Thứ Bảy, 15 tháng 2, 2014

242621

Ở Việt Nam gần đây, cùng với sự ra đời của môn chính trị học,
phạm trù quyền lực, quyền lực chính trị đã được đặt ra và có những lý giải
bước đầu.
Với ý nghĩa chung nhất, quyền lực là cái mà nhờ đó người khác
phải phục tùng. Trong ý nghĩa như vậy, quyền lực ra đời và tồn tại cùng với
sự ra đời và tồn tại của con người. Bởi vì, hoạt động phối hợp, hoạt động
chung mang tính cộng đồng là cái vốn có trong hoạt động của con người.
Bất kỳ hoạt động chung nào cũng cần có người tổ chức, người chỉ huy và
kẻ phục tùng - Cái vốn tạo thành nội dung sơ khai cũng như nội dung hiện
đại của phạm trù quyền lực.
1.1.2. Quyền lực chính trị
Trong xã hội, có vô vàn quyền lực khác nhau, trong đó quyền lực
chính trị chỉ ra đời khi xã hội xuất hiện giai cấp và nhà nước. Xã hội ngày
càng phát triển, quyền lực chính trị ngày càng phong phú, phức tạp và tác
động sâu sắc đến đời sống của mỗi con người và cộng đồng người.
Quyền lực chính trị là quyền lực của một giai cấp hay của liên minh
giai cấp, tập đoàn xã hội (hoặc của nhân dân - trong điều kiện CNXH), nó
nói lên khả năng của một giai cấp thực hiện lợi ích của mình.
Mác - Ăngghen đã chỉ ra rằng: "Quyền lực chính trị theo nguyên
nghĩa của nó, là bạo lực có tổ chức của một giai cấp để trấn áp giai cấp khác"
(1)
.
Là một bộ phận quyền lực trong xã hội có giai cấp, quyền lực chính
trị bao giờ cũng mang tính giai cấp. Nó luôn mang tính thống nhất về cơ
bản trong sự biểu hiện ra bên ngoài của mình: Trong quan hệ nội bộ của
giai cấp hay liên minh giai cấp, quyền lực chính trị có thể chứa đựng những
mâu thuẫn, thậm chí cả những đối kháng. Quyền lực chính trị của giai cấp
cầm quyền được tổ chức thành nhà nước. Do vậy xét về bản chất, quyền
lực nhà nước là quyền lực của giai cấp thống trị. Nó được thực hiện bằng
(
1) Mác - Ăngghen, To n tà ập, Tập 4, Nxb Chính trị quốc gia, H Nà ội, 1995, tr. 628.
5
cả một hệ thống chuyên chính do giai cấp đó lập ra. Cho nên quyền lực nhà
nước được thực hiện bằng nhiều công cụ khác nhau.
Là bộ phận quan trọng nhất của quyền lực chính trị, sự thay đổi căn
bản của quyền lực Nhà nước bằng việc chuyển chính quyền nhà nước từ
tay giai cấp này sang giai cấp khác sẽ trực tiếp dẫn tới thay đổi căn bản tính
chất chế độ chính trị. Bất kỳ quyền lực nhà nước nào cũng mang tính chính
trị, nhưng không phải mọi quyền lực chính trị đều mang tính nhà nước. So
với quyền lực nhà nước, quyền lực chính trị rộng hơn về dung lượng, đa
dạng hơn về phương pháp và hình thức biểu hiện.
Xuất phát từ điều kiện lịch sử cụ thể ở nước ta và phù hợp với yêu
cầu cơ bản của nền dân chủ XHCN: "Mọi quyền lực thuộc về nhân dân",
Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ được Đại hội Đảng
toàn quốc lần thứ VII thông qua và Hiến pháp 1992 đã khẳng định sự thống
nhất của quyền lực nhà nước đối với sự phân công và phối hợp chặt chẽ các
cơ quan nhà nước khác nhau để thực hiện quyền lập pháp, hành pháp và tư
pháp.
1.2. Hệ thống chính trị, hệ thống chính trị XHCN
Trước đây, trong các tác phẩm của mình, Mác - Ăngghen - Lênin
không dùng khái niệm hệ thống chính trị. Các ông có nhiều cách nói như:
hình thức chính trị, thiết chế chính trị, thể chế chính trị và xã hội, cơ cấu
chính trị
Theo các tác giả đề tài KX.05-01, có thể xem khái niệm cơ cấu
chính trị mà các ông dùng tương đương với khái niệm hệ thống chính trị
mà chúng ta sử dụng ngày nay.
Ở Việt Nam, lần đầu tiên, khái niệm hệ thống chính trị được sử
dụng trong Văn kiện Hội nghị Trung ương 7, khóa VI (1990), tiếp đó là
Văn kiện Đại hội Đảng khóa VII. Đến nay khái niệm này đang được sử
6
dụng rộng rãi. Tuy nhiên hiện nay, có một số quan niệm khác nhau về "hệ
thống chính trị".
Quan niệm thứ nhất: Xem hệ thống chính trị chỉ bao gồm những tổ
chức chính trị - xã hội mang bản chất của giai cấp cầm quyền, hoặc là phục
vụ cho quyền lực chính trị của giai cấp đó. Với cách hiểu như vậy, "hệ
thống chính trị" chỉ là cách gọi khác của phạm trù "hệ thống chuyên chính
của giai cấp cầm quyền". Đó là những phạm trù đồng nhất - xét về ngoại
diên và nội hàm của chúng. Hệ thống chính trị trong CNTB chính là hệ
thống chuyên chính tư sản. Hệ thống chính trị trong CNXH là hệ thống
chuyên chính vô sản.
Quan niệm thứ hai: Xem hệ thống chính trị là một phạm trù có
ngoại diên rộng hơn so với phạm trù hệ thống chuyên chính của giai cấp
cầm quyền. Trong hệ thống chính trị, ngoài hệ thống chuyên chính của giai
cấp cầm quyền với tư cách là bộ phận cơ bản, quan trọng nhất, quy định
bản chất và chức năng cơ bản của toàn bộ hệ thống, còn có các tổ chức, các
thiết chế chính trị hợp pháp khác.
Phù hợp với quan điểm này, hệ thống chính trị được hiểu là một
phạm trù dùng để chỉ một chỉnh thể bao gồm nhà nước, các đảng phái
chính trị hợp pháp, những ưu thế cơ bản và vai trò chủ đạo thuộc về các
thiết chế của giai cấp cầm quyền để tác động vào các quá trình kinh tế - xã
hội nhằm củng cố, duy trì và phát triển chế độ xã hội đương thời. Như vậy, ta
có thể hiểu:
- Hệ thống chính trị là một bộ phận của kiến trúc thượng tầng xã
hội, bao gồm các tổ chức, các thiết chế hợp pháp, có mục đích và chức
năng thực hiện hoặc tham gia thực hiện quyền lực chính trị.
- Hệ thống chính trị XHCN là một chỉnh thể bao gồm Nhà nước
chuyên chính vô sản, Đảng cộng sản cùng các tổ chức chính trị - xã hội hợp
7
pháp, mối quan hệ qua lại giữa các yếu tố đó nhằm bảo đảm quyền lực của
nhân dân.
- Hệ thống chính trị Việt Nam được xác định bao gồm: Nhà nước
Đảng Cộng sản Việt Nam, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể quần chúng là
Công đoàn, Đoàn thanh niên, Hội phụ nữ, Hội nông dân
Hiệu quả của việc thực hiện quyền lực của nhân dân phụ thuộc vào
sự hoàn thiện của các nhân tố nêu trên, phụ thuộc vào tính đúng đắn trong
mối quan hệ qua lai giữa các nhân tố đó. Bởi vậy, trong các Văn kiện của
Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VII, VIII, IX đã khẳng định sự cần thiết
phải đổi mới hệ thống chính trị như là một trong những điều kiện cần thiết
để bảo đảm quyền làm chủ của nhân dân.
II. QUYỀN LỰC CHÍNH TRỊ CỦA NHÂN DÂN LAO ĐỘNG TRONG
TIẾN TRÌNH ĐỔI MỚI HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ Ở NƯỚC TA HIỆN NAY
2.1. Quyền lực chính trị của nhân dân lao động trong thời kỳ
quá độ lên CNXH là gì?
Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, nhân dân là cội nguồn
của quyền lực chính trị. Tuy nhiên trên thực tế, để quyền lực ấy thuộc về
nhân dân lao động, phải trải qua một quá trình lâu dài, gian khổ.
Lần đầu tiên trong lịch sử, chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ
Chí Minh đã có quan niệm đúng đắn về nhân dân: Quần chúng nhân dân là
số đông bị trị so với thiểu số là giai cấp thống trị. Tất cả các giai cấp thống
trị trước đây đều là những nhóm thiểu số nhỏ bé so với quần chúng nhân
dân bị thống trị.
Chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh đã chỉ ra vai trò
to lớn của quần chúng nhân dân: Họ là người sản xuất ra của cải vật chất,
sáng tạo ra những giá trị tinh thần, quần chúng nhân dân là lực lượng cơ
bản của mọi cuộc cách mạng xã hội.
8
Xuất phát từ lý luận trên, tổng kết kinh nghiệm cách mạng nước ta,
Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI chỉ rõ: "Trong toàn bộ hoạt động của
mình, Đảng phải quán triệt tư tưởng lấy dân làm gốc". "Mọi chủ trương,
chính sách của Đảng phải xuất phát từ lợi ích, nguyện vọng và khả năng
của nhân dân lao động, phải khơi dậy được sự đồng tình, hưởng ứng của
quần chúng"
(1)
.
Trong thời kỳ quá độ lên CNXH ở nước ta, quyền lực chính trị của
nhân dân lao động là khả năng nhân dân lao động nhằm thực hiện lợi ích
khách quan của mình, đồng thời đem lại lợi ích cần thiết cho các giai cấp
và tầng lớp khác. Quyền lực chính trị của nhân dân lao động là một dạng
quyền lực đặc biệt chỉ được xác lập trong CNXH, khẳng định vai trò quyết
định của nhân dân lao động trong quản lý xã hội, khẳng định nhân dân là
chủ thể của quyền lực nhà nước và tất cả các quyền lực khác thuộc về nhân
dân. Nhân dân là người tổ chức và trực tiếp quản lý nhà nước. Nhân dân
lao động là chủ thể của quyền lực, cũng có nghĩa nhân dân là người thực
hiện quyền lực. Nhưng trên thực tế, quyền lực chính trị của nhân dân lao
động rất rộng, nên chính bản thân họ không thể thường xuyên và trực tiếp
thực hiện quyền lực của mình. Do vậy quyền lực chính trị của nhân dân lao
động phải có hình thức thực hiện đa dạng, thích hợp, phải có những cơ
quan nhất định hoạt động thường xuyên, đại diện để nhân dân thực hiện có
hiệu quả quyền lực của mình.
2.2. Nội dung quyền lực chính trị của nhân dân lao động trong
thời kỳ quá độ lên CNXH ở nước ta
Ở nước ta hiện nay, quyền lực chính trị của nhân dân cũng phải
từng bước được xác lập trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Quyền lực
chính trị của nhân dân trên lĩnh vực chính trị trước hết là quyền có được
một nhà nước thực sự dân chủ. Nhà nước đó do nhân dân bầu ra qua phổ
thông đầu phiếu và phiếu kín.
(
1) Văn kiện Đại hội Đảng to n quà ốc lần thứ VI, Nxb Sự thật, H Nà ội, 1987, tr. 29.
9
Nhà nước đó phải thực sự là công cụ để thực thi những quyền lực
chính đáng của nhân dân. Nhà nước đặt dưới sự kiểm soát trực tiếp và
thông qua các tổ chức đại diện của nhân dân. Nhân dân có quyền tín nhiệm
hay không tín nhiệm với một bộ phận cơ quan nhà nước.
Quyền của nhân dân trên lĩnh vực chính trị còn là việc mở rộng
phạm vi của người dân tham gia vào công việc Nhà nước. Nhân dân có
quyền được thảo luận mọi vấn đề lớn nhỏ có liên quan trực tiếp tới lợi ích
chính đáng của mình. Với ý nghĩa đó, quyền của người dân không chỉ được
thực hiện thông qua thiết chế đại diện, nó còn được thực hiện qua thiết chế
dân chủ trực tiếp, mà xu hướng chung, dân chủ trực tiếp sẽ ngày càng tăng.
Đó là mức độ biểu hiện trình độ nâng cao trong việc nhân dân thực thi
quyền lực chính trị của mình.
Quyền lực của nhân dân trên lĩnh vực chính trị còn có nghĩa trong
giới hạn của chế độ nhất nguyên về chính trị, bảo đảm giữ vững định
hướng XHCN, trên cơ sở lấy chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí
Minh làm nền tảng tư tưởng, bảo đảm cho mọi người dân quyền tự do suy
nghĩ, tự do ngôn luận, tự do tín ngưỡng trong khuôn khổ pháp luật. Đó còn
là quyền giám sát các hoạt động của Nhà nước và hệ thống chính trị.
Quyền lực chính trị của nhân dân trên lĩnh vực kinh tế đòi hỏi:
Một là, phải hoàn thiện thể chế kinh tế, đặt nền kinh tế dưới sự kiểm
soát của nhân dân, phục vụ cho nhu cầu, lợi ích chính đáng của nhân dân.
Hai là, hình thành cơ chế kinh tế sao cho mọi người lao động đều
được tham gia vào sở hữu, quản lý dưới nhiều hình thức khác nhau.
Ba là, kết hợp kế hoạch nghiêm ngặt của Nhà nước với việc phát
huy sáng kiến của doanh nghiệp, của người lao động.
Bốn là, thị trường phải là nơi cạnh tranh trên nguyên tắc giá trị, trên
cơ sở chất lượng để đảm bảo lợi ích người tiêu dùng.
10
Quyền lực chính trị trên lĩnh vực xã hội: Thể hiện ở việc bảo đảm
quyền công dân, quyền con người, quyền được bảo vệ về mặt xã hội của
công dân, khắc phục dần sự khác biệt giữa các tầng lớp xã hội, giữa các
vùng đất nước; từng bước giải phóng con người khỏi những quan hệ phi
nhân tính.
Quyền lực chính trị của nhân dân trên lĩnh vực tinh thần: Đòi hỏi sự
đa dạng hóa về ý kiến, về thế giới quan trong xã hội - Trên cơ sở giữ vững
định hướng XHCN, bảo đảm thế giới quan Mác - Lênin giữ vai trò chủ đạo.
Tùy theo những bước tiến đạt được trong quá trình đổi mới, nội
dung và mức độ quyền lực chính trị của nhân dân không ngừng được mở
rộng và ngày càng sâu sắc.
Quyền lực chính trị tự nó chỉ là một khả năng. Muốn có hiệu lực
trên thực tế phải qua bộ máy vận hành, hệ thống thiết chế, các mối quan hệ,
các nguyên tắc thể chế, các điều kiện Gọi chung là cơ chế thực thi.
2.3. Hệ thống chính trị với tư cách là cơ chế bảo đảm quyền lực
chính trị của nhân dân lao động trong thời kỳ quá độ lên CNXH ở nước ta
Do điều kiện lịch sử ra đời và tồn tại phát triển của mình, hệ thống
chính trị ở nước ta hiện nay có một số đặc điểm chi phối vai trò của hệ
thống đó. Cụ thể là:
- Hệ thống chính trị ấy lấy chủ nghĩa Mác - Lênin làm nền tảng.
- Nhất nguyên về chính trị, đặt dưới sự lãnh đạo duy nhất của Đảng
Cộng sản Việt Nam.
- Được tổ chức vận hành theo nguyên tắc tập trung dân chủ.
- Bảo đảm sự thống nhất giữa bản chất giai cấp công nhân với tính
dân tộc, tính nhân dân rộng rãi.
Với tư cách là cơ chế bảo đảm quyền lực của nhân dân nói chung,
là cơ chế thực thi quyền lực chính trị của nhân dân nói riêng, hệ thống
11
chính trị nước ta hiện nay vận hành theo nguyên tắc: "Đảng lãnh đạo, Nhà
nước quản lý, Nhân dân làm chủ".
2.3.1. Đảng lãnh đạo
Đảng Cộng sản Việt Nam là lực lượng lãnh đạo cách mạng nước ta.
Từ ngày có chính quyền, Đảng mặc nhiên là lực lượng lãnh đạo nhà nước,
lãnh đạo hệ thống chính trị và toàn xã hội. Là lực lượng lãnh đạo toàn xã
hội, Đảng phải chịu trách nhiệm toàn diện và cao nhất trước nhân dân về cả
sự phát triển xã hội, quyền và đời sống của nhân dân, năng lực phẩm chất
của bộ máy nhà nước.
Như vậy, một mặt Đảng phải lãnh đạo toàn diện, tuyệt đối và trực
tiếp đối với nhà nước và cả hệ thống chính trị; mặt khác Đảng bằng mọi
cách phát huy cao nhất vai trò của Nhà nước và các đoàn thể nhân dân. Hai
mặt đó thống nhất, ràng buộc và không mâu thuẫn nhau.
Để nâng cao hiệu quả lãnh đạo của mình nhằm phát huy mạnh mẽ
quyền lực chính trị của nhân dân, Đảng ta ý thức rõ rằng trước hết phải tự
đổi mới về cả nội dung lãnh đạo, cả về công tác cán bộ, cả về tổ chức,
phương thức hoạt động, phong cách lãnh đạo.
Để giữ vững nguyên tắc: toàn bộ quyền lực thuộc về nhân dân,
Đảng ta ý thức rõ rằng phải giữ vững định hướng XHCN, xem đó là trọng
tâm trong công tác lãnh đạo của Đảng.
Muốn giữ định hướng XHCN, trước hết cần có đường lối đúng. Sau
khi đưa ra đường lối đổi mới toàn diện đất nước tại Đại hội VI của mình,
Đảng ta đã kịp thời sửa soạn và thông qua "Cương lĩnh xây dựng đất nước
trong thời kỳ quá độ lên CNXH" và "Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội
đến năm 2000". Tiếp đó, các đại hội VII, VIII, IX đã xác định mục tiêu,
nhiệm vụ của thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
Đó là những định hướng lớn về chính trị cho việc xây dựng, hoạch định
chủ trương chính sách xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
12
Trên cơ sở những định hướng lớn Đảng đã đề ra những chủ trương
cụ thể, chỉ rõ hướng đổi mới trên từng lĩnh vực của đời sống xã hội. Đảng
còn kịp thời để ra những nghị quyết, những chính sách để giải quyết những
khâu quan trọng của từng lĩnh vực như: Các nghị quyết về phát triển nông
nghiệp, công nghiệp, đổi mới cơ chế quản lý kinh tế; các nghị quyết về văn
hóa - giáo dục, về an ninh - quốc phòng, về "chống diễn biến hòa bình".
Đặc biệt, Đảng đã ra những nghị quyết, chủ trương tăng cường đổi mới
sự lãnh đạo của Đảng đối với hệ thống chính trị; định hướng việc xây dựng
và hoạt động của Nhà nước và các đoàn thể nhân dân như: Nghị quyết 8B
(khóa VI) về đổi mới công tác quần chúng của Đảng, tăng cường mối quan
hệ giữa Đảng với nhân dân; Nghị quyết Trung ương ba khóa VII về đổi
mới chỉnh đốn Đảng; Nghị quyết Trung ương tám khóa VII về tiếp tục xây
dựng và hoàn thiện nhà nước; Nghị quyết Trung ương ba khóa VIII về xây
dựng bộ máy nhà nước và công tác cán bộ
Trên cơ sở những định hướng chính trị đúng đắn, Đảng ta đã có
những chủ trương, biện pháp giải quyết khéo léo các vụ tranh chấp lãnh
thổ, lãnh hải với Trung Quốc; từng bước bình thường hóa quan hệ với Mỹ,
mở rộng quan hệ đối ngoại, giải quyết êm thấm những vụ việc phức tạp về
chính trị tạo điều kiện thuận lợi đưa công cuộc đổi mới tiến lên vững
chắc.
Qua đó cho thấy mặc dù những năm gần đây, trong hoàn cảnh quốc
tế và trong nước rất phức tạp, Đảng ta vẫn tỏ rõ bản lĩnh chính trị vững
vàng; giữ vững bản lĩnh độc lập tự chủ, sáng tạo; kiên định mục tiêu, con
đường XHCN đã lựa chọn. Đảng đã phê phán kịp thời những luận điệu
gieo rắc hoài nghi về con đường đi lên CNXH, ngăn chặn những luận điệu
đòi đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập hòng phủ nhận vai trò lãnh đạo của
Đảng.
Để việc lãnh đạo của Đảng có tác động tích cực tới việc phát huy
quyền lực chính trị của nhân dân, trong những năm đổi mới vừa qua, Đảng
ta đã coi trọng việc kiện toàn đội ngũ cán bộ trong hệ thống chính trị. Đảng
13
cũng đã đề ra các biện pháp để cán bộ của hệ thống chính trị thực sự là chỗ
dựa tin cậy của Đảng; là người đưa đường lối, chủ trương, chính sách của
Đảng vào quần chúng; là người trực tiếp uốn nắn những lệch lạc của quần
chúng, của các cơ quan nhà nước, đoàn thể; định hướng mọi hoạt động của
quần chúng theo đường lối, quan điểm của Đảng. Qua thực tiễn, Đảng đã
có biện pháp khắc phục từng bước sự lẫn lộn chức năng nhiệm vụ giữa
người đứng đầu tổ chức Đảng và người đứng đầu cơ quan nhà nước, đoàn
thể chính trị - xã hội của nhân dân.
Những nỗ lực toàn diện đó đã góp phần hình thành đội ngũ cán bộ
của hệ thống chính trị có:
"- Bản lĩnh chính trị vững vàng, kiên định mục tiêu, con đường mà
Đảng, Bác Hồ và nhân dân lựa chọn; năng động sáng tạo, hăng hái thực
hiện đường lối, chủ trương, chính sách đổi mới của Đảng và Nhà nước.
- Trình độ kiến thức và năng lực quản lý kinh tế, quản lý xã hội
ngày càng được nâng cao.
- Số đông cán bộ giữ được đạo đức, phẩm chất cách mạng, lối sống
lành mạnh, giản dị, gắn bó với nhân dân"
(1)
.
Để nâng cao hiệu quả thực thi quyền lực chính trị của nhân dân,
Đảng tăng cường công tác giáo dục, thuyết phục và chú ý phát huy vai trò
gương mẫu của Đảng viên trong việc thực hiện quyền lực đó của nhân dân.
Trên cơ sở nhận thức rằng năng lực thực hiện quyền lực chính trị của nhân
dân ngay trong chủ thể của quyền lực đó không tự nhiên mà có (về cơ bản,
nó được hình thành qua công tác giáo dục chính trị tư tưởng dưới sự lãnh
đạo của Đảng), thời gian qua, thông qua các đợt sinh hoạt chính trị, những
cuộc trao đổi thảo luận tập thể, dân chủ, thẳng thắn, những cuộc tiếp xúc
giữa đảng viên với quần chúng mà nhận thức của quần chúng về vấn đề
này ngày càng được sáng tỏ. Nhờ vậy, quần chúng đã đóng góp cho Đảng
(
1) Văn kiện Đại hội Đảng to n quà ốc lần thứ VIII, Nxb Sự thật, H Nà ội, 1996, tr. 67.
14

Xem chi tiết: 242621


Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét