Thứ Năm, 23 tháng 1, 2014

Thực trạng nguồn nhân lực trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở tỉnh Bắc Ninh giai đoạn 1997 đến nay-kinh nghiệm và giải pháp

5
lao động cho xã hội, là bộ phận quan trọng nhất của dân số, có khả năng tạo
ra mọi giá trị vật chất và tinh thần cho xã hội. Xem xét NNL dưới dạng tiềm
năng giúp định hướng phát triển NNL để đảm bảo không ngừng nâng cao
năng lực xã hội của NNL thông qua giáo dục, đào tạo, chăm sóc sức khoẻ.
Tuy nhiên, nếu chỉ dừng lại xem xét NNL dưới dạng tiềm năng thì chưa đủ.
Muốn phát huy tiềm năng đó, phải chuyển NNL sang trạng thái động, thành
vốn nhân lực, tức là nâng cao tính năng động xã hội của con người thông qua
các chính sách, thể chế và giải pháp giải phóng triệt để tiềm năng con người.
Con người với tiềm năng vô tận, nếu được tự do phát triển, tự do sáng tạo và
cống hiến, được trả đúng giá trị lao động thì tiềm năng vô tận đó được khai
thác, phát huy trở thành nguồn vốn vô cùng to lớn. Vì vậy, NNL được hiểu là
“tổng hoà trong thể thống nhất hữu cơ năng lực xã hội của con người(thể
lực, trí lực, nhân cách) và tính năng động xã hội của con người. Tính thống
nhất đó được thể hiện ở quá trình biến nguồn lực con người thành vốn con
người” [3,tr:11].
-Theo quan niệm của các nhà khoa học Việt Nam thể hiện trong chương
trình cấp Nhà nước KX-07, NNL được hiểu là "số dân và chất lượng con
người, bao gồm cả thể chất và tinh thần, sức khoẻ và trí tuệ, năng lực phẩm
chất, thái độ, phong cách làm việc" [14, tr.28].
Như vậy, NNL đựơc biểu hiện trên hai mặt số lượng và chất lượng:
Về số lượng: NNL phụ thuộc vào thời gian làm việc có thể có được của
cá nhân và quy định độ tuổi lao động của mỗi quốc gia. Số lượng NNL đóng
vai trò quan trọng đối với sự phát triển KT-XH. Nếu số lượng không tương
xứng với sự phát triển (thừa hoặc thiếu) thì sẽ ảnh hưởng không tốt đến quá
trình CNH, HĐH. Nếu thừa sẽ dẫn đến thất nghiệp, tạo gánh nặng về mặt xã
hội cho nền kinh tế; nếu thiếu thì không có đủ lực lượng nhân lực cho quá
trình CNH, HĐH và phát triển kinh tế đất nước.
Về chất lượng, NNL đựơc biểu hiện ở thể lực, trí lực, tinh thần thái độ,
động cơ, ý thức lao động, văn hoá lao động công nghiệp, phẩm chất tốt đẹp
5
5
6
của người công dân đó là yêu nước, yêu CNXH. Trong ba mặt: thể lực, trí
lực, tinh thần thì thể lực là nền tảng, cơ sở để phát triển trí lực, là phương
thức để chuyển tải khoa học kỹ thuật vào thực tiễn. Ý thức tinh thần đạo đức
tác phong là yếu tố chi phối hiệu quả hoạt động chuyển hoá của trí lực thành
thực tiễn. Trí tuệ là yếu tố có vai trò quan trọng hàng đầu của NNL bởi nó có
con người mới có thể nghiên cứu sáng tạo và ứng dụng tiến bộ khoa học vào
quá trình hoạt động sản xuất và cải biến xã hội. Mác và Ăng ghen đã nói
"Tất cả cái gì thúc đẩy con người hành động đều tất nhiên phải thông qua
đầu óc của họ" [18, tr.438].
-Từ những quan niệm của các tác giả nước ngoài và các tác giả trong
nước, có thể hiểu NNL là tổng hợp những con người cụ thể có khả năng tham
gia vào quá trình lao động với các yếu tố về thể lực, trí lực, tâm lực; tiềm
năng lao động của một tổ chức, một địa phương, một quốc gia trong thể
thống nhất hữu cơ năng lực xã hội (thể lực, trí lực, nhân cách)và tính năng
động xã hội của con người, nhóm người, tổ chức, địa phương, vùng, quốc
gia. Tính thống nhất đó được thể hiện ở quá trình biến nguồn lực con người
thành vốn con người đáp ứng yêu cầu phát triển.
Nói cách khác, NNL bao gồm những người trong độ tuổi lao động có
khả năng tham gia vào nền sản xuất xã hội theo Luật lao động quy định.
NNL có nội hàm rộng bao gồm các yếu tố cấu thành về số lượng, tri
thức, khả năng nhận thức và tiếp thu kiến thức, tính năng động xã hội, sức
sáng tạo, truyền thống lịch sử và cả nền văn hoá. Do vậy, có thể cụ thể hoá
các yếu tố cấu thành NNL theo các nhóm sau đây:
+Qui mô dân số, lao động và sức trẻ;
+Trình độ dân trí và chuyên môn kỹ thuật của NNL liên quan và phụ
thuộc vào sự phát triển nền giáo dục-đào tạo và dạy nghề một quốc gia;
+Tính năng động xã hội và sức sáng tạo của con người, yếu tố liên
quan đến chính sách giải phóng sức lao động, tạo động lực phát triển, phát
huy tài năng;
6
6
7
+Truyền thống lịch sử và nền văn hoá hun đúc lên bản lĩnh, ý chí, tác
phong của con người trong lao động.
1.1.2. Lực lượng lao động.
Là bộ phận dân số trong độ tuổi qui định, thực tế có tham gia lao
động(đang có việc làm) và những người chưa có việc làm nhưng đang tích
cực tìm kiếm việc làm. Như vậy, có một bộ phận dân số được tính vào NNL
nhưng không nằm trong lực lượng lao động. Đó là những người không có
việc làm nhưng không tìm kiếm việc làm, những người đang đi học và những
người thuộc tình trạng khác, ví dụ người nghỉ hưu trước tuổi.
1.1.3. Vốn con người
Là phạm trù chỉ các kỹ năng và năng lực con người khi được sử dụng
vào lao động hay bằng cách nào đó đóng góp cho nền kinh tế. Nhiều nhà
kinh tế coi vốn con người đơn giản là lao động, một trong ba nhân tố của sản
xuất và xem nó như một loại hàng hoá có thể trao đổi được. Trong lý thuyết
phát triển con người, các phân tích phân biệt niềm tin xã hội, kiến thức chia
sẻ được và sự sáng tạo của cá nhân như là ba khả năng của con người áp
dụng vào hoạt động kinh tế. Thuật ngữ vốn con người trong lý thuyết phát
triển con người chỉ sự tổ hợp của cả ba yếu tố đó. Do vậy, vốn con người sẽ
bằng không nếu không có lao động, không có việc làm hay không có hàng
hoá sản xuất ra.
Với tư cách là tiềm năng lao động của mỗi vùng miền hay mỗi quốc
gia thì NNL là tài nguyên cơ bản nhất. Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc
lần thứ IX(năm 2001) của Đảng cộng sản Việt Nam đã xác định: lấy con
người và NNL là một trong ba khâu đột phá đi vào CNH, HĐH đất nước:
”Phát triển giáo dục và đào tạo là một trong những động lực quan trọng thúc
đẩy sự nghiệp CNH, HĐH là điều kiện để phát huy NNL con người-yếu tố cơ
bản để phát triển xã hội, tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững” [8,tr:108-
109].
7
7
8
1.1.4. Phát triển nguồn nhân lực.
Phát triển NNL được nhiều tác giả bàn đến và đã có nhiều cách hiểu
mới được bổ sung theo thời gian. Cho đến nay, xuất phát từ những cách tiếp
cận khác nhau vẫn tồn tại nhiều cách hiểu khác nhau. Nadler & Nadler(1990)
cho rằng phát triển NNL và giáo dục, đào tạo(theo nghĩa rộng) là những thuật
ngữ có cùng nội hàm. Hai tác giả này định nghĩa:
“ Phát triển NNL là làm tăng kinh nghiệm học được trong một khoảng thời
gian xác định để tăng cơ hội nâng cao năng lực thực hiện công việc “ [33,
tr.1-3].
UNESCO sử dụng khái niệm phát triển NNL(theo nghĩa hẹp): là làm
cho toàn bộ sự lành nghề của dân cư luôn luôn phù hợp trong mối quan hệ
với sự phát triển của đất nước.
Tổ chức lao động của thế giới (ILO) lại cho rằng phát triển NNL bao
hàm phạm vi rộng hơn, không chỉ trình độ lành nghề hoặc vấn đề đào tạo nói
chung, mà còn là sự phát triển năng lực và sử dụng năng lực đó vào việc làm
có hiệu quả, cũng như thoả mãn nghề nghiệp và cuộc sống cá nhân.
Liên hợp quốc sử dụng khái niệm phát triển NNL theo nghĩa rộng, bao
gồm giáo dục, đào tạo và sử dụng tiềm năng con người nhằm thúc đẩy phát
triển KT-XH và nâng cao chất lượng cuộc sống.
1.1.5. Đào tạo NNL.
Sự xuất hiện của nền kinh tế tri thức trong thời đại ngày nay cho thấy đầu tư
cho NNL được coi trọng hơn các nguồn đầu tư khác. Đầu tư phát triển NNL được
hiểu ở cả ba mặt: chăm sóc sức khoẻ, nâng cao chất lượng cuộc sống và giáo dục
đào tạo, trong đó giáo dục đào tạo có vai trò quan trọng nhất. Khái niệm giáo dục
luôn gắn với khái niệm đào tạo. Theo từ điển tiếng Việt, đào tạo được hiểu là:
"Đào tạo, là quá trình tác động đến một con người nhằm làm cho người đó lĩnh hội
và nắm những tri thức, kỹ năng, kỹ xảo một cách có hệ thống nhằm chuẩn bị cho
người đó thích nghi với cuộc sống và khả năng nhận một sự phân công lao động
nhất định góp phần của mình vào việc phát triển kinh tế xã hội, duy trì và phát
8
8
9
triển nền văn minh của loài người. Tuỳ theo tính chất chuẩn bị cho cuộc sống và
lao động, người ta phân biệt đào tạo chuyên môn và đào tạo nghề nghiệp. Hai loại
này gắn bó và hỗ trợ nhau với những nội dung do đòi hỏi của sản xuất, của các
quan hệ xã hội, của tình trạng khoa học, kỹ thuật-công nghệ và văn hoá của đất
nước. Có nhiều hình thức đào tạo; đào tạo cấp tốc, đào tạo chính quy và không
chính quy". Về cơ bản, đào tạo là hoạt động giảng dạy của nhà trường, gắn việc
truyền thụ tri thức với giáo dục đạo đức và nhân cách. Kết quả và trình độ được
đào tạo của một người ngoài việc phụ thuộc vào hoạt động nêu trên còn do việc tự
đào tạo của người đó thể hiện ra ở việc tự học và tham gia vào các hoạt động xã
hội, lao động sản xuất, tự rút kinh nghiệm của người đó quyết định. Chỉ khi nào
quá trình đào tạo biến thành quá trình tự đào tạo một cách tích cực, tự giác thì việc
đào tạo mới có hiệu quả cao.
Đào tạo là một mắt xích trong chu trình phát triển NNL. Nó phải đáp ứng yêu
cầu cung cấp NNL cho xã hội ở các lĩnh vực sau:
-Nhân lực trong lĩnh vực khoa học-công nghệ, ngành nghề, kinh tế, kỹ thuật.
-Nhân lực trong lĩnh vực lãnh đạo, quản lý nhà nước.
-Nhân lực trong lĩnh vực quản lý doanh nghiệp.
Thực tế cho thấy dù nhân lực ở lĩnh vực nào đi chăng nữa cũng phải đảm bảo
được yêu cầu của công việc như trình độ chuyên môn, kỹ thuật (tức các tri thức,
kỹ năng, kỹ xảo thực hành, thái độ, phong cách, năng lực sáng tạo để có khả năng
thực hiện một loạt các công việc trong phạm vi ngành nghề theo sự phân công lao
động xã hội.
Từ những vấn đề trên có thể hiểu: Đào tạo NNL là quá trình tác động, dạy và
rèn luyện con người thông qua việc tổ chức truyền thụ tri thức và những kinh
nghiệm lịch sử xã hội của loài người để gây dựng họ trở thành người có hiểu biết
đạt đến một trình độ chuyên môn nghề nghiệp nhất định, có khả năng đảm nhận
một sự phân công lao động xã hội trong từng thời kỳ của quá trình phát triển KT-
XH.
9
9
10
Đào tạo NNL tạo nên sự chuyển biến về chất của NNL, biến những tiềm
năng nhân lực của quốc gia thành những lực lượng lao động hiện thực phù hợp với
yêu cầu phát triển KT-XH. Để thực hiện thắng lợi sự nghiệp CNH, HĐH, việc đào
tạo NNL cần phải đảm bảo đựơc yêu cầu, mục tiêu sau:
-Đổi mới chất lượng đào tạo nhân lực theo hướng phù hợp với việc nâng cao
sức cạnh tranh của nền kinh tế.
-Đào tạo phải gắn kết thường xuyên và chặt chẽ với sử dụng NNL và phù
hợp với yêu cầu chuyển dịch cơ cấu lao động và thị trường lao động.
Đào tạo NNL theo yêu cầu, mục tiêu nêu trên cần được thực hiện với nhiều
loại hình và nhiều phương thức khác nhau sao cho mọi người có nhu cầu được đào
tạo, bồi dưỡng nâng cao và đào tạo lại đều có thể được đáp ứng. Việc đào tạo có
thể được thực hiện tại các trường dạy nghề, trường Đại học, Cao đẳng, các Trung
tâm do Nhà nước hoặc tư nhân quản lý, hoặc các trường, lớp thuộc doanh nghiệp,
trong các thành phần kinh tế, hay tại các lớp dạy nghề do các tổ chức xã hội và các
làng nghề truyền thống tổ chức. Việc đào tạo NNL có thể được thực hiện theo các
cấp trình độ tuỳ theo yêu cầu đổi mới của nền sản xuất-xã hội và nhu cầu của
người học như đào tạo bán lành nghề-lành nghề-trình độ cao; đào tạo trình độ sơ
cấp-THCN-cao đẳng-đại học và sau Đại học.
1.1.6. Sử dụng NNL.
Trong tiếng Việt khái niệm sử dụng NNL được dùng khá phổ biến, và về
thực chất sử dụng NNL chỉ bao hàm một số thành tố của quá trình quản lý NNL
như: tuyển chọn, bố trí, sử dụng, đánh giá, trả công, trả lương và thăng thưởng.
Trong các tài liệu truyền thống, dùng người đúng có nghĩa là sử dụng được thế
mạnh của con người, dùng người vào đúng chỗ, đúng lúc, phát huy được động lực
làm việc của con người. Nếu mở rộng khái niệm sử dụng NNL, nội hàm của sử
dụng NNL sẽ trùng với nội hàm khái niệm quản lý NNL.
NNL được đề cập đến như một nguồn vốn tổng hợp với hệ thống các yếu tố
cấu thành: sức lực, trí tuệ, khối lượng cùng đặc trưng về chất lượng lao động như
trình độ văn hoá, kỹ thuật, kinh nghiệm nghề nghiệp, thái độ phong cách làm việc,
10
10
11
tính năng động xã hội và sức sáng tạo. Đó là sức lao động, như Mác đã nói: khả
năng mà con người có thể thông qua lao động để biến thành hiện thực, từ đó có thể
đóng góp vào sự nghiệp CNH và sự phát triển KT-XH. Tuy nhiên, khi nói NNL tức
là nói sức lao động, do vậy nó còn ở trạng thái khả năng, ở trạng thái tĩnh, nó phải
được chuyển sang trạng thái động tức là phải được đem phân bố, sử dụng nó một
cách có hiệu quả, phải làm thế nào để NNL dưới dạng khả năng đó thành hiện
thực, thành vốn nhân lực.
Sử dụng NNL tức là quá trình tạo điều kiện cho người tham gia vào hoạt
động sản xuất để tạo ra của cải vật chất, tinh thần phục vụ các nhu cầu sản xuất và
nhu cầu tiêu dùng trong xã hội. Quá trình lao động sản xuất đó là quá trình kết hợp
sức lao động với các yếu tố khác của lực lượng sản xuất nên việc khai thác và phát
huy NNL không thể tách rời việc tổ chức nền sản xuất cùng những cách thức của
sự phát triển KT-XH. Bởi vậy, sử dụng NNL được hiểu: là việc khơi dậy và phát
huy tất cả các khả năng của con người thành hiện thực, biến sức lao động thành
lao động trong quá trình phát triển KT-XH.
Quá trình sử dụng NNL luôn gắn kết với sản xuất nên kết quả của nó phụ
thuộc vào những đổi mới trong cách thức tổ chức quản lý sản xuất, những cải tiến
về công nghệ và phụ thuộc rất lớn vào việc hoàn thiện giáo dục đào tạo (đặc biệt là
đào tạo nghề).
Trong quá trình CNH, HĐH ở nước ta, việc khai thác sử dụng NNL có thể
được xem xét trên các khía cạnh sau:
Một là, NNL được biểu hiện ra là nguồn lao động nó bao gồm toàn bộ những
người lao động đang có khả năng phục vụ cho xã hội và các thế hệ nối tiếp, vì vậy
sử dụng NNL trước hết là sử dụng lực lượng lao động trong sản xuất kinh doanh.
Tạo việc làm và sử dụng có hiệu quả nhất NNL hiện có là yêu cầu cơ bản và chủ
yếu của sử dụng NNL.
Hai là, con người khi tham gia vào quá trình phát triển KT-XH không chỉ sử
dụng lao động giản đơn mà còn phải sử dụng cả lao động trí óc cho xã hội ngày
càng phát triển. Ngày nay thế giới đã bước vào giai đoạn phát triển kinh tế tri thức,
11
11
12
thì vai trò của lao động trí tuệ của con người thể hiện ngày càng rõ nét. Đúng như
dự báo của Mác và Ăng ghen: Khoa học do lao động trí tuệ của con người sáng tạo
ra sẽ trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp. Tri thức khoa học đang thấm sâu vào
mọi yếu tố của quá trình sản xuất và trở thành một nhân tố có ý nghĩa quyết định
sự phát triển. Do đó có thể khẳng định lao động trí tuệ, lao động qua đào tạo là yếu
tố giữ vai trò quan trọng hàng đầu của NNL, do vậy cần coi trọng và phát huy tiềm
năng của NNL qua đào tạo.
Ba là, sự tác động của cuộc cách mạng khoa học công nghệ hiện đại đã và
đang làm thay đổi tính chất, nội dung của lao động, cơ cấu lao động và việc làm và
làm cho tốc độ tăng trưởng kinh tế không còn đi đôi với tiến trình phát triển việc
làm. Điều đó đòi hỏi phải chuyển từ sử dụng lao động theo chiều rộng sang khai
thác sử dụng theo chiều sâu. Việt Nam là một nước chậm phát triển, thực hiện
CNH sau, NNL khá dồi dào nhưng chất lượng và trình độ còn thấp, vì vậy trong
quá trình sử dụng NNL chúng ta phải chú ý sử dụng lao động theo hướng kết hợp
cả số lượng và chất lượng.
Như vậy, để khai thác phát huy và nâng cao hiệu quả NNL cần phải căn cứ
vào điều kiện hoàn cảnh cụ thể của NNL và sự phát triển KT-XH trong từng thời
kỳ của quốc gia.
1.2. Sự cần thiết khách quan của đào tạo và sử dụng NNL đối với quá
trình CNH, HĐH.
NNL và CNH, HĐH có mối quan hệ tác động qua lại lẫn nhau. Trong nền
kinh tế thị trường, thực chất của mối quan hệ này là mối quan hệ về cung cầu lao
động. Trong mối quan hệ đó yếu tố con người bao giờ cũng giữ vị trí quyết định.
Điều này thể hiện ở chỗ: Con người là chủ thể của quá trình CNH, HĐH. Con
người là lực lượng sản xuất hàng đầu, có khả năng biến các nguồn lực khác thành
động lực phát triển. Con người với tất cả những phẩm chất tích cực của mình là
động lực cơ bản của sự nghiệp CNH, HĐH. Mối quan hệ này thể hiện:
12
12
13
1.2.1. Sự tác động của đào tạo và sử dụng NNL đối với quá trình CNH,
HĐH.
NNL, nhất là NNL qua đào tạo là yếu tố vật chất quan trọng nhất, quyết định
nhất của lực lượng sản xuất, của nhận thức, lĩnh hội và sử dụng tiến bộ khoa học
kỹ thuật và công nghệ vào quá trình sản xuất, thúc đẩy CNH, HĐH và phát triển
KT-XH như Lênin nói: "Nếu không có các chuyên gia am hiểu các lĩnh vực khoa
học kỹ thuật và kinh nghiệm sản xuất thì không thể nào có bước chuyển lên xã hội
XHCN" [20, tr.362], đặc biệt là NNL chất lượng cao, một yếu tố không thể thiếu
của quá trình CNH, HĐH được LêNin viết: "Việc điện khí hoá không phải do
những người mù chữ thực hiện được mà chỉ biết chữ thôi thì không đủ điều đó
chỉ có thể thực hiện được trên cơ sở một nền học vấn hiện đại mà nếu không có
nền học vấn hiện đại đó thì chủ nghĩa Cộng sản chỉ là nguyện vọng mà thôi" [20,
tr.364-365]. Theo LêNin cái quyết định cho sự thắng lợi của trật tự xã hội mới đối
với xã hội cũ là năng suất lao động cao cho nên cần phải thực hiện sự phát triển
NNL. Từ ý tưởng đó có thể thấy để nâng cao năng xuất lao động trước hết phải
nâng cao trình độ tiến bộ của nền giáo dục và văn hoá của đông đảo quần chúng
nhân dân, tiếp đến phải nâng cao tinh thần kỷ luật của người lao động, nâng cao tài
khéo léo và trình độ thành thạo của NNL. Trên cơ sở đó, Đảng ta đã chỉ rõ những
nguồn lực làm cơ sở cho quá trình CNH, HĐH đất nước là nguồn lực con người
Việt Nam, nguồn lực tự nhiên, cơ sở vật chất, tiềm lực khoa học công nghệ, các
nguồn lực ngoài nước. Nhưng trong các nguồn lực đó thì nguồn lực con người là
quan trọng nhất". Nguồn lao động dồi dào, con ngươì Việt Nam có truyền thống
yêu nước, cần cù sáng tạo có nền tảng văn hoá, giáo dục, có khả năng nắm bắt
nhanh khoa học và công nghệ đó là nguồn lực quan trọng" [4. tr.5]. Sở dĩ như
vậy vì NNL qua đào tạo là lực lượng duy nhất có khả năng phát hiện, xác định
mục tiêu, nội dung và các giải pháp đúng đắn để tiến hành CNH, HĐH. Mặt khác
NNL qua đào tạo có ưu thế hơn hẳn các nguồn lực khác là nó không bao giờ cạn:
"Tri thức có tính chất lấy không bao giờ hết" [32, tr.41].
Chính vì vậy Đảng ta đã xác định: "Phương hướng chủ yếu phát triển trí tuệ
của con người Việt Nam thể hiện trong các lĩnh vực khoa học công nghệ đào tạo
13
13
14
để nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài" [7, tr.28]. Nghị quyết
Hội nghị lần thứ 2 Ban Chấp hành Trung ương khoá VIII nhấn mạnh: "Muốn tiến
hành CNH, HĐH thắng lợi phải phát triển Giáo dục đào tạo, lấy việc phát huy
nguồn lực con người làm yếu tố cơ bản cho việc phát triển nhanh và bền vững" [6,
tr.19].
Thực tiễn của nước ta và các nước đi trước đã chứng minh quá trình CNH,
HĐH diễn ra với tốc độ nhanh hay chậm, hiệu quả cao hay thấp phụ thuộc vào
nhiều yếu tố nhưng trước hết tuỳ thuộc vào chất lượng NNL bởi nền kinh tế thế
giới đã phát triển theo hướng kinh tế tri thức, yếu tố tri thức đã chiếm tỷ trọng lớn
trong giá trị sản phẩm, tỷ lệ lao động giản đơn trong sản phẩm chỉ còn 1/10, trí tuệ
được coi là thước đo trình độ CNH và động lực của quá trình phát triển. Mặt khác
trong xu thế toàn cầu hoá và việc mở rộng quan hệ giao lưu quốc tế hiện nay, các
nước có thể khắc phục sự yếu kém về kỹ thuật, công nghệ thông qua con đường
chuyển giao, khắc phục sự thiếu vốn qua con đường nhập khẩu hoặc gia tăng
nguồn vốn bằng cách vay từ ngân hàng, quỹ phát triển của thế giới, nhưng không
thể khắc phục hoàn toàn sự yếu kém về NNL qua nhập khẩu lao động hay vay
mượn khả năng sáng tạo của con người. Vì vậy, Việt Nam cũng như tất cả các
nước trên thế giới đều quan tâm tới việc đầu tư phát triển NNL qua đào tạo. Nghị
quyết Đại hội IX Đảng Cộng sản Việt nam đã chỉ ra rằng: "Phát huy nguồn lực trí
tuệ và sức mạnh tinh thần của người Việt Nam, coi phát triển Giáo dục và đào tạo,
khoa học và công nghệ là nền tảng và động lực của sự nghiệp CNH, HĐH" [8,
tr.91].
Chúng ta cần ý thức sâu sắc rằng đầu tư cho Giáo dục đào tạo là một trong
những hướng chính của đầu tư phát triển; Giáo dục đào tạo phải thật sự trở thành
quốc sách hàng đầu, hoàn thành tốt việc đào tạo bồi dưỡng nguồn lực con người
kịp thời và phù hợp với yêu cầu CNH, HĐH. Xét một cách tổng thể việc đào tạo
NNL phải đáp ứng yêu cầu giải quyết mối quan hệ cung - cầu lao động cả số
lượng, chất lượng, cơ cấu, hạn chế tối đa việc dư thừa bất hợp lý về lao động đã
đào tạo trên tất cả các lĩnh vực. Trước hết phải đào tạo được những con người có
khả năng để đảm nhận và hoàn thành công việc ở cương vị công tác theo sự phân
14
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét