Khoá luận tốt nghiệp
Ngoài ra còn có thử nghiệm kép mục đích là các thử nghiệm nghiệp vụ
hướng tới đồng thời hai mục tiêu: sai sót về kiểm soát và tài chính. Loại thử
nghiệm này thường gặp trong thực tế vì đều phải kiểm tra tài liệu khi thực
hiện hai loại thử nghiệm này.
Khi tiến hành kiểm toán để thu được những bằng chứng phục vụ cho
việc đưa ra ý kiến về tính trung thực và hợp lý của các BCTC thì ngay từ đầu
KTV phải kết hợp một cách thích hợp các loại trắc nghiệm đã trình bày trên.
Trước hết KTV đánh giá về tính hiệu lực của hệ thống kiểm soát nội bộ của
khách hàng thông qua thử nghiệm kiểm soát. Trong giai đoạn này thủ tục
phân tích góp phần quan trọng giúp KTV hiểu được bản chất nghiệp vụ kinh
doanh, các khoản mục.Thực chất thủ tục phân tích là một loại thử nghiệm cơ
bản, giữa thủ tục phân tích và kiểm tra chi tiết có mối quan hệ rất chặt chẽ.
Thủ tục phân tích thường được thực hiện trước khi thực hiện kiểm tra chi tiết
nhằm khoanh vùng rủi ro, xác định những khoản mục cần tập trung kiểm tra.
Như vậy thủ tục phân tích giúp giảm bớt công việc công việc kiểm tra chi tiết,
giúp tiết kiệm thời gian và công sức, nâng cao hiệu quả kiểm toán. Trên thực
tế KTV đôi khi chỉ sử dụng thủ tục phân tích có thể thu thập được bằng chứng
rất đầy đủ và thuyết phục, nó đặc biệt hiệu quả với những khoản mục có mức
rủi ro thấp. Đối với những khách hàng mà có quy mô nhỏ, các nghiệp vụ phát
sinh ít thì kiểm tra chi tiết thường được sử dụng nhiều…Nhìn chung để đảm
bảo chất lượng kiểm toán KTV cần phải vận dụng linh hoạt các phương pháp
kiểm toán trong từng hoàn cảnh cụ thể.
1.2. Lý luận chung về thủ tục phân tích trong kiểm toán báo cáo tài chính
1.2.1. Khái niệm về thủ tục phân tích
Thủ tục phân tích là một công cụ hữu dụng để đưa ra các quyết định khi
báo cáo tài chính có chứa các mối quan hệ cũng như những khoản mục bất
Lê Thị Tình Lớp: Kiểm toán 46B
5
Khoá luận tốt nghiệp
thường. Thủ tục phân tích có thể được tiến hành từ việc so sánh một cách cơ
bản các khoản mục đơn giản đến các thủ tục phức tạp có mối quan hệ.
Có rất nhiều cách định nghĩa khác nhau về thủ tục phân tích trong kiểm
toán tài chính.
Theo chuẩn mực Kiểm Toán Quốc Tế số 56 “Thủ tục phân tích là quá
trình đánh giá thông tin tài chính được thực hiện thông qua việc nghiên cứu
các mối quan hệ đáng tin cậy giữa các chỉ tiêu tài chính và phi tài chính…bao
gồm cả quá trình so sánh số liệu phản ánh trên sổ sách với số liệu ước tính
của kiểm toán viên”.
Theo chuẩn mực Kiểm Toán Viêt Nam số 520 “Thủ tục phân tích là việc
phân tích các số liệu, thông tin, tỷ suất quan trọng, qua đó tìm ra những xu
hướng biến động và tìm ra mối quan hệ có mâu thuẫn với thông tin có liên
quan hoặc có sự chênh lệch so với giá trị dự kiến”.
Tóm lại thủ tục phân tích trong kiểm toán BCTC là quá trình dự đoán,
đánh giá, so sánh các mối quan hệ để xác định tính hợp lý của số dư các
khoản mục trên các khía cạnh khác nhau. Trong đó:
• Dự đoán: Là việc kiểm toán viên uớc đoán về số dư tài khoản, xu
hướng liên quan đến dữ kiện về tài chính và hoạt động.
• So sánh: Là việc kiểm toán viên thực hiện so sánh thông tin tương
ứng kỳ này với kỳ trước, với số bình quân ngành và với số ước tính của KTV.
• Đánh giá: Bằng trình độ, kiến thức chuyên môn nghiệp vụ KTV
phân tích đưa ra kết luận về các chênh lệch xảy ra và giải thích các chênh lệch
khi so sánh.
Thủ tục phân tích là một trong những thủ tục kiểm toán quan trọng nó là
một công cụ hữu dụng để thu thập bằng chứng kiểm toán và giảm chi phí tới
mức có thể. Thủ tục phân tích có mối quan hệ mật thiết với các thủ tục kiểm
toán khác. Ngay trong giai đoạn lập kế hoạch kiểm toán thì KTV đánh giá
Lê Thị Tình Lớp: Kiểm toán 46B
6
Khoá luận tốt nghiệp
tính hiệu lực, hiệu quả của hệ thống kiểm soát nội bộ của khách hàng, thử
nghiệm kiểm soát tỏ ra rất hữu dụng. Tuy nhiên, thủ tục phân tích thường
được áp dụng trong đoạn này để tìm hiểu và đánh giá việc thực hiện quy chế
kinh doanh của khách hàng từ đó giúp KTV hiểu được bản chất nghiệp vụ
kinh doanh của khách hàng, khoanh vùng rủi ro. Thủ tục phân tích và kiểm tra
chi tiết cũng có mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Kiểm tra chi tiết được sử dụng
để kiểm tra các khoản mục và đưa ra kết luận về độ tin cậy của khoản mục
đó.Thủ tục phân tích đi sâu tìm hiểu về các khoản mục trong mối quan hệ với
nhiều yếu tố khác nhau. Thủ tục phân tích thường tiết kiệm chi phí hơn so với
kiểm tra chi tiết. Trên thực tế đôi khi chỉ cần dùng thủ tục phân tích KTV đã
có thể thu được bằng chứng đầy đủ, thuyết phục.
Trong quá trình thực hiện quy trình phân tích, tuỳ vào tình hình cụ thể
của từng khách hàng KTV có thể lựa chọn phương pháp phân tích (phân tích
giản đơn như thực hiện so sánh đơn giản đến những phân tích phức tạp đòi
hỏi sử dụng các kỹ thuật thống kê tiên tiến), mức độ áp dụng (đối với BCTC
hợp nhất, BCTC của từng đơn vị thành viên, từng thông tin riêng lẻ của từng
báo cáo) một cách linh hoạt dựa vào óc phán đoán nghề nghiệp của KTV.
1.2.2.Phân loại thủ tục phân tích
Có nhiều cách phân loại thủ tục phân tích khác nhau, tuy nhiên cách
phân loại thông dụng nhất là chia thủ tục phân tích ra thành 3 loại:
Kiểm tra tính hợp lý: Kiểm tra tính hợp lý có thể là những so sánh đơn
giản như so sánh với số kỳ trước, số liệu kế hoạch, số bình quân của ngành, so
sánh với số ước tính của KTV và nghiên cứu mối quan hệ giữa các thông tin
tài chính và thông tin phi tài chính nhằm giúp KTV phát hiện những sai sót
trong BCTC hoặc các biến động lớn trong tình hình sản xuất kinh doanh của
đơn vị.
Lê Thị Tình Lớp: Kiểm toán 46B
7
Khoá luận tốt nghiệp
Phân tích xu hướng: là việc phân tích các biến động của số dư một tài
khoản hay một nhóm các nghiệp vụ nhất định của kỳ này so với kỳ trước hay
qua một vài kỳ kế toán (Kiểm tra tính hợp lý chỉ bao gồm việc phân tích
những biến động trong một kỳ kế toán). Qua đó KTV đạt được sự hiểu biết về
nguyên nhân gây nên xu hướng biến động của số dư tài khoản hay nhóm
nghiệp vụ. Dựa vào đó KTV có thể ước tính ra số liệu của năm hiện tại dựa
trên xu hướng biến động và những hiểu biết về các giao dịch hiện tại của
khách hàng. Từ đó KTV so sánh số ước tính với số ghi sổ để nhận diện những
sai phạm tiềm tàng.
Phân tích tỷ suất: Là cách thức so sánh số dư tài khoản hoặc những loại
hình nghiệp vụ. Phân tích tỷ suất cũng giúp so sánh tính hợp lý về tình hình
tài chính của công ty so với công ty khác hoạt động trong ngành hay tập đoàn.
KTV có thể phân tích các biến động về tỷ suất trong doanh nghiệp theo thời
gian hay phân tích tỷ suất của các doanh nghiệp khác nhau hay các bộ phận
khác nhau bên trong doanh nghiệp. Trong thực tế KTV thường sử dụng các
nhóm tỷ suất sau:
Nhóm tỷ suất về khả năng thanh toán: tỷ suất khả năng thanh toán hiện
thời, tỷ suất thanh toán nhanh, tỷ suất thanh toán chung.
Nhóm tỷ suât về hoạt động: tỷ suất vòng quay khoản phải thu, vòng quay
hàng tồn kho, tỷ suất lợi tức tổng tài sản…
Nhóm tỷ suất đòn bẩy: Tỷ suất nợ, tỷ suất tài trợ, tỷ suất nợ trên vốn cổ
phần
Nhóm tỷ suất lợi nhuận: Tỷ suất lãi gộp, tỷ suất lãi ròng, tỷ suất lãi từ
hoạt động kinh doanh…
Các nhóm tỷ suất này sẽ được trình bày cụ thể trong phần phụ lục 1
Lê Thị Tình Lớp: Kiểm toán 46B
8
Khoá luận tốt nghiệp
1.2.3. Các nhân tố ảnh hưởng đến việc vận dụng thủ tục phân tích trong
kiểm toán báo cáo tài chính
Có rất nhiều nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả của việc vận dụng thủ tục
phân tích trong kiểm toán BCTC:
Tính trọng yếu của các tài khoản, loại nghiệp vụ: Đối với những khoản
mục được cho là trọng yếu thì không chỉ dừng lại ở quy trình phân tích mà
còn phải thực hiện thủ tục kiểm tra chi tiết.
Đánh giá rủi ro tiềm tàng và rủi ro kiểm soát: Hoạt động hiệu quả của
hệ thống kiểm soát nội bộ sẽ ảnh hưởng đến độ tin cậy của thông tin tài chính
mà khách hàng cung cấp phục vụ cho việc tính toán, phân tích của KTV. Đối
với những khoản mục hay phân hành nào đó được đánh giá là kiểm soát nội
bộ của khách hàng kém thì nên dựa vào kiểm tra chi tiết hơn là thủ tục phân
tích.
Nguồn dữ liệu sử dụng: Bao gồm dữ liệu thu thập từ khách hàng, từ
kiểm toán viên, từ bên thứ ba có liên quan…Mức độ tin cậy, chính xác càng
cao thì mức độ tin cậy của thủ tục phân tích càng cao. Mức độ tin cậy của dữ
liệu ảnh hưởng bởi các yếu tố: khả năng có thể so sánh, bản chất và tính liên
quan của dữ liệu sử dụng, sự trung thực của bên thứ ba cung cấp…
Các thủ tục kiểm toán có cùng mục tiêu kiểm toán. Ví dụ thủ tục kiểm
tra nghiệp vụ thu tiền sau ngày khoá sổ của các khoản phải thu sẽ khẳng định
hay phủ nhận kết quả của thủ tục phân tích nợ phải thu theo thời hạn.
Trình độ kinh nghiệm của KTV: Thủ tục phân tích có được vận dụng
hiệu quả hay không phụ thuộc rất nhiều vào trình độ của KTV để nhận diện ra
những vấn đề tiềm ẩn khi phát hiện ra những biến động bất thường. Hơn nữa
Lê Thị Tình Lớp: Kiểm toán 46B
9
Khoá luận tốt nghiệp
việc lựa chọn mô hình phân tích phù hợp đối với từng khách hàng cụ thể cũng
phụ thuộc vào quyết định của KTV.
1.2.4. Mục đích, ý nghĩa của thủ tục phân tích trong kiểm toán báo cáo
tài chính
Thủ tục phân tích rất quan trọng trong mọi cuộc kiểm toán. Theo chuẩn
mực kiểm toán Việt Nam số 520, thủ tục phân tich sử dụng cho các mục đích
sau:
+ Giúp KTV xác định nội dung, lịch trình, phạm vi của thủ tục kiểm toán
khác. Đối với những khoản mục phát hiện thấy có những dấu hiệu bất thường
cần tập trung kiểm tra chi tiết, tránh sa đà.
+ Thủ tục phân tích được thực hiện như là thử nghiệm cơ bản khi việc sử
dụng thủ tục này có hiệu quả hơn so với kiểm tra chi tiết trong việc giảm bớt
rủi ro phát hiện liên quan đến cơ sở dẫn liệu của BCTC.
+ Quy trình phân tích được dùng để kiểm tra toàn bộ các BCTC trong
khâu soát xét cuối cùng của cuộc kiểm toán.
Thủ tục phân tích được vận dụng trong mỗi giai đoạn của cuộc kiểm
toán có những ý nghĩa nhất định. Trong giai đoạn lập kế hoạch kiểm toán thủ
tục phân tích giúp KTV xác định các biến động về tình hình kinh doanh của
khách hàng, từ đó rút ra những xu hướng quan trọng, xác định những biến
động bất thường có thể ảnh hưởng đến kế hoạch kiểm toán. Như vậy trong
giai đoạn lập kế hoạch kiểm toán thủ tục phân tích giúp KTV khoanh vùng rủi
ro và xác định thời gian, thủ tục kiểm toán cần thực hiện. Trong giai đoạn
thực hiện kiểm toán thủ tục phân tích giúp hạn chế tối đa các cuộc khảo sát
chi tiết bởi vì khi một thể thức phân tích không làm nổi bật các dao động bất
thường thì khả năng sai sót là rất nhỏ. KTV sẽ tập trung vào những biến động
bất thường do đó giúp giảm bớt thời gian và chi phí mà vẫn đảm bảo hiệu quả
cho cuộc kiểm toán. Kết thúc kiểm toán thủ tục phân tích được sử dụng để
Lê Thị Tình Lớp: Kiểm toán 46B
10
Khoá luận tốt nghiệp
đánh giá tổng quát toàn bộ số liệu đã được kiểm toán nhằm khẳng định thêm
cho kết luận kiểm toán hoặc quyết định các thủ tục kiểm toán bổ sung nếu cần
thiết.
Như vậy thủ tục phân tích là một thủ tục kiểm toán rất quan trọng. Để có
thể đưa ra ý kiến đối với BCTC của khách hàng với mức chi phí hợp lý thì
các công ty kiểm toán phải nâng cao hiệu quả trong việc áp dụng thủ tục phân
tích trong kiểm toán BCTC.Theo kết luận của Hội đồng Chuẩn mực Kiểm
Toán Quốc Tế “Các thể thức phân tích có tầm quan trọng đến nỗi chúng được
quy định cho tất cả cuộc kiểm toán. Đối với một số mục tiêu kiểm toán nhất
định hoặc số dư các tài khoản nhỏ, chỉ cần thủ tục phân tích thôi cũng đủ
bằng chứng”
1.3.Vận dụng thủ tục phân tích trong các giai đoạn của kiểm toán báo
cáo tài chính
1.3.1. Lập kế hoạch kiểm toán
Lập kế hoạch kiểm toán là giai đoạn đầu tiên cần thực hiện trong mỗi
cuộc kiểm toán nhằm tạo điều kiện pháp lý cũng như điều kiện cần thiết cho
cuộc kiểm toán. Lập kế hoạch kiểm toán giúp KTV thu thập các bằng chứng
đầy đủ và có giá trị cho các tình huống, phối hợp hiệu quả giữa các KTV và
với các bộ phận có liên quan để giữ chi phí ở mức thấp nhất, là căn cứ để giúp
công ty kiểm toán tránh những bất đồng với công ty khách hàng, là căn cứ
kiểm soát chất lượng công việc kiểm toán đang thực hiện…
Trong giai đoạn lập kế hoạch kiểm toán, thủ tục phân tích được sử
dụng với những mục đích sau:
Thứ nhất, Thu thập những hiểu biết về nội dung các BCTC và những
biến đổi quan trọng về kế toán và hoạt động kinh doanh của khách hàng vừa
mới diễn ra lần trước, từ đó KTV có thế nhận biết khả năng tồn tại sai phạm
tiềm tàng trên BCTC của doanh nghiệp. Sự khác biệt giữa giá trị trên sổ với
Lê Thị Tình Lớp: Kiểm toán 46B
11
Khoá luận tốt nghiệp
những giá trị dùng để so sánh ( số bình quân ngành, số ước tính của KTV…)
thường được xem là những biến động bất thường, nó chỉ ra khả năng hiện
diện của các sai sót trong kế toán hoặc không tuân thủ các quy tắc đề ra. Do
vậy nếu các chênh lệch đáng kể KTV cần chú trọng vào việc kiểm tra chi tiết
các khoản mục có dấu hiệu bất thường để tìm ra nguyên nhân.
Thứ hai, Thực hiện thủ tục phân tích nhằm xác định rủi ro kinh doanh
mà khách thể gặp phải, vấn đề nghi ngờ về khả năng hoạt động liên tục của
khách hàng. Nguy cơ rắc rối về tài chính phải được KTV quan tâm trong việc
ước lượng rủi ro kiểm toán cũng như mối quan hệ với giả thiết về hoạt động
liên tục của Ban Giám Đốc trong quá trình lập BCTC. KTV có thể tính toán
các tỷ suất về khả năng thanh toán của khách hàng để xem xét khả năng thanh
toán các khoản nợ đến hạn của công ty, bên cạnh đó cần xem xét tỷ suất khả
năng sinh lời…
Ngoài ra, các thể thức phân tích thực hiện trong lập kế hoạch kiểm toán
còn giúp cho việc xác định bản chất, phạm vi và thời hạn công việc phải hoàn
thành. Việc thực thi các thể thức phân tích trog giai đoạn này giúp KTV nhận
diện những vấn đề quan trọng cần quan tâm đặc biệt trong cuộc kiểm toán
Trong giai đoạn lập kế hoạch, KTV thực hiện thủ tục phân tịch thông qua
3 bước chính sau:
Bước 1: Thu thập thông tin tài chính và thông tin phi tài chính
BCTC của khách hàng không chỉ bị ảnh hưởng bởi những thông tin tài
chính mà còn chịu tác động bởi các thông tin phi tài chính. KTV cần thu thập
đầy đủ các thông tin liên quan đến hoạt động của doanh nghiệp. Các thông tin
đó bao gồm:
- Các thông tin về nghĩa vụ pháp lý như giấy phép thành lập, giấy
phép đầu tư, điều lệ công ty, các hợp đồng…
Lê Thị Tình Lớp: Kiểm toán 46B
12
Khoá luận tốt nghiệp
- Các thông tin về tình hình kinh doanh: Các báo cáo, các thay đổi
trong môi trường kinh doanh ( nhà cung cấp, đối thủ cạnh tranh…) và môi
trường công nghệ…
- Thông tin về hệ thống kiểm soát nội bộ: Điều lệ, sơ đồ tổ chức bộ
máy quản lý, biên bản họp hội đồng quản trị, bộ máy kế toán…
Đối với các khách hàng hoạt động trong lĩnh vực khác nhau hoặc có
nhiều chi nhánh thì KTV cần thu thập thông tin đối với mỗi đơn vị hoạt động
quan trọng. Ngoài ra KTV còn tiến hành thu thập các thông tin về năng lực
sản xuất, số nhân viên, số lượng mua và bán. Các thông tin này được sử dụng
để xác định sự phủ hợp của số liệu trên BCTC của khách hàng với hiểu biết
của KTV về hoạt động kinh doanh của khách hàng.
Thu thập thông tin phải đảm bảo KTV đạt được sự hiểu biết về nội dung
của BCTC, những thay đổi quan trọng về kế toán và hoạt động kinh doanh
của khách hàng.
Bước 2: Phân tích và so sánh thông tin thu được
Sau khi thu thập được các thông tin cần thiết, KTV tiến hành so sánh,
phân tích (thông thường là các thông tin tài chính sơ bộ năm nay và thông tin
tài chính năm trước) nhằm xác định các vùng có thể xảy ra rủi ro. Các công
việc thường được thực hiện là:
* Rà soát qua các số liệu
KTV có thể rà soát sơ bộ số liệu trên BCĐKT, BCKQKD ban đầu do
khách hàng cung cấp để phát hiện những dấu hiệu bất thường thông qua các
mối quan hệ giữa các khoản mục. Thủ tục này có thể được áp dụng cho thông
tin tài chính theo từng quý.
* So sánh số dư các tài khoản
KTV tiến hành so sánh số dư các tài khoản năm nay (trên BCĐKT,
BCKQKD ban đầu do khách hàng cung cấp) với số dư năm trước hoặc số dự
Lê Thị Tình Lớp: Kiểm toán 46B
13
Khoá luận tốt nghiệp
toán, số liệu chung của ngành để giúp KTV nhận diện được những biến động
bất thường cần quan tâm trong giai đoạn thực hiện kiểm toán.
* Phân tích dòng tiền
Thông tin dùng để phân tích có thể lấy từ báo cáo lưu chuyển tiền tệ của
khách hàng. Trong giai đoạn ban đầu phần lớn các công ty đều có dòng tiền
âm từ hoạt động kinh doanh, dòng tiền từ hoạt động tài chính và dòng tiền để
đầu tư. Trong giai đoạn tăng trưởng ổn định công ty nên cân bằng dòng tiền
từ 3 hoạt động. Trong thời kỳ suy thoái, dòng tiền từ hoạt động kinh doanh
vẫn dương nhưng có thể giảm, hoạt động đầu tư chậm lại và tạo ra dòng tiền
dương…
* Phân tích tỷ suất
Để đạt được sự hiểu biết tốt hơn về khách hàng trong giai đoạn lập kế
hoạch kiểm toán KTV sử dụng các tỷ suất tài chính
Các tỷ suất tài chính thường dùng để đánh giá tình hình tài chính của
doanh nghiệp trong giai đoạn này là:
Nhóm tỷ suất khả năng thanh toán
+ Tỷ suất thanh toán hiện hành = TS lưu động/ Vay nợ ngắn hạn
+ Tỷ suất khả năng thanh toán nhanh = TS có khả năng thanh toán
nhanh/ Vay nợ ngắn hạn
+ Tỷ suất khả năng thanh toán tức thời = Tiền + tương đương tiền/ Vay
nợ ngắn hạn.
Nhóm tỷ suất khả năng sinh lời
+ Tỷ suất thu hồi VCSH = Lợi nhuận từ hoạt động kinh doanh/VCSH
+ Tỷ suất lợi nhuận gộp (ròng) = Lợi nhuận gộp (ròng)/Doanh thu
Nhóm tỷ suất về khả năng hoạt động
+ Hệ số vòng quay hàng tồn kho = Gía vồn hàng bán/ HTK trung bình
Lê Thị Tình Lớp: Kiểm toán 46B
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét