Luận văn tốt nghiệp Khoa tài chính công
-Trờng CĐ đào tạo trình độ cao đẳng.
-Trờng ĐH đào tạo trình độ CĐ, ĐH và đào tạo trình độ Thạc sỹ, Tiến sỹ khi
đợc Thủ Tớng Chính Phủ giao.
1.1.2.Vai trò của giáo dục Đại học đối với sự phát triển kinh tế xã hội của
đất nớc
Từ trớc đến nay Đảng và Nhà nớc ta đặc biệ quan tâm đến công tác giáo
dục-đào tạo và coi đó là một trong những quyết sách hàng đầu để xây dựng và phát
triển đất nớc. Điều đó xuất phát từ vai trò to lớn và tầm quan trọng của giáo dục
đào tạo nói chung cũng nh giáo dục đại học nói riêng.
Bốn yếu tố cơ bản để tạo nên sự phát triển của một quốc gia là: tài nguyên
thiên nhiên,khoa học cộng nghệ,vốn và lao động. Việt Nam là một nớc có tài
nguyên thiên nhiên phong phú, nguồn lao động dồi dào, tuy nhiên yếu tố khoa học
công nghệ cha phát triển, nguồn vốn đầu t lại hạn chế. Mặt khác tuy nguồn lao
động của chúng ta dồi dào nhng lại chủ yếu là lao động thủ công trong khi đó vẫn
thiếu lao động có trình độ cao. Đứng trớc thực trạng nh vậy, muốn phát triển đất n-
ớc thì việc phát huy nhân tố con ngời là rất qua trọng, có thể coi là chiến lợc hàng
đầu. Để thúc đẩy sự phát triển nhân tố con ngời thì lĩnh vực giáo dục-đào tạo đóng
vai trò quan trọng hàng đầu. Tác động của hệ thống giáo dục đào tạo bao trùm lên
tất cả các mặt của đời sỗng xã hội: chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội Là một bộ
phận của hệ thống giáo dục-đào tạo, đào tạo đại học cũng mang đầy đủ vai trò của
GD-ĐT nói chung. Vai trò đó đợc nhìn nhận trên các khía cạnh sau:
Vai trò của ĐTĐH đối với phát triển kinh tế:
GDĐH đợc coi nh là động lực hàng đầu của sự phát triển kinh tế bởi sản
phẩm của GDĐH là những con ngời có năng lực t duy hoạt động ở trình độ cao,
năng động và sáng tạo. Vì thế sản phẩm của GDĐH chính là nguồn lao động có
SV Phan Thế Thành-K39/01.04
Luận văn tốt nghiệp Khoa tài chính công
trình độ cao_là 1 trong 4 nhân tố quan trọng hàng đầu thúc đẩy sự phát triển kinh
tế của một quốc gia. Hơn na trong thời đại kinh tế tri thức với hàm lợng chất xám
đòi hỏi ngày càng cao thì vai trò này của GDĐH càng đợc khẳng định và nâng cao
hơn nữa.
Ngợc lại, sự phát triển của kinh tế sẽ tạo ra cơ sở vật chất ngày càng dồi dào
cho xã hội, từ đó tạo điều kiện cho sự phát triển của các lĩnh vực khác. Giáo dục
cũng không thể phát triển nếu không có sự đầu t tài lực, vật lực của nền kinh tế. Vì
vậy giữa giáo dục nói chung và GDĐH nói riêng với sự phát triển kinh tế có mối
quan hệ chặt chẽ với nhau.
Vai trò của đào tạo đại học đối với chính trị:
Nhìn lại tiến trình phát triển của xã hội loài ngời, chúng ta có thể thấy rằng:
từ khi xã hội có giai cấp, có nhà nớc thì giáo dục đào tạo luôn là công cụ quan
trọng của Nhà Nớc. Giai cấp cầm quyền luôn nắm lấy giáo dục, chi phối giáo dục
theo hớng củng cố quyền lực và bảo vệ lợi ích của mình.
Đào tạo đại học phục vụ chính trị, nhng đào tạo đại học tồn tại tơng đối độc
lập với chính trị. Giáo dục đào tạo là hiện tợng phổ biến và tơng đối vĩnh hằng.
Giai cấp thống trị muốn biến giáo dục thành công cụ để củng cố địa vị của mình
nhng xét về bản chất, giáo dục thực sự gắn với những xu hớng chính trị tiến bộ, có
xu hớng chống lại những xu hớng phản tiến bộ. Nền giáo dục của chúng ta hiện
nay là nền giáo dục đợc ra đời và phát triển nhờ một thể chế chính trị cách mạng
tiến bộ. Mục tiêu CNXH và độc lập dân tộc đợc quán triệt một cách sâu sẳc trong
toàn bộ hệ thống giáo dục Việt Nam.
Vai trò của GDĐH đối với văn hoá :
Xét về góc độ lịch sử, văn hoá chỉ đợc hình thành thông qua một quá trình
sáng tạo lâu dài, xây dựng và truyền từ đời này sang đời khác, từ thế hệ này sang
thế hệ khác. Trong quá trình này không thể thiếu vai trò của giáo dục đào tạo nói
SV Phan Thế Thành-K39/01.04
Luận văn tốt nghiệp Khoa tài chính công
chung và GDĐH nói riêng. Có thể nói rằng trong văn hoá có giáo dục, trong giáo
dục có văn hoá. Văn hoá theo nghĩa rộng của khái niệm bao hàm toàn bộ các giá
trị vật chất tinh thần mà loài ngời sáng tạo ra đợc giữ gìn, bảo vệ và lu truyền từ
thế hệ này sang thế hệ khác. Nh vậy văn hoá trong quá trình vận động, phát triển
của mình bao giờ cũng đợc xem xét ở cả khía cạnh sáng tạo và truyền lại. Chức
năng của GDĐH chính là việc truyền lại những giá trị văn hoá. Giá trị tinh thần do
con ngời sáng tạo ra đợc tập hợp lại hệ thống hoá, khái quát trở thành những tri
thức trong giáo trình bài giảng của nhà trờng. Nh vậy chính văn hoá đã mang đến
cho GDĐH những nội dung thiết yếu, cần thiết. Còn đào tạo đại học cũng không
phải là một quá trình thụ động mà là một quá trình sáng tạo. Sự sáng tạo trong quá
trình giáo dục làm phong phú thêm những giá trị văn hoá vốn có, làm náy sinh
những giá trị văn hoá mới. Điều quan trọng hơn nữa là GDĐH tạo ra những con
ngời có khả năng sáng tạo ra giá trị vật chất và tinh thần trong tơng lai. Nh vậy nhờ
có GDĐH mà giá trị tinh thần, giá trị vật chất đợc chuyển giao và phát triển giữa
các thế hệ.
Vai trò của GDĐH đối với công nghệ :
Chức năng đặc thù của khoa học là sản sinh ra kiến thức mới còn chức năng
của giáo dục đào tạo là truyền bá kiến thức khoa học, giảng dạy và giáo dục một
cách có hệ thống cho nhứng ngời có năng lực học tập và vận dụng những kiến thức
khoa học vào thực tế. Trong điều kiện thực tế hiện nay của cuộc cách mạng khoa
học kỹ thuật, GDĐH chẳng những đào tạo cán bộ cho khoa học mà còn sản sinh ra
kiến thức khoa học thông qua hệ thống nghiên cứu ở các trờng đại học. Ngựơc lại,
các cơ quan khoa học cũng tham gia ngày càng nhiều hơn vào việc đào tạo cán bộ
có trình độ cao, tham gia giảng dạy, xây dựng chơng trình giáo khoa, có ảnh hởng
trực tiếp đến việc cải thiện, phát triển giáo dục nói chung và GDĐH nói riêng.
Trong điều kiện hiện nay xu thế của khoa học và giáo dục kết hợp với nhau tạo
SV Phan Thế Thành-K39/01.04
Luận văn tốt nghiệp Khoa tài chính công
thành cái gọi là Công nghệ kiến thức . Thông qua giáo dục đào tạo để vũ trang
kiến thức khoa học cho ngời lao động, hệ thống giáo dục quốc dân đã làm cho
khoa hoc trở thành lực lợng sản xuất trực tiếp.
ở nớc ta hiện nay, công cuộc CNH-HĐH đang đợc đẩy mạng, chúng ta
đang chú trọng đến việc đào tạo phát triển nguồn nhân lực và nhất là nhân lực có
kỹ thuật cao. Vì vậy trong chiến lợc phát triển giáo dục đào tạo, không thể không
chú trọng đến việc thiết kế hệ thống đào tạo đại học chất lợng cao đáp ứng đợc nhu
cầu về nguồn nhân lực của mọi lĩnh vực trong nền kinh tế quốc dân.
Nhìn một cách tổng quát giáo dục đào tạo là chìa khóa mở đờng cho sự
nghiệp CNH-HĐH. Nhận thức đựoc tầm quan trọng này của giáo dục đào tạo,
Nghị quyết TW IV khoá 7 đã đề ra Cùng với khoa học công nghệ, giáo dục đào
tạo là quốc sách hàng đầu; Nghị quyết TW II-Hội nghị TW khoá 8 của Đảng
Cộng Sản Việt Nam: Mục tiêu cao nhât của giáo dục là hình thành đợc những
nhân cách xã hội công nghiệp,thể hiện nh một nội sinh cần thiết để phục vụ CNH-
HĐH. Hay trong Nghị quyết Đại hội VIII khẳng định : Giáo dục đào tạo cùng
với khoa học cộng nghệ phải thực sự trở thành quốc sách hàng đầu,phải coi đầu t
cho giáo dục là một trong những hớng chính của đầu t phát triển,tạo điều kiện cho
giáo dục đi trớc và phục vụ đắc lực cho sự phát triển kinh tế xã hội .
1.2.Sự cần thiết của chi NSNN đối với sự phát triển của sự nghiệp đào tạo
Đại học
1.2.1.Khái niệm, nội dung chi NSNN cho giáo dục Đại học
NSNN là toàn bộ các khoản thu, chi của Nhà nớc trong dự toán đã đợc cơ
quan nhà nớc có thẩm quyền quyết định và đợc thực hiện trong một năm để đảm
bảo thực hiện các chức năng nhiệm vụ của Nhà Nớc ( Điều 1 luật NSNN )
SV Phan Thế Thành-K39/01.04
Luận văn tốt nghiệp Khoa tài chính công
Thu NSNN là việc Nhà nớc dùng quyền lực của mình để tập trung một phần
nguồn tài chính quốc gia hình thành quĩ NSNN nhằm thoả mãn các nhu cầu của
Nhà nuớc.
Thu NSNN gồm các khoản thu từ thuế, phí, lệ phí; từ các hoạt động kinh tế
của Nhà nớc; thu từ bán, khoán cho thuê tài nguyên; thu từ viện trợ của các tổ chức
và cá nhân và các khoản thu khác theo luật định
Chi NSNN là việc phân phối và sử dụng quĩ NSNN nhằm đảm bảo thực hiện
các chức năng của Nhà nớc theo những nguyên tắc nhất định. Chi NSNN ta bao
gồm :
- Chi thờng xuyên
- Chi đầu t phát triển
- Chi trả nợ gốc tiền vay
- Chi bổ sung quĩ dự trữ tài chính
Chi thờng xuyên của NSNN là quá trình phân phối, sử dụng, vốn từ quĩ
NSNN để đáp ứng các nhu cầu chi gắn với việc thực hện các nhiệm vụ thờng xuyên
của Nhà nớc về quản lý kinh tế, xã hội.
Chi NSNN cho sự nghiệp đào tạo là một bộ phận quan trọng trong cơ cấu chi
thờng xuyên của NSNN, đó là quá trình phân phối lại nguồn vốn từ quĩ tiền tệ tập
trung của Nhà nớc nhằm đáp ứng nhu cầu chi để duy trì và phát triển sự nghiệp đào
tạo theo nguyên tắc không hoàn trả trực tiếp.
Chi NSNN cho đào tạo Đại học là quá trình phân phối lại quỹ NSNN nhằm
đáp ứng nhu cầu chi và phát triển sự nghiệp đào tạo đại học theo nguyên tắc không
hoàn trả trực tiếp.
Chi NSNN cho đào tạo đại học bao gồm: Chi thờng xuyên; chi chơng trình
mục tiêu; chi đầu t XDCB
SV Phan Thế Thành-K39/01.04
Luận văn tốt nghiệp Khoa tài chính công
Chi chơng trình mục tiêu cho sự nghiệp đào tạo là khoản chi để giải quyết
những những vấn đề cấp bách mang tính chiến lợc trong sự nghiệp đào tạo ( Các
khoản chi cho chơng trình mục tiêu cho sự nghiệp đào tạo mới chỉ xuất hiện từ
năm 1990 ). Nh vậy nội dung chi chơng trình mục tiêu phát sinh không thờng
xuyên mà chỉ phát sinh trong một thời gian nhất định, khi các chơng trình mục tiêu
đó đạt đợc thì các nội dung chi đó cũng kết thúc.
Chi đầu t XDCB nhằm từng bớc mở rộng và tăng cờng cơ sở vật chất kỹ
thuật cho sự nghiệp đào tạo đại học. Do đặc điểm riêng của hoạt động XDCB và
sản phẩm của XDCB cho nên công tác quản lý chi đầu t XDCB thờng đợc tách
riêng với chi thờng xuyên và chi chơng trình mục tiêu cho sự nghiệp đào tai đại
học.
Với đặc thù nh vậy, trong phạm vi đề tài này không đi sâu nghiên cứu 2
khoản chi trên, chỉ xin đi sâu phân tích về mức độ và công tác quản lý chi thờng
xuyên cho sự nghiệp đào tạo đại học.
Chi thờng xuyên cho sự nghiệp đào tạo đại học nhằm đáp ứng những nhu
cầu chi gắn chặt với hoạt động thờng xuyên của sự nghiệp đào tạo đại học. Trong
công tác quản lý chi thờng xuyên của NSNN nói chung và chi thờng xuyên cho sự
nghiệp đào tạo đại học nói riêng, ngời ta phân loại nội dung chi này thành 4 nhóm
theo đối tợng sử dung kinh phí :
Nhóm 1 : Chi cho con ngời :
Bao gồm các khoản: chi lơng, phụ cấp,các khoản phúc lợi, BHXH, BHYT
cho giáo viên, cán bộ quản lý và phục vụ, học bổng cho học sinh, sinh viên .
Nhóm 2: Chi cho quản lý hành chính :
Thuộc nhóm chi này bào gồm các khoản chi về công tác phí,nghiệp vụ
phí,hội nghị phí,công vụ phí đảm bảo phục vụ cho hoạt động quản lý hành chính
của nhà trờng và các cơ sở đào tạo.
SV Phan Thế Thành-K39/01.04
Luận văn tốt nghiệp Khoa tài chính công
Nhóm 3: Chi cho giảng dạy,học tập và nghiên cứu khoa học:
Nhóm chi này đáp ứng nhu cầu kinh phí cho việc mua sắm tài liệu, sách
giáo khoa,giáo trình,đồ dùng học tập, hoá chất thí nghiệm,phấn viết bảng chi
nghiên cứu khoa học,chi kiến tập, chi thực tập ngoài trờng
Nhóm 4; Chi cho mua sắm,sửa chữa trang thiết bị học tập:
Nhóm chi này đáp ứng nhu cầu kinh phí cho việc mua sắm, sủa chữa máy
móc, thiết bị học tập, thực hành cho sinh viên. Các khoản chi này phát sinh không
thờng xuyên,mức độ chi phụ thuộc vào nhu cầu, thực trạng nhà cửa, trang thiết
bị.
Chi NSNN cho đào tạo ĐH đợc phân bổ tính theo đầu sinh viên tuyển theo
chi tiêu kế hoạch Nhà nớc có ngân sách.
Tổng số chi NSNN cho đào tạo ĐH thay đổi qua các năm. Điều này phụ
thuộc vào các nhân tố sau :
Một là : Định hớng và chiến lợc phát triển giáo dục đào tạo nói chung và
đào tạo đại học nói riêng của Đảng và nhà nớc ta trong từng thời kỳ.
Với ý nghĩa là bộ phận cấu thành hữu cơ của nền kinh tế hiện đại và ngày
càng đợc coi là yếu tố đứng hàng đầu tạo ra động lực bên trong cho phát triển
kinh tế, giáo dục đào tạo nói chung và sự nghiệp đào tạo đại học nói riêng luôn đ-
ợc sự quan tâm của Đảng và Nhà nớc cả về định hớng phát triển cũng nh nguồn
kinh phí hoạt động. Tuy nhiên, trong mỗi thời kỳ khác nhau do thực trạng nền
kinh tế xã hội và nhu cầu về số lợng, chất lợng, cơ cấu nguồn lao động thì chiến l-
ợc giáo dục đào tạo của Nhà Nớc thay đổi cho phù hợp. Điều đó kéo theo sự thay
đổi của nguồn kinh phí cho giáo dục đào tạo nói chung và đào tạo đại học nói
riêng.
Hai là : Khả năng của NSNN trong từng thời kỳ.
SV Phan Thế Thành-K39/01.04
Luận văn tốt nghiệp Khoa tài chính công
Đây là nhân tố quyết định đến cơ cấu và mức độ chi NSNN cho đào tạo đại
học. Với quan điểm Giáo dục là quốc sách hàng đầu Đảng và nhà nớc ta luôn
tạo mọi đIều kiện thuận lợi về chính sách, chế độ, tài chính cho sự phát triển
của giáo dục đào tạo. Tuy nhiên với một NS hạn hẹp, thu NSNN tăng chậm, trong
khi nhu cầu chi luôn tăng nhanh cả về phạm vi và mức độ chi, do đó dù cố gắng
đến mấy thì NSNN cũng chi giành một phần nhất định trong tổng chi NSNN cho
giáo dục đào tạo nói chung và đào tạo đại học nói riêng.Do đó tuỳ thuộc vào khả
năng của NSNN mà tổng chi NSNN cho đào tạo đại học trong từng thời kỳ là
khác nhau,theo nguyên tắc chú trọng tới các khoản mục chi nhằm nâng cao hiệu
quả của đồng vốn Ngân Sách.
1.2.2.Vai trò của chi NSNN đối với sự phát triển của sự nghiệp đào tạo
Đại học.
Giáo dục đào tạo nói chung và đào tạo đại học nói riêng hiện đang là mối
quan tâm lớn của toàn xã hội,bất cứ một quốc gia nào trên thế giơí muốn trở nên
giàu mạnh và phát triển một cách bền vững thì việc đầu tiên phải chú trọng là nhân
tố con ngời.Đào tạo đại học vừa là nơi hoàn thiện nhân cách con ngời, vừa là nơi
cung cấp đội ngũ cán bộ có trình độ năng lực,bồi dỡng nhân tài cho sự phát triển
đất nớc.Ngày nay, tiến bộ của loài ngời đã chuyển sang thời đại văn minh hậu công
nghiệp với đặc trng là khoa học công nghệ và trí tuệ đã trở thành động lực trực tiếp
của sự phát triển.Do đó phát triển giáo dục đào tạo nói chung và đào tạo đại học
nói riêng là một điều hết sc cần thiết hiện nay.Tuy nhiên đào tạo đại học là một
hoạt động không trực tiếp tạo ra của cải vật chất nên nó không thể tự đảm bảo cho
mình một nguồn tài chính để hoạt động.
Hiện nay, các nguồn tài chính đầu t cho đào tạo đại học bao gồm: nguồn
NSNN, nguồn đóng góp của nhân dân, các tổ chức xã hội, nguồn vốn tài trợ nh -
SV Phan Thế Thành-K39/01.04
Luận văn tốt nghiệp Khoa tài chính công
ng trong đó nguồn vốn NSNN là nguồn vốn ổn định và giữ vai trò chủ đạo chiếm
khoảng 85%-90% trong các nguồn vốn đầu t cho đào tạo đại học. Vì vậy muốn
duy trì và phát triển hệ thống đào tạo đại học công lập thì vai trò của chi NSNN là
vô cùng quan trọng và đóng vai trò quyết định.Sở dĩ NSNN cần đầu t cho đào tạo
đại học là do những nguyên nhân sau đây:
Thứ nhất: Giáo dục không phải là hàng hoá công cộng thuần tuý. Nó mang
đặc trng của hàng hoá công cộng không thuần tuý và tạo ra những ảnh hởng ngoại
lai tích cực mà cơ chế thị trờng không phản ảnh đợc. Vì vậy, nhà nớc cần dẫn đầu
trong việc đầu t vào giáo dục nói chung và giáo dục đại học nói riêng.
Thứ hai : Đầu t của nhà nớc sẽ thúc đẩy đầu t của t nhân. Nh chúng ta đã
biết, lợi ích của giáo dục không chỉ dành cho những ngời đợc giáo dục trực tiếp mà
còn cho cả xã hội nói chung. Tuy nhiên, các cá nhân có thể không tính đến những
tác động này trong việc quyết định liệu có nên đầu t vào việc học tập cho bản thần
họ hay con cái họ hay không. Hoặc trong một số trờng hợp họ đơn giản không biết
đến những tác động bên ngoài của việc giáo dục. Trong những trờng hợp khác, họ
có thể biết song thiếu sự khuyến khích để đi đến quyết định. Nếu không có sự hỗ
trợ của Chính phủ, các chi phí cho giáo dục sẽ thấp hơn mức mong muốn. Do vậy,
những khuyến khích của Chính phủ đối với giáo dục và đầu t của Chính phủ vào
giáo dục sẽ thúc đẩy sự đầu t của t nhân, hớng t nhân vào các loại hình đào tạo cần
thiết.
Thứ ba: Đầu t của Nhà nớc vào giáo dục nhằm giảm bất bình đẳng.Trong xã
hội không phải tất cả các nhóm dân c đều có khả năng trả các khoản chi phí trực
tiếp liên quan đến việc đầu t vào giáo dục. Nếu giáo dục đợc cung cấp nh một dịch
vụ trong nền kinh tế thị trờng thì chỉ những ngời có khả năng trả các loại chi phí
mới đợc vào học.Vì vậy, cần phải có sự đầu t của Nhà nớc vào giáo dục.Và đầu t
của nhà nớc suy cho cùng là để tăng thêm hiệu quả của đầu t xã hội vào giáo dục
SV Phan Thế Thành-K39/01.04
Luận văn tốt nghiệp Khoa tài chính công
và tạo ra sự công bằng về cơ hội giáo dục. Khi công bằng trong phân bố giáo dục
đợc giải quyết thì sẽ dẫn đến công bằng trong phân bổ thu nhập.
Thứ t: Đầu t của Chính phủ là nhằm khắc phục khiếm khuyết của thị trờng
vốn.
Trên thực tế ở hầu hết các nớc thì thì trờng vốn cho đầu t vào nguồn vốn con
ngời là không hoàn hảo. Nguồn vốn này còn nhiều rủi ro cho cả ngời vay lẫn ngời
cho vay khi đầu t vào giáo dục. Do đó, các nhà đầu t thờng rất khó quyết định để đi
đến đầu t nh đầu t vào vốn vật chất. Trong trờng hợp này, sự can thiệp của Chính
phủ là nhằm giảm bớt sự hạn chế về khả năng đầu t.
Có thể nói, vốn ngân sách nhà nớc luôn phải coi là nguồn vốn quan trọng để
phát triển giáo dục. ở Việt nam, Luật GD có ghi rõ: Nhà nớc dành u tiên hàng
đầu cho việc bố trí ngân sách giáo dục, đảm bảo tỷ lệ NSNN chi cho giáo dục tăng
dần theo yêu cầu của sự nghiệp giáo dục.Vai trò của chi NSNN cho sự nghiệp đào
tạo đại học đợc nhìn nhận trên các khía cạnh sau :
Trớc hết NSNN là nguồn tài chính cơ bản, chủ dạo nhất để duy trì và
phát triển sự nghiệp đào tạo đại học ở nớc ta theo đúng chủ truơng, đờng
lối của Đảng và Nhà nớc.
Trong hệ thống tài chính nớc ta thì Tài chính Nhà nớc chiếm một tỷ trọng
lớn mà trong tài chính Nhà nớc ( Ngân sách Nhà nớc và tín dụng Nhà nớc) thì ngân
sách Nhà nớc có tỷ trọng lớn nhất. Ngân sách Nhà nớc bảo đảm nhu cầu tiêu dùng
chung của xã hội theo chủ trơng đờng lối của Đảng và Nhà nớc trong đó nhu cầu
đào tạo đại học đứng hàng đầu.
Do nền kinh tế nớc ta phát triển chậm, năng suất lao động xã hội thấp, thu
nhập theo đầu ngời dân ở mức thấp, đời sống khó khăn, nhất là đời sống của những
ngời dân ở nông thôn (mà ở nớc ta có tới 80% dân số sống ở nông thôn) nên ngời
dân cha có điều kiện đóng góp học phí một cách đầy đủ và thoả đáng khi con em
SV Phan Thế Thành-K39/01.04
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét