều loại sản phẩm khác
nhau, nhưng có sự tách biệt về thời gian. Có thể khái quát một số quy trình
sản xuất chính như sau:
- Quy trình sản xuất kẹo cứng:
Nguyên liệu sau khi đã hoà đường được đưa vào nấu, sau đó để nguội
rồi đưa vào máy lăn còn, chuyển sang quy trình vuốt. Sau khi được bơm nhân,
kẹo được đưa vào dập hình, rồi chuyển sang sàng làm lạnh. Tại đây kẹo được
bao gói (Bằng tay và bằng máy) và được đóng thành từng túi có trọng lượng
khác nhau.
Sơ đồ 1.2. Quy trình sản xuất kẹo cứng
9
Hoà đường
Nấu
Làm nguội
Máy
lăn còn
Vuốt keo
Gói tay
Sàng
làm lạnh
Dập hìnhBơm nhânTạo nhân
Gói máy
Đóng túi
- Quy trình sản xuất kẹo mềm:
Nguyên liệu sau khi đã hoà đường được đưa vào nấu, sau đó để nguội.
Một phần được đưa vào quật, cán, sau đó chặt miếng rồi bao gói bằng tay;
Phần còn lại được đưa vào máy lăn còn, chuyển sang quy trình vuốt, sau đó
bao gói (bằng máy). Kẹo sau khi đã bao gói được đóng thành từng túi có
trọng lượng khác nhau.
Sơ đồ 1.3. Quy trình công nghệ sản xuất kẹo mềm
1.4. Đặc điểm về sản phẩm và thị trường tiêu thụ sản phẩm
1.4.1. Đặc điểm về sản phẩm
Sản phẩm chính của Công ty là bánh, kẹo các loại (trong đó sản lượng kẹo
chiếm 70-75%). Hiện nay danh mục sản phẩm của Công ty rất đa dạng (bao gồm
trên 190 loại khác nhau). Có thể nói chủng loại các mặt hàng bánh kẹo của Công
ty hiện nay là đa dạng nhất so với các đối thủ cạnh tranh trong ngành. Ví dụ,
riêng kẹo Jelly Chipchip đã có đến khoảng 10 loại trọng lượng, với màu sắc
và các hình dáng khác nhau: 25g, 50g, 100g, 150g, 250g,… Kẹo Chew mới
có các loại như: Chew sữa, Chew caramel, Chew khoai môn, Chew nho đen,
10
Hoà đường
Nấu
Làm nguội Quật keo
Cán keo
Gói tay
Máy
lăn còn
Máy vuốt
Gói máyChặt miếng
Đóng túi
Chew đậu đỏ,… Song do có đặc thù chung nên được phân thành các nhóm
sản phẩm như kẹo cứng, kẹo mềm, nhóm bánh kem,…
Do đặc điểm sản phẩm là bánh kẹo - mặt hàng thực phẩm, có ảnh
hưởng trực tiếp đến sức khoẻ người tiêu dùng; mặt khác các loại nguyên vật
liệu có tính chất lý hoá khác nhau, khó bảo quản và dễ hư hỏng nên vấn đề về
bảo quản nguyên vật liệu và vấn đề chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm đặc
biệt được quan tâm.
1.4.2. Đặc điểm về thị trường tiêu thụ
Chiến lược cạnh tranh của Công ty là chiến lược bao phủ thị trường
trên phạm vi toàn quốc nên có mạng lưới tiêu thụ rất mạnh, Công ty có trên
200 đại lý chính và có mặt ở khắp các tỉnh thành, từ miền Bắc đến miền Nam,
từ thành thị đến nông thôn, từ đồng bằng đến miền núi.
Thị trường miền Bắc: Đây là thị trường chính của Công ty. Hàng năm
một lượng hàng lớn của Công ty được tiêu thụ và là thị trường mang lại doanh
thu chính cho Công ty nhiều năm qua. Tuy nhiên thực tế thị trường này vẫn
còn nhiều tiềm năng chưa được khai thác hết.
Thị trường miền Trung: Do điều kiện thu nhập của người dân thấp hơn
so với những nơi khác nên người dân ở đây ít quan tâm đến mẫu mã sản
phẩm, chỉ quan tâm đến giá cả có phù hợp hay không. Chính vì vậy thị trường
này của Công ty vẫn còn nhỏ hẹp.
Thị trường miền Nam: Đây là một thị trường có tiềm năng phát triển
mạnh. Nhu cầu về sản phẩm bánh kẹo cao hơn so với các thị trường khác.
Tuy nhiên thực tế Công ty chưa khai thác hết điểm mạnh của thị trường này
mặc dù đã có mở chi nhánh tại Thành phố Hồ Chí Minh, có thể do sự cạnh
tranh gay gắt của thị trường này.
Thị trường nước ngoài: Đây là một thị trường mà Công ty đang từng
bước đột phá, thâm nhập. Với chất lượng sản phẩm của mình Công ty đã nhận
được nhiều hợp đồng từ nước ngoài để xuất khẩu các loại bánh kẹo. Những
11
năm qua, Công ty đã thâm nhập được vào thị trường nhiều nước châu Á như:
Hàn Quốc, Indonexia, Singapor và nhiều nước khác.
Để đáp ứng một thị trường rộng lớn như vậy, Công ty sử dụng một hệ
thống kênh phân phối đơn giản mà vẫn phải đảm bảo hiệu quả sao cho sản
phẩm đến tay người tiêu dùng một cách nhanh chóng. Đó là kênh phân phối
trực tiếp, kênh phân phối gián tiếp (Cấp 1), kênh phân phối gián tiếp (Cấp 2)
Sơ đồ 1.4. Kênh phân phối của doanh nghiệp
(1)



(1) Kênh phân phối trực tiếp: Đây là loại hình kênh phân phối sản phẩm
trực tiếp đến với tiêu dùng (chỉ chiếm 7% sản lượng hàng năm của Công ty).
(2) Kênh phân phối gián tiếp (cấp 1): Chỉ sử dụng thông qua một trung
gian duy nhất là người bán lẻ (chỉ chiếm khoảng 5% sản lượng hàng năm).
(3) Kênh phân phối gián tiếp (cấp 2): Thông qua các trung gian là người
bán buôn (các đại lý). Các đại lý đến đặt hàng của Công ty rồi bán lại cho các
đại lý nhỏ hơn (đại lý cấp 2, cấp 3), sau đó người phân phối đến tay người
tiêu dùng. Loại hình phân phối này chiếm phần lớn (~88% sản lượng tiêu thụ
hàng năm).
12
Công ty Hải Hà

Người bán lẻ
Người TD
Đại lý cấp 1 Đại lý cấp 2
Người bán lẻ
(3)
(2)
1.5. Đặc điểm tổ chức công tác kế toán của Công ty cổ phần bánh kẹo Hải

1.5.1. Đặc điểm về lao động kế toán
Đội ngũ nhân viên kế toán của Công ty là những người có trình độ tay
nghề cao (tất cả đều tốt nghiệp đại học trở lên). Các nhân viên kế toán các
phần hành chịu sự chỉ đạo, quản lý của kế toán trưởng, mỗi thành viên phụ
trách một mảng công việc khác nhau, phối hợp với nhau trong công tác hạch
toán kế toán đảm bảo luôn cung cấp thông tin kịp thời, chính xác cho công tác
quản lý, hỗ trợ cho việc ghi chép sổ sách, ghi chép số liệu của các phòng ban
được xuyên suốt và thống nhất
1.5.2. Đặc điểm về tổ chức bộ máy kế toán
Bộ máy kế toán của Công ty được tổ chức theo mô hình kế toán tập
trung, mọi công việc, phần hành kế toán đều được thực hiện ở phòng tài vụ
mà nay là phòng kế toán tài chính. Chức năng của bộ máy kế toán là tham
mưu giúp việc cho phó tổng giám đốc giám sát, quản lý, điều hành tài chính
và cơ sở vật chất kỹ thuật của Công ty.; Hướng dẫn kiểm tra các phòng ban,
các đơn vị trực thuộc thực hiện mọi quy định của nhà nước về hạch toán, kế
toán ghi chép sổ sách thống kê ban đầu, đảm bảo thông tin bằng số liệu đầy
đủ, trung thực, chính xác kịp thời; Thu nhận xử lý và cung cấp toàn bộ thông
tin về tài sản, vật tư, tiền vốn và sự vận động của chúng cho giám đốc; Cung
+ Kế toán xây dựng cơ bản và TSCĐ: Có nhiệm vụ hạch toán theo dõi
quá trình tăng giảm TSCĐ, tính và trích khấu hao trong kỳ. Ngoài ra còn hạch
toán các loại chi phí sửa chữa lớn và sửa chữa thường xuyên của tài sản.
+ Kế toán giá thành và tiền lương; Có nhiệm vụ hạch toán chi tiết và
tổng hợp cho các đối tượng chịu sự phân bổ. Tổng hợp chi phí theo từng đối
tượng, tiến hành tính giá và nhập kho,mở sổ chi tiết và tổng hợp cho sản
phẩm hoàn thành nhập kho, xác định giá bán và tổ chức ghi sổ chi tiết. Cùng
13
với đó là hạch toán việc chi trả lương, khoản phải trả cho cán bộ công nhân
viên trong Công ty như bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế và các khoản khác
theo qui định.
+ Thủ quĩ: Chịu trách nhiệm về tiền mặt, thanh toán bằng tiền mặt các
khoản phải thu, phải chi trên cơ sở chứng từ do kế toán các phần hành đưa
sang và có xác nhận của người lãnh đạo có thẩm quyền.
+ Kế toán các đơn vị thành viên: Tại các XN thành viên không tổ chức
bộ máy kế toán đầy đủ như tại phòng tài chính kế toán của Công ty. Tổ chức
kế toán ở đó chỉ gồm khoảng 2-3 người dưới sự điều hành của giám đốc xí
nghiệp và sự chỉ đạo chuyên môn của kế toán trưởng của Công ty như việc
thu thập chứng từ, thực hiện việc ghi chép ban đầu và có trách nhiệm ghi chép
đầy đủ cung cấp số liệu chính xác về tình hình sản xuất của đơn vị mình.
Có thể khái quát bộ máy kế toán của Công ty bằng sơ đồ sau:
Sơ đồ 2.1. Bộ máy kế toán của Công ty
14
Kế toán trưởng
KT
vật
liệu
&
CCDC
KT
giá
thành
và tiền
lưong
Kế
toán
tổng
hợp
KT
tiêu
thụ
thành
phẩm
KT
XDCB
&
TSCĐ
KT
tiền
gửi
ngân
hàng
Kế
toán
tiền
mặt và
thanh
toán
Thủ
quĩ
Kế toán các XN thành viên

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét