5
MỤC LỤC
1. Giới thiệu 9
2. Khái niệm Kỳ thị và Phân biệt đối xử liên quan đến HIV/AIDS 10
2.1. Định nghĩa Kỳ thị và Phân biệt đối xử 10
2.2. Kỳ thị và các vấn đề y tế 10
2.3 Sự kỳ thị liên quan đến HIVvà AIDS 11
2.4 Định nghĩa của UNAIDS về sự kỳ thị và phân biệt đối xử liên quan đến
HIV/AIDS
11
3. Quy tắc thực hành của ILO về HIV/AIDS tại nơi làm việc và kinh nghiệm quốc
tế
11
3.1 Quy tắc thực hành của ILO về HIV/AIDS tại nơi làm việc 11
3.2 Áp dụng quy tắc của ILO tại các nước láng giềng 12
4. Kỳ thị và phân biệt đối xử liên quan đến HIV/AIDS tại Việt Nam 14
4.1 Sơ lược về tình hình dịch bệnh HIV/AIDS tại Việt Nam 14
4.2 Sự kỳ thị và phân biệt đối xử liên quan đến HIV/AIDS trong xã hội của Việt
Nam
15
5. Luật pháp, Chính sách và Khuôn khổ Pháp chế có quan hệ đến vấn đề kỳ thị và
phân biệt đối xử có liên quan đến HIV/AIDS ở Việt Nam
15
5.1 Khuôn khổ luật pháp 16
5.2 Khung thể chế 17
5.3 Ngân sách của Chính phủ 17
5.4 Những khoảng trống trong chính sách và khuôn khổ thể chế 18
6. Các chương trình và hoạt động chính nhằm giải quyết vấn đề HIV/AIDS tại nơi
làm việc
19
6.1 Hoạt động của Tổng liên đoàn Lao động Việt Nam (VGCL) 19
6.2 Các dự án dưới sự điều phối của phòng Thương Mại và Công nghiệp Việt Nam
(VCCI)
19
6.3 Hoạt động của các bộ và các doanh nghiệp 20
6.4 Những khoảng trống trong các hoạt động 20
7. Các nét đặc trưng của sự kỳ thị và phân biệt đối xử tại nơi làm việc ở Việt nam
22
7.1 Sự tồn tại của kỳ thị và phân biệt đối xử 22
7.2 Cho thôi việc 22
7.3 Sàng lọc vì mục đích tuyển dụng lao động và xét nghiệm 23
7.4 Công bố kết quả xét nghiệm HIV 24
6.5 Khuôn mẫu định kiến về người có HIV/AIDS 24
7.6 Cách ly và chối bỏ 25
7.7 Khía cạnh giới trong kỳ thị và phân biệt đối xử 27
7.8 Tự kỳ thị 27
7.9 Sự kỳ thị và phân biệt đối xử chưa được khám phá 28
8. Các nguyên nhân của kỳ thị và phân biệt đối xử 28
6
8.1 Sự hiểu biết không đầy đủ của người sử dụng lao động và người lao động về các
văn bản pháp luật
28
8.2 Sự thiếu hiểu biết về nguồn gốc, các hình thức lây nhiễm và sự tiến triển của
HIV/AIDS
29
8.2.1 Liên hệ HIV/AIDS với “các tệ nạn xã hội” 29
8.2.2 Nỗi lo sợ đối với sự lây nhiễm thông thường 29
8.2.3 Thiếu hiểu biết về sự tiến triển của HIV/AIDS 30
8.3 Nhận thức sai lầm về năng lực và tinh thần làm việc của người bị nhiễm bệnh
30
8.4 Nhận thức sai lệch về người lao động nhiễm HIV/AIDS như là mối đoe dọa đối
với cơ sở sản xuất và môi trường xã hội
31
8.5 Những thông điệp không đầy đủ từ các phương tiện thông tin đại chúng và chiến
dịch thông tin, giáo dục và truyền thông
32
8.6 Sự kỳ thị và phân biệt đối xử liên quan đến HIV/AIDS trong xã hội 33
9. Mối quan hệ thông thường trong tuyển dụng người bị nhiễm HIV/AIDS và sự
kỳ thị và phân biệt đối xử ở Việt Nam
34
10. Kết luận và kiến nghị 35
Kết luận 35
Kiến nghị 36
Tài liệu tham khảo
7
TÓM TẮT
Tài liệu thảo luận này của Liên hợp quốc (LHQ) được biên soạn dựa trên dự án giữa Tổ chức Lao động Quốc tế
(ILO) và Chương trình Phát triển LHQ (UNDP) và những nghiên cứu tổng hợp của Tổ chức Lao động Quốc tế
(ILO) về Giảm kỳ thị và phân biệt đối xử đối với người nhiễm HIV/AIDS tại nơi làm việc ở Việt Nam, do ILO thực
hiện vớ
i sự hỗ trợ tài chính và kỹ thuật của UNDP trong năm 2003. Mục tiêu của Dự án là tham gia vào hoạt động
bảo vệ quyền của những người sống chung với HIV/AIDS (PLWHA), và nêu lên các vấn đề liên quan đến
HIV/AIDS ở cấp độ chính sách tại cơ sở lao động nhằm giảm những hậu quả xấu về phát triển kinh tế, lao động và
xã hội do bệnh dịch gây ra.
Tài liệu thảo luận này cho thấy tình trạng k
ỳ thị và phân biệt đối xử với PLWHA đang lan rộng ở Việt Nam và có
thể ảnh hưởng tiêu cực đến quyền được làm việc của họ. Sự tồn tại của kỳ thị và phân biệt đối xử tại nơi làm việc
thể hiện trong việc cho thôi việc trực tiếp người lao động bị nhiễm bệnh hay yêu cầu xét nghiệm HIV bắt buộc với
các ứng viên
ở một số doanh nghiệp. Nghiên cứu cho thấysự kỳ thị và phân biệt đối xử với PLWHA xảy ra một
phần là do sự thiếu hiểu biết về các phương thức lây nhiễm HIV và một phần là do sự liên hệ giữa HIV/AIDS với
các tệ nạn xã hội như tiêm chích ma tuý và mại dâm.
Thông qua trình bày tóm tắt về khái niệm Kỳ thị và phân biệt đối xử liên quan đến HIV/AIDS, tài liệu này nghiên
cứu Quy tắc thực hành c
ủa ILO về HIV/AIDS và kinh nghiệm quốc tế trong việc đưa nội dung chống Kỳ thị và
phân biệt đối xử vào các văn bản pháp lý và hoạt động thực tiễnnhư kinh nghiệm của một số nước Đông Nam Á.
Tài liệunêu lên những khoảng trống chính sách và khuôn khổ thể chế trong khung pháp lý tại Việt Nam, bao gồm
các biện pháp phòng chống HIV/AIDS và chống kỳ thị và phân biệt đối xử cũng như các khoảng trống trong ho
ạt
động của một số tổ chức đầu ngành trong lĩnh vực lao động việc làm.
Một tập hợp các kiến nghị được nêu lên trong tài liệu, nhằm đối diện các thách thức, vượt qua kỳ thị và phân biệt
đối xử đối với người nhiễm HIV/AIDS tại nơi làm việc. Các kiến nghị này bao gồm:
- Tăng cường thông tin, dữ liệu về tác động của kỳ thị và phân biêt đối x
ử đối với người nhiễm HIV/AIDS.
- Bổ sung sửa đổi khuôn khổ pháp lý để đưa vào các quy định về việc giảm kỳ thị và phân biệt đối xử, có thể
xem xét áp dụng Quy tắc thực hành của ILO về HIV/AIDS và Thế giới Lao động.
- Chuyển tải các chính sách vào các văn bản hướng dẫn triển khai thực hiện mang tính pháp lý và hiệu lực
bắt buộc, với hướng dẫn về giả
m kỳ thị và phân biệt đối xử, bảo đảm quyền riêng tư, quan hệ xã hội, phòng
chống lây nhiễm, bình đẳng giới, chăm sóc và hỗ trợ.
- Gia tăng ngân sách Chính phủ và huy động nguồn lực ngoài ngân sách cho các chương trình nhằm mục
đích kiểm soát HIV/AIDS tại nơi làm việc.
- Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam và Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam cần tham gia vào
quá trình lập chính sách và triển khai phối hợp trong nỗ lực chung nhằm phòng ch
ống và kiểm soát
HIV/AIDS.
- Cần chú ý hơn nữa tới các hoạt động thông tin, giáo dục và truyền thông nhằm thay đổi về mặt chiến lược
những nhận thức tiêu cực của công chúng về HIV/AIDS và những người nhiễm HIV.
Nếu song song thực hiện, những thay đổi chính sách này được xem là những biện pháp chính yếu, giúp xoá bỏ tình
trạng kỳ thị và phân biệt đối xử tại nơi làm việc và bảo vệ quyền lợ
i cho những người nhiễm HIV/AIDS, bao gồm
quyền được làm việc, vốn đã được ghi nhận trong Hiến pháp của nước XHCN Việt Nam.
8
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
AIDS
Hội chứng suy giảm miễn dịch (Acquired Immune Deficiency Syndrome)
HIV
Virus gây suy giảm miễn dịch ở người (Human Immunodeficiency Virus)
IDU
Người tiêm chích ma tuý
IEC
Tài liệu thông tin, tuyên truyền, giáo dục (truyền thông)
ILO
Tổ chức Lao động Quốc tế
INGOs
Các Tổ chức Phi chính phủ quốc tế
ISDS
Viện Nghiên cứu Phát triển Xã hội
KABP
Kiến thức, Thái độ, Hành vi, Thói quen
M&E
Theo dõi và đánh giá
MOH
Bộ Y tế
MOLISA
Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội
MTPs
Các kế hoạch trung hạn
NAC
Uỷ ban Phòng chống AIDS Quốc gia
NAP
Chương trình Phòng chống AIDS Quốc gia
NASB
Văn phòng Thường trực Phòng chống AIDS Quốc gia
NCADP
Uỷ ban Quốc gia Phòng chống và Kiểm soát AIDS, Ma tuý và Mại dâm
NGO
Tổ chức Phi chính phủ
PCADPS
Uỷ ban Phòng chống và Kiểm soát AIDS, Ma tuý và Mại dâm
PLWHA
Những người nhiêm HIV/AIDS
POA
Kế hoạch Hành động
SPPD
Hỗ trợ phát triển chính sách và chương trình
STIs
Các bệnh Lây nhiễm qua đường Tình dục
UNAIDS
Ch
ương trình Phối hợp của Liên hiệp quốc về HIV/AIDS
USAID
Cơ quan Phát triển Quốc tế của Mỹ
UNDP
Chương trình Phát triển Liên Hợp Quốc
VCCI
Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam
VGCL
Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam
WHO
Tổ chức Y tế Thế giới
9
1. GIỚI THIỆU
Năm 2003, Văn phòng Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) tại Việt Nam đã thực hiện Dự án
Hỗ trợ phát triển chính sách và chương trình (SPPD) về Giảm kỳ thị và phân biệt đối xử
đối với người nhiễm HIV/AIDS tại nơi làm việc ở Việt Nam. Mục tiêu của Dự án là tham
gia vào hoạt động bảo vệ quyền của những người có HIV/AIDS, ngăn chặn sự lây nhiễm
của HIV/AIDS t
ại nơi làm việc và giảm những hậu quả xấu về phát triển kinh tế, lao
động và xã hội do bệnh dịch gây ra. Đặc biệt, Dự án nhằm mục đích tăng cường sự hiểu
biết về những nguyên nhân chính của bệnh dịch và mức độ của tình trạng phân biệt đối
xử liên quan đến HIV/AIDS tại Việt Nam cấp quốc gia, cấp độ lập chính sách và tại nơi
cơ
sở lao động.
Các hoạt động và kết quả của Dự án sẽ góp phần thiết thực vào việc tăng cường chính sách
và
khung pháp lý ở cấp nhà nước về chống phân biệt đối xử, bao gồm việc phát triển hơn
nữa công tác xây dựng Chiến lược ở cấp nhà nước về HIV/AIDS và sửa đổi Pháp lệnh
phòng chống HIV/AIDS của Việt Nam cũng như các hướng dẫn mang tính chất chiến
lược về các biện pháp giảm thiểu kỳ thị và
phân biệt đối xử liên quan đến HIV/AIDS tại
nơi làm việc.
Để đạt được những mục tiêu trên, trong tháng 8 và tháng 9/2003, Tổ chức Lao động Quốc tế
tại Hà Nội đã ký kết hợp đồng tiến hành 3 đợt tư vấn nhằm: (i) Rà soát lại khung pháp lý về
HIV/AIDS, đặc biệt là các vấn đề liên quan đến kỳ thị và phân biệt đối xử tại nơi làm việc;
(ii) Đánh giá nhanh tình trạng phân biệt đối xử
liên quan đến HIV/AIDS tại nơi làm việc,
những thiếu sót và đòi hỏi về các chính sách và hoạt động nhằm giảm sự phân biệt đối xử;
(iii) Tiến hành một cuộc điều KABP về người lao động tại Hà Nội và Thành phố Hồ Chí
Minh nhằm tìm hiểu kiến thức, thái độ, quan niệm và thói quen của họ đối với vấn đề
HIV/AIDS và người có HIV/AIDS (từ đây sẽ viết tắt là những ng
ười bị nhiễm HIV); và xác
định những lý do chính dẫn tới kỳ thị và phân biệt đối xử liên quan đến HIV/AIDS tại nơi
làm việc.
Về mặt phương pháp, để tiến hành việc đánh giá nhanh, phương pháp phỏng vấn chuyên sâu
đã được áp dụng nhằm thu thập thông tin từ đại diện của các cơ quan Chính phủ, các tổ chức
phi chính phủ quốc tế và địa phương, người lao động, người sử dụ
ng lao động cũng như
người lao động đã bị nhiễm HIV/AIDS. Công tác đánh giá cũng bao gồm cả việc nghiên cứu
các báo cáo của những dự án phòng chống HIV/AIDS. Trong điều tra KABP, phương pháp
định lượng đã được sử dụng trong một cuộc khảo sát với 200 người lao động, gồm cả nam và
nữ, làm việc trong ngành sản xuất thuỷ tinh và ngành dệt may tại 4 nhà máy ở Hà Nội và
thành phố Hồ Chính Minh. Lý do để lựa ch
ọn các ngành này xuất phát từ các kết quả phỏng
vấn các chủ doanh nghiệp do Viện Nghiên cứu Phát triển Xã hội thực hiện tháng 3 năm 2003.
Một số chủ doanh nghiệp của hai ngành này tin rằng sự kỳ thị và phân biệt đối xử liên quan
đến HIV/AIDS ở cơ sở sản xuất có khả năng lớn hơn các ngành khác vì tính chất công việc
và khả năng dễ bị tổn thương của người lao động khi làm vi
ệc (dễ có thể bị chảy máu, dễ bị
các bệnh về phổi). Các cuộc phỏng vấn chuyên sâu cũng đã được tiến hành với những bác sĩ
hoặc y tá tại các phòng y tế của những nhà máy này.
Cấu trúc của báo cáo này như sau. Phần 2 trình bày tóm tắt khái niệm về sự kỳ thị và phân
biệt đỗi xử (KT&PBĐX), đặc biệt là sự kỳ thị và phân biệt đối xử liên quan đến HIV/AIDS
để đặt những biểu hiện của KT&PBĐX ở Việt Nam vào trong bối cảnh chung của cả thế giới.
Phần 3 giới thiệu các nguyên tắc hướng dẫn chống kỳ thị và phân biệt đối xử tại nơi làm việc
của ILO, cụ thể là Quy tắc thực hành của ILO về HIV/AIDS và Nơi làm việc, cũng như các ví
10
dụ mô tả cách áp dụng những nguyên tắc này trong một số tài liệu pháp lý của các nước khác.
Phần 4 chỉ ra tình hình chung về đại dịch HIV/AIDS ở Việt Nam và các vấn đề liên quan đến
kỳ thị và phân biệt đối xử trong xã hội Việt Nam. Phần 5 xem xét khung pháp lý và thể chế
của Việt Nam trong việc giải quyết các vấn đề HIV/AIDS, đặc biệt là kỳ thị và phân biệt đối
xử, và xác định những kẽ hở c
ũng như những thiếu sót đang tồn tại. Phần 6 liệt kê một số
chương trình lớn và các hoạt động dự án về phòng chống và kiểm soát HIV/AIDS, bao gồm
cả các biện pháp làm giảm sự kỳ thị và phân biệt đối xử, do các cơ quan, bộ ngành và công ty
thực hiện tại Việt Nam. Phần 7 mô tả kết quả của các tư vấn về một số các đặc điểm chính
củ
a kỳ thị và phân biệt đối xử liên quan đến HIV/AIDS được phát hiện tại nơi làm việc; Phần
8, tiếp đó, chỉ ra các nguyên nhân chủ yếu của tình trạng này. Phần 9 liệt kê trực quan mối
quan hệ của việc sử dụng lao động bị nhiễm HIV/AIDS với tình trạng kỳ thị và phân biệt đối
xử. Phần cuối cùng kết luận về kết quả nghiên cứu chủ yếu củ
a các tư vấn và đề xuất các bổ
sung sửa đổi về chính sách cũng như những hoạt động cần được tiến hành để giảm thiểu kỳ
thị và phân biệt đối xử liên quan đến HIV/AIDS tại nơi làm việc ở Việt Nam.
2. KHÁI NIỆM KỲ THỊ VÀ PHÂN BIỆT ĐỐI XỬ LIÊN QUAN ĐẾN
HIV/AIDS
2.1. Định nghĩa Kỳ thị và Phân biệt đối xử
1
Xuất phát điểm cho định nghĩa khái niệm kỳ thị và phân biệt đối xử là nghiên cứu của Erving
Goffman (1963) về sự kỳ thị liên quan đến bệnh tâm thần, sự dị dạng của cơ thể và những gì
được xem là các hình vi lệch chuẩn. Goffman mô tả kỳ thị như là “một thuộc tính hết sức cá
nhân” và dẫn tới việc loại bỏ một người hoặc một nhóm người ra khỏi c
ộng đồng và những
người bình thường, coi họ là một người hoặc một nhóm người vô dụng và “phế phẩm”. Tiếp
tục mở rộng các kết quả nghiên cứu của Goffman, Link và Phelan (2001) mô tả kỳ thị như là
một quá trình gồm có 3 bước riêng biệt: (i) Phân loại những người “phế phẩm” ra khỏi những
người “bình thường” bằng cách phân biệt và dán nhãn; (ii) Liên hệ những sự khác biệt đó với
những thu
ộc tính xấu; (iii) Tách “chúng ta” ra khỏi “chúng nó”.
Parker và Aggleton (2003) cho rằng những người bị kỳ thị thường chấp nhận các chuẩn mực
và giá trị (phản ánh các mối quan về quyền lực và kiểm soát) mà gán cho họ những sự khác
biệt xấu. Kết quả là các cá nhân hoặc các nhóm bị kỳ thị có thể thừa nhận rằng họ “xứng
đáng” bị đối xử một cách tồi tệ và bất công, khiến cho việc chố
ng lại sự kỳ thị và phân biệt
đối xử thậm chí còn khó hơn nữa. Tự kỳ thị được biểu hiện theo nhiều cách, bao gồm cả tự
thù ghét bản thân, tự cô lập và sự xấu hổ.
2.2. Kỳ thị và các vấn đề y tế
Bên cạnh việc thể hiện quyền lực, kỳ thị có thể là một phản ứng lại nỗi sợ hãi, rủi ro và
những mối đe doạ của căn bệnh nan y tất yếu dẫn đến tử vong. Nếu dịch bệnh càng lan truyền
nhanh chóng và càng không chắc chắn về phương thức mà dịch bệnh lây truyền thì sự kỳ thị
càng nghiêm trọng hơn. Những căn bệnh
đe dọa các giá trị của cộng đồng chính là những căn
bệnh gây ra sự kỳ thị.
Sự kỳ thị liên quan đến các vấn đề y tế thường là trầm trọng nhất khi các vấn đề đó bị liên hệ
với các hành vi lệch chuẩn hoặc khi nguyên nhân của các vấn đề đó được quy cho trách
nhiệm của cá nhân bị bệnh. Sự kỳ thị cũng càng được thể hiện rõ h
ơn khi tình trạng bệnh tật
1
Các phần từ 2.1 đến 2.3 được trích dẫn từ sách của Nyblade, Laura và đồng nghiệp 2003. Loại bỏ sự kỳ thị liên
quan đến HIV và AIDS tại Ethiopia, Tanzania và Zambia. ICRW.
11
không thể được cải thiện, vô phương cứu chữa, bệnh trầm trọng, suy sụp dần dần và dẫn tới
sự biến dạng về cơ thể hoặc một cái chết bất đắc kỳ tử.
2.3 Sự kỳ thị liên quan đến HIVvà AIDS
HIV và AIDS có tất cả các đặc điểm của những căn bệnh bị kỳ thị nhất. Những đặc điểm này
bị liên hệ với quan hệ tình dục sai trái và tiêm chích ma túy ư những hành vi bị xã hội lên án
và được coi là lỗi của cá nhân bị bệnh. AIDS là căn bệnh nan y, suy sụp, thường dẫn đến biến
dạng và gắn liền với “một cái chết không mong muốn”. Mọi người thường có suy nghĩ
sai
lầm rằng bệnh này dễ lây lan quan tiếp xúc và là mối đe dọa cho cộng đồng. Người dân nói
chung và nhiều khi cả các nhân viên y tế, không được thông báo một cách đầy đủ và thiếu sự
hiểu biết sâu về HIV và AIDS. Chính vì vậy, không còn gì nghi ngờ rằng sự kỳ thị và phân
biệt đối xử liên quan đến HIV/AIDS là một thử thách cần phải giải quyết.
2.4 Định nghĩa của UNAIDS về sự kỳ thị và phân biệt đối xử liên quan đến HIV/AIDS
Tương tự như trên, UNAIDS cũng có các định nghĩa về sự kỳ thị và phân biệt đối xử liên quan
đến HIV/AIDS như sau:
•
Sự kỳ thị liên quan đến HIV/AIDS được mô tả như một ‘quá trình mất giá’ của những người
sống chung hoặc có quan hệ với những người bị nhiễm HIV/AIDS. Sự kỳ thị này thường có
nguồn gốc từ kỳ thị mại dâm và tiêm chích ma tuý là hai con đường thông dụng nhất dẫn đến
lây nhiễm HIV.
•
Sự phân biệt đối xử đi sau kỳ thị là việc đối xử không công bằng đối với một người nào đó do
họ bị nhiễm hoặc do cảm tưởng là người đó bị nhiễm HIV. Sự kỳ thị và phân biệt đối xử vi
phạm đến các quyền cơ bản của con người, ở các cấp độ khác nhau từ chính trị đến kinh tế,
xã hội, tâm lý và thể chế.
•
Một khi có sự kỳ thị thì người ta thường muốn làm ngơ trước tình trạng thực sự hoặc có thể
nhiễm HIV của mình. Điều này dẫn đến nguy cơ làm cho bệnh tật tiến triển nhanh hơn đối
với bản thân họ cũng như nguy cơ gây lây nhiễm HIV sang những người khác.
3. QUY TẮC THỰC HÀNH CỦA ILO VỀ HIV/AIDS TẠI NƠI LÀM VIỆC
VÀ KINH NGHIỆM QUỐC TẾ
3.1 Quy tắc thực hành của ILO về HIV/AIDS tại nơi làm việc
Quy tắc thực hành của ILO về HIV/AIDS tại nơi làm việc được thông qua vào ngày
22/06/2001 đã đưa ra các nguyên tắc nền tảng, dựa trên cơ sở các quyền của người lao động,
cho công tác phòng chống và kiểm soát HIV/AIDS tại nơi làm việc. Quy tắc này có những
điểm chính như sau:
1) Thừa nhận HIV/AIDS là một vấn đề tại nơi làm việc
HIV/AIDS là một vấn đề tại nơi làm việc, không chỉ vì nó ảnh hưở
ng đến lực lượng lao động
mà còn vì nơi làm việc có thể đóng vai trò quan trọng trong việc hạn chế sự lan nhiễm của
bệnh dịch.
2) Không phân biệt đối xử
Không thể có sự kỳ thị và phân biệt đối xử đối với người lao động dù họ thực sự nhiễm HIV
hay bi nghi là nhiễm.
12
3) Bình đẳng giới
Quan hệ giới bình đẳng hơn và tạo quyền cho phụ nữ là rất quan trọng đối với sự thành công
của hoạt động phòng chống HIV và hỗ trợ phụ nữ đương đầu với căn bệnh.
4) Môi trường làm việc lành mạnh
Môi trường làm việc phải lành mạnh và an toàn và phải được điều chỉnh cho phù hợp với tình
trạng sức khỏ
e và khả năng của người lao động
5) Đối thoại xã hội
Chính sách và chương trình kiểm soát HIV/AIDS thành công đòi hỏi sự hợp tác và sự tin
tưởng lẫn nhau giữa người sử dụng lao động, người lao động và chính phủ.
6) Xét nghiệm cho mục đích tuyển dụng
Xét nghiệm HIV/AIDS không được coi như một điều kiện dự tuyển hoặc đối với người đang
làm việ
c và xét nghiệm HIV không thể được thực hiện tại nơi làm việc ngoại trừ những
trường hợp đặc biệt quy định trong Quy tắc này.
7) Bí mật
Việc tiếp xúc với các thông tin cá nhân liên quan đến tình trạng bị nhiễm HIV phải bị cấm
theo nguyên tắc bảo mật thống nhất với các Quy tắc thực hành của ILO.
8) Tiếp tục làm việc
Nhiễm HIV không phải là nguyên nhân để chấm d
ứt hợp đồng lao động. Người có các bệnh
liên quan đến HIV phải được làm việc cho đến khi nào điều kiện sức khỏe còn cho phép,
trong các điều kiện thích hợp
9) Phòng chống HIV
Các tổ chức xã hội có vị trí rất quan trọng để đẩy mạnh những cố gắng thông qua thông tin,
giáo dục và hỗ trợ những thay đổi trong thái độ và hành vi.
10) Chăm sóc và hỗ trợ
Đoàn kết, chă
m sóc và hỗ trợ phải định hướng cho các phản ứng đối với HIV/AIDS tại nơi
làm việc. Tất cả những người lao động đều phải được hưởng các dịch vụ chăm sóc sức khỏe
và được hưởng các quyền lợi về vị trí công việc và hệ thống nghề nghiệp.
3.2 Áp dụng quy tắc của ILO tại các nước láng giềng
Các nguyên tắc chính trong Quy tắc thực hành của ILO đã được phản ánh trong luật và thực
tiễn hoạt động của một số quốc gia láng giềng. Tại Malaysia, “Quy tắc thực hành phòng
chống và quản lý bệnh HIV/AIDS tại nơi làm việc” đã được Vụ An toàn nghề nghiệp và Sức
khỏe, Bộ Nhân lực ban hành nhằm mục đích: (i) cung cấp hướng dẫn chi tiết cho người sử
dụng lao động và người lao động v
ề các biện pháp thích hợp và hiệu quả để phòng chống và
13
quản lý dịch bệnh HIV/AIDS tại nơi làm việc; (ii) khuyến khích công tác giáo dục và nâng
cao nhận thức về HIV/AIDS; (iii) khuyến khích hình thành môi trường làm việc không phán
xét và phân biệt đỗi xử. Quy tắc thực hành này đưa ra các nguyên tắc cơ bản cho công tác
quản lý dịch bệnh HIV/AIDS tại nơi làm việc, gồm:
- Nghĩa vụ của người sử dụng lao động trong việc áp dụng các biện pháp thích hợp để ngăn
chặn sự lan truyền của HIV và b
ảo vệ người lao động có HIV khỏi sự phân biệt đối xử,
tuân theo các nguyên tắc được chấp nhận từ Quy tắc thực hành của ILO;
- Xây dựng các chính sách về HIV/AIDS tại nơi làm việc;
- Cam kết của người sử dụng lao động;
- Các chương trình đào tạo và giáo dục thông tin;
- Các biện pháp an toàn và biện pháp y tế;
- Thực hiện tuyển dụng không phân biệt đối xử;
- Tôn trọng bí mật và sự riêng tư;
- Trách nhiệ
m của người lao động;
- Bình đẳng giới;
- Chăm sóc và hỗ trợ.
Tại Philippines, Đạo luật số 8504 mang tên “Đạo luật ban hành các chính sách và quy định
các biện pháp để phòng chống và kiểm soát HIV/AIDS”, đã thể chế hóa chương trình quốc
gia về thông tin và giáo dục về HIV/AIDS, thiết lập một hệ thống giám sát toàn diện
HIV/AIDS, củng cố Hội đồng quốc gia về AIDS, và phục vụ cho các mục đích khác. Đạo
luật này trực ti
ếp quy định vấn đề giáo dục HIV/AIDS tại nơi làm việc, yêu cầu tất cả người
sử dụng lao động trong các cơ quan nhà nước và tư nhân, người lao động, cán bộ quản lý và
cán bộ giám sát cũng như thành viên của lực lương quân đội và cảnh sát phải được trang bị
những thông tin cơ bản đã được tiêu chuẩn hóa cũng như các hướng dẫn về HIV/AIDS, bao
gồm các chủ đề về bả
o mật thông tin tại nơi làm việc và thái độ đối với những người bị
nhiễm bệnh. Đạo luật cũng quy định rõ trách nhiệm của các cơ quan có liên quan trong việc
giám sát công tác triển khai đạo luật. Bên cạnh đó, Đạo luật cũng quy định rõ việc bắt buộc
tiến hành thử nghiệm HIV như là một điều kiện tiền đề cho việc tuyển dụng sẽ được coi là
phạm pháp (b
ất cứ hình thức nào từ trước khi tuyển dụng đến sau khi được tuyển dụng dựa
trên cơ sở tình trạng HIV của một cá nhân trên thực tế, do cảm nhận hay nghi ngờ đều hoàn
toàn bị nghiêm cấm). Hành động buộc thôi việc chỉ dựa trên cơ sở tình trạng nhiễm HIV trên
thực tế, do cảm nhận được hay nghi ngờ bị coi là bất hợp pháp. Đạo luật cũng tập trung giải
quyế
t các vấn đề liên quan đến HIV/AIDS theo Quy tắc thực hành của ILO như sàng lọc, tư
vấn, dịch vụ y tế và hỗ trợ v.v
Tại Campuchia, “Luật về phòng chống và kiểm soát HIV/AIDS” có các điều khoản đề cập
trực tiếp đến vấn đề phòng chống và kiểm soát HIV/AIDS tại nơi làm việc. Ví dụ như Điều 9
của Luật này quy định chương trình giáo dục, gồm những chủ đề
về bảo mật thông tin cá
nhân và thái độ đối với người lao động và công nhân nhiễm HIV/AIDS tại nơi làm việc, phải
được xây dựng, và kế hoạch phòng chống và kiểm soát HIV/AIDS tại tất cả các cơ quan/tổ
chức và các doanh nghiệp phải được thực hiện với sự hỗ trợ từ Cơ quan quốc gia về phòng
chống AIDS. Một số các điều khoản khác, mặc dù không trực tiếp quy định nhữ
ng vấn đề
liên quan đến nơi làm việc nhưng nhìn chung đều tuân theo Quy tắc thực hành của ILO. Ví
dụ, Điều 8 của Luật này đề cập đến các nguyên nhân, hình thức lây truyền, công cụ phòng
chống và hậu quả của bệnh dịch HIV/AIDS. Những thông tin này cần phải được cung cấp
cho tất cả người lao động, các cán bộ ngoại giao, nhân viên dân sự v.v. Hơn thế nữa, Chương
IV về “Xét nghiệm và tư vấn” và Chươ
ng V về “Dịch vụ y tế và hỗ trợ” cũng tuân theo các
nguyên tắc trong Quy tắc thực hành của ILO. Đặc biệt, trong khi Điều 19 đã khẳng định rằng
tất cả các xét nghiệm HIV sẽ phải được tiến hành với sự tự nguyện và phải được sự đồng ý
14
của các cá nhân thì Điều 20 quy định rõ việc bắt buộc xét nghiệm HIV như là một điều kiện
tiền đề cho công tác tuyển dụng là bị nghiêm cấm. Điều 21 quy định cho phép xét nghiệm
HIV bắt buộc trong trường hợp có lệnh của tòa án.
Tại Papua New Guinea, “Đạo luật về phòng chống và quản lý dịch bệnh HIV/AIDS 2003” và
“Dự luật bổ sung về y tế cộng đồng (2003)” chỉ rõ tầm quan trọng đối v
ới việc quy định trách
nhiệm của cả người người sử dụng lao động và người lao động nhằm giải quyết thỏa đáng bất
cứ một vấn đề về sức khỏe nào, trong đó bao gồm cả sự lây nhiễm HIV/AIDS tại nơi làm
việc. Điều 6 của Đạo luật quy định, kỳ thị và phân biệt đối xử đối với những người b
ị nhiễm
HIV là bất hợp pháp. Điều 7 của Đạo luật xác định sự phân biệt đối xử bất hợp pháp là sự
phân biệt đối xử tại nơi làm việc, trong quan hệ hợp tác, giáo dục và đào tạo, trong việc là
thành viên của các tổ chức chuyên môn, các câu lạc bộ và các tổ chức thể thao. Theo điều
khoản này, việc không cho phép một người do người đó bị nhiễm HIV được tuyể
n dụng,
thăng chức, giáo dục và đào tạo chuyên sâu, hay được chấp nhận là thành viên của một câu
lạc bộ hoặc một tổ chức là một hành vi phạm pháp.
4. KỲ THỊ VÀ PHÂN BIỆT ĐỐI XỬ LIÊN QUAN ĐẾN HIV/AIDS TẠI VIỆT
NAM
4.1 Sơ lược về tình hình dịch bệnh HIV/AIDS tại Việt Nam
Kể từ trường hợp nhiễm HIV đầu tiên được phát hiện vào tháng 12/1990 đến tháng 07/2003,
theo báo cáo số tích lũy những người bị nhiễm HIV ở Việt Nam là 69.495 người, trong đó
10.541 người đã chuyển sang giai đoạn AIDS và 4.694 người đã bị chết (Bộ Y tế, 2003). Bộ
Y tế ước tính tỉ lệ nhiễm HIV hiện nay ở Việt Nam trung bình là 0.25%/năm, trong đó tại một
số khu vực, tỉ lệ này ở m
ức báo động cao (543 người/100.000 dân tại Quảng Ninh; 306
người/100.000 dân tại Hải Phòng; 234 người/100.000 dân tại Tp. Hồ Chí Minh) (Bộ Y tế,
2003). Theo dự báo, vào năm 2005, sẽ có khoảng 197.500 người nhiễm HIV tại Việt Nam.
Tính trung bình, mỗi năm ở Việt Nam sẽ có thêm từ 12.000 – 18.000 trường hợp mới bị
nhiễm bệnh HIV. Đến năm 2010, ở Việt Nam sẽ có khoảng 351.000 người bị nhiễm HIV.
Bảng 1 - Số tích luỹ các ca nhiễm HIV/AIDS và số ca tử
vong vì AIDS giai đoạn 2003 –
2010
Năm
2003 2004 2005 2006 2007 2008 2009 2010
HIV
165.444 185.757 197.500 207.375 256.185 284.277 315.568 350.970
AIDS
30.755 39.340 48.864 59.400 70.941 83.516 97.175 112.227
Tử vong
27.135 35.407 44.102 54.132 65.171 77.228 90.346 104.701
Nguồn: Bộ Y tế, 2003
.
Mặc dù dịch HIV vẫn tập trung chủ yếu trong các nhóm tiêm chích ma tuý (IDU) (chiếm
khoảng 60% số người nhiễm bệnh), gái mại dâm và nam giới đồng tính luyến ái, dịch có xu
hướng tăng lên ở giới trẻ và sự lan truyền nhanh là một nguy cơ lớn đối với cộng đồng. Trong
số các trường hợp được xác định nhiễm HIV cuối năm 2002, tỉ lệ nhiễm HIV ở độ tuổi từ 10
- 19 là 10,1% và ở mức 55%
đối với nhóm có độ tuổi từ 20 - 29. Tỉ lệ nhiễm HIV trong nhóm
bệnh nhân STD đã gia tăng trong những năm qua lên mức 2,9% vào năm 2001. Tỉ lệ thanh
niên trẻ nhiễm HIV qua kiểm tra sức khỏe để thực hiện nghĩa vụ quân sự năm 2001 là 0,93%
và tỉ lệ phụ nữ mang thai nhiễm HIV là 0,39% (Bộ Y tế, 2003).
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét