Thứ Ba, 21 tháng 1, 2014

QC trong hoạt động mar DN

Đề án môn học
quảng cáo đợc chuyển tới từng ngời nghe. Chính vì vậy, quảng cáo qua radio là cần
thiết nếu muốn thông tin quảng cáo đạt đợc tỉ lệ độc giả cao.
Tuy nhiên, quảng cáo qua radio cũng có nhiều nhợc điểm nh:tính lâu bền
của thông tin thấp, thông tin quảng cáo dễ bị ngời nghe bỏ qua và không hợp với
tất cả các sản phẩm, dịch vụ, do đó cần có sự hỗ trợ của các phơng tiện khác.
1.2.2.3 Phơng tiện ngoài trời và ngoài đờng, các điểm và các phơng tiện khác
Quảng cáo ngoài trời: là hình thức quảng cáo lâu đời nhất. Phơng tiện quảng
cáo ngoài trời hiện đại có nhiều loại nh áp phích, bảng yết thị, panô, các biển
quảng cáo bên đờng, quảng cáo trên các phơng tiện giao thông và quảng cáo tại
các điểm.
Quảng cáo ngoài trời gắn liền với việc mở rộng và phát triển mạng lới và ph-
ơng tiện giao thông, phát triển các vùng kinh tế. Đây là phơng tiện quảng cáo
mang tính chất quốc gia. Nó thông báo cho khách hàng tiềm năng về sản phẩm mà
họ muốn mua. Trong mức đọ nhất định, phơng tiện này hớng dẫn khách hàng tới
những điểm có thể mua hàng . Lợi thế của phơng tiện này là khả năng bộc lộ, thể
hiện lớn. Yêu cầu cảu các phơng tiện quảng cáo ngoài trời là khả năng gợi phản
ứng cao và gây ấn tợng sâu cho ngời nhìn. Vì vậy chúng thờng là các thông điệp
ngắn, và sử dụng các hiện tợng.
Quảng cáo ngoài đ ờng: hình thức chủ yếu của quảng cáo ngoài đờng là
quảng cáo trên hệ thống giao thông công cộng (trên các phơng tiện hay tại địa
điểm đỗ, dừng của các phơng tiện đó).
Quảng cáo ngoài đờng có nhiều u điểm nh chi phí thấp, có sự hiện diện chắc
chắn và bảo đảm nhắc lại thờng xuyên, phạm vi hoạt động lớn, thời gian hiện diện
lâu, có khả năng giới thiệu nội dung dài.
Tuy nhiên, quảng cáo ngoài đuờng chỉ có tác động lớn đối với những ngời
sử dụng các phơng tiện giao thông công cộng và ít hiệu quả đối với những ngời có
phơng tiện riêng. Mặc dù vậy, phơng tiện này còn có nhiều tiềm năng về hệ thống
vận tải công cộng mở rộng và tập trung vào những thành phố đông dân. Hơn nữa, ở
Quản trị Quảng cáo 42 H-ml
5
Đề án môn học
các nớc mà phơng tiện mẫu và truyền tin mới chỉ tập trung ở các vùng đô thị, thì
phơng tiện ngoài đờng lại càng có ý nghĩa.
Quảng cáo tại các điểm bán hàng: đây là một hình thức xúc tiến và quảng
cáo. Nó là khâu cuối cùng ảnh hởng tới quyết định mua hàng của khách hàng.
Quảng cáo ở điểm bán hàng rất có hiệu quả đối với những sản phẩm mà việc mua
hàng mang tính chất tuỳ hứng, tạo khả năng cho sự lựa chọn giữa các mác, nhãn
hiệu sản phẩm khác nhau của khách hàng. Quảng cáo tại các điểm bán có vai trò
rất quan trọng đặc biệt đối với các sản phẩm mới và hình thức bán hàng tự động.
Hiệu quả của một nội dung quảng cáo dù đã đợc nhà sản xuất quảng cáo trên các
phơng tiện in ấn, và truyền tin, vẫn có thể cần thiết phải nhắc nhở ngời mua vào lúc
cuối cùng trớc khi hành động mua hàng.
2. Những căn cứ để lựa chọn phơng tiện quảng cáo
Trong hoạt động Marketing, một quyết định rất quan trọng là lựa chọn các
phơng tiện thông tin quảng cáo có hiệu quả cao nhất. Trên thực tế, việc lựa chọn
này hay còn đợc gọi là kế hoạch hoá các phơng tiện thông tin, là xác định và lụa
chọn một sự phối hợp giữa các kênh sao cho có hiệu quả nhất. Điều đó là do có rất
nhiều loại phơng tiện thông tin khác nhau và trong mỗi loại phơng tiện đó bao gồm
các biểu loại phơng tiện thông tin. Để có thể giải quyết vấn đề này, nhà quảng cáo
cần phải tính đến các yếu tố sau:
Thứ nhất, mục tiêu quảng cáo phải rõ ràng. Nhà quảng cáo trớc hết phải
xem họ sẽ truyền thông điệp cho ai hay cho những độc giả nào, qua đó, lựa chọn
phơng tiện thông tin mà độc giả của nó trùng với mục tiêu quảng cáo. Điều đó có
thể đợc xác định tuỳ theo từng trờng hợp theo nguyên tắc địa lý và dân c, tập tính
mua hay tiêu thụ, theo tâm lý, thái độ, nhân cách hay phong cách sống.
Thứ hai, việc lựa chọn phơng tiện quảng cáo cần tính đến bản chất của thông
điệp, tin tức cần truyền. Thật vậy, tất cả các phơng tiện thông tin không sẵn sàng
truyền đi tất cả các loại tin tức hoặc nếu sử dụng chúng thì hiệu quả thông tin
Quản trị Quảng cáo 42 H-ml
6
Đề án môn học
không cao. Chẳng hạn, nếu thông tin dài, phức tạp, ít khi các nhà quảng cáo sử
dụng áp phích hay thông tin về hình ảnh sản phẩm không nên truyền qua radio
Thứ ba, việc lựa chọn sự phối hợp các kênh thông tin phải luôn tính đến
ngân sách chung dành để mua khoảng trống hay thời gian quảng cáo.
Lựa chọn phơng tiện thông tin bao gồm cả những hiểu biết cơ bản về khả
năng và chi phí của các phơng tiện thông tin chủ yếu. Lựa chọn phơng tiện thông
tin phải làm sao để phù hợp với cả độc giả trọng tâm và cả loại phơng tiện đợc lựa
chọn. Nhìn chung, khi lựa chọn phơng tiện thông tin, cần tính đến các nhân tố tác
động sau:
Hồ sơ về thị trờng trọng điểm: Bớc đầu tiên trong kế hoạh hoá phơng tiện
thông tin là việc thu thập thông tin hữu ích về khách hàng hay thị trờng chính mà
các nhà quảng cáo cần truyền thông điệp tới qua quảng cáo. Những hồ sơ gồm
các số liệu chi tiết và có tính đặc thù về thị trờng trọng điểm có thể thu thập đợc
qau các tài liệu về địa lý, dân c, tập tính và thái độ sẽ giúp cho các nhà quảng cáo
lựa chọn đợc phơng tiện thông tin thích hợp. Tất nhiên, ngân sách quảng cáo cũng
là một tiêu thức quan trọng trong quá trình lựa chọn đó. Khi đã xây dựng hồ sơ
khách hàng, các nhà quảng cáo phải tìm cách thích ứng với nó qua việc sử dụng
phơng tiện thông tin.
Phạm vi hoạt động cảu phơng tiện thông tin: Trong lĩnh vực quảng cáo, phạm
vi hoạt động của một phơng tiện thông tin là số độc giả (cá nhân hay gia đình) mà
phơng tiện có thể bao phủ trong một khoảng thời gian. Nó thờng đợc đánh giá
bằng tỉ lệ phần trăm độc giả trong tổng số dân c của thị trờng trọng điểm. Các nhà
quảng cáo, tuỳ theo mục đích của mình, chọn phơng tiện có phạm vi hoạt động
thích hợp. Trên thực tế, có thể xảy ra trờng hợp hai phơng tiện thông tin cùng đến
với độc giả chung. Vì vậy, phải nghiên cứu nhiều nhân tố để lựa chọn sự phối họp
giữa các phơng tiện thông tin một cách hợp lý nhất.
Tần số thông tin: Thông thờng, ngời ta đo lờng tần số bằng số lần trung bình
mà một phơng tiện thông tin truyền đến đợc các gia đình hay các cá nhân khác
Quản trị Quảng cáo 42 H-ml
7
Đề án môn học
nhau trong một khoảng thời gian nhất định. ở thị trờng trọng điểm, tần số quảng
cáo phụ thuộc trớc hết vào tầm quan trọng của việc duy trì và củng cố các hình ảnh
yêu cầu hay việc giữ vững nhu cầu để có đợc ngời ủng hộ từ các khách hàng trọng
điểm. Tần số càng lớn thì khả năng truyền thông tin quảng cáo sâu rộng và ấn tợng
để lại càng đậm.
Tính liên tục: Trong lĩnh vực thông tin, tính liên tục đợc hiểu nh là mức độ
truyền phát thông điệp trong một khoảng thời gian hay một chiến dịch. Thực tế,
điều đó có nghĩa là nội dung của một thông điệp đợc đăng tải thờng xuyên trên
một phơng tiện thông tin nào đó. Nghiên cứu nhân tố này, các nhà quảng cáo cần
chú ý đến việc chuyển từ một phơng tiện thông tin này sang phơng tiện thông tin
khác. Điều đó làm mất tính liên tục của thông tin nhng cũng có thể đem lại những
lợi thế khác.
Chất lợng thông tin: Trong quảng cáo, chất lợng thông tin quảng cáo đợc đánh
giá bằng những tác động ảnh hởng của chúng đối với độc giả. Thực tế, đó là mức
độ nhận biết và ghi nhớ của độc giả đối với thông tin quảng cáo. Chất lợng này phụ
thuộc vào nội dung của thông điệp, vào thời điểm truyền phát qua các phơng tiện
thông tin. Chất lợng thông tin thờng gắn với quy mô của thông điệp. Quy mô của
thông điệp là thớc đo độ mạnh và tính hiệu quả của ấn tợng. Quy mô chính là
khoảng dùng để in quảng cáo hay là thời gian mà một quảng cáo có thể sử dụng.
Phơng pháp trình bày thông điệp: Phơng pháp trình bày thông điệp hay còn đ-
ợc xem nh là hình ảnh bản sao có ảnh hởng đáng kể đến khả năng gây ấn tợng
của độc giả. Với những thông điệp quảng cáo nào đó, chỉ có một phơng tiện thông
tin thích hợp nhất mới có khả năng diễn đạt đầy đủ và xác thực và do đó, tạo ra đợc
ấn tợng đọng lại trong trí óc của ngời tiêu dùng. Các nhà quảng cáo, tuỳ theo ph-
ơng tiện thông tin phải lựa chọn một phơng pháp trình bày hợp lý nhất. ở đây, cần
nhấn mạnh vai trò của màu sắc trong phơng pháp trình bày.
Chi phí phơng tiện thông tin: Đây là yếu tố rất quan trọng khi lựa chọn phơng
tiện thông tin, chi phí mua khoảng trống hay thời gian quảng cáo giống nh việc
Quản trị Quảng cáo 42 H-ml
8
Đề án môn học
mua hàng hoá thông thờng. Chi phí phơng tiện thông tin có quan hệ khăng khít với
năng lực của phơng tiện thông tin ấy. Năng lực phơng tiện thông tin thờng đợc
đánh giá theo những tiêu chuẩn sau:
Khả năng phân phối: biểu thị qua số lợng bản phát hành.
Qui mô độc giả: biểu thị qua qui mô, thành phần và số lợng bản có độc giả.
Khi tính toán chi phí về phơng tiện thông tin, các nhà quảng cáo cũng chú ý
khả năng cung cấp phơng tiện thông tin vào một số khoảng thời gian nhất định.
Thực tế xảy ra trờng hợp là dù nhà quảng cáo sẵn sàng trả giá cao những trong ch-
ơng trình của các phơng tiện thông tin đã hoàn chỉnh rồi, không thể bổ sung, sắp
xếp lại đợc.
Phơng pháp chuẩn biểu thị chi phí quảng cáo trên báo và số tiền cho một dòng
chuẩn hoặc theo số từ của thông điệp. Ngời ta cũng có thể tính toán chi phí thuê
khoảng trống đó. Mức chi phí đơn vị này thay đổi theo số lợng phát hành. Thờng
ngời ta xác định chi phí này bằng cách lấy tổng chi phí mua khoảng trống chia cho
dòng hay khoảng trống trên một đơn vị phát hành. Nếu số lợng phát hành càng lớn
thì mức chi phí trên dòng in càng rẻ. Đối với tivi và radio, tỉ lệ phí mua khoảng
trống đợc tính theo đơn vị thời gian kết hợp với số ngời xem hay ngời nghe.
Tính lâu bền của thông điệp: Đây là một nhân tố có tác động đáng kể đến việc
lựa chọn phơng tiện thông tin. Tính lâu bền của thông điệp đợc biểu thị ở số lần
phát thông điệp đó. Việc nhắc lại thông tin quảng cáo sẽ có tác dụng làm gợi nhớ
và củng cố tin tức nơi độc giả và qua đó, củng cố việc bán hàng. Tính lau bền của
thông điệp cũng là một quan tâm đặc biệt đối với nhà quảng cáo. Một số phơng
tiện có đặc tính này. Các phơng tiện truyền tin nh radio không cung cấp tính lâu
bền ở bức thông điệp, nó chỉ tồn tại và có giá trị khi ngời ta phát nó. Điều đó cũng
đúng với tivi. Ngợc lại, một thông điệp quảng cáo ở các phơng tiện in có thể tồn tại
trong một thời gian nhất định tuỳ thuộc trớc hết vào tính chất của ấn phẩm đó. Độc
giả có thể xem lại nội dung thông tin ở phơng tiện in những không thể làm điều đó
đối với tivi hay radio.
Quản trị Quảng cáo 42 H-ml
9
Đề án môn học
Cơ cấu phơng tiện thông tin: Khi lựa chọn phơng tiện thông tin, các nhà quảng
cáo cần phải tính đến cơ cấu phơng tiện thông tin. Thực chất, đó là sự phối hợp các
phơng tiện thông tin khác nhau tạo thành một tổng thể chung trong chiến lợc xúc
tiến và khuyếch trơng. Thông thờng, các nhà quảng cáo không chỉ sử dụng một
loại phơng tiện thông tin và tuỳ theo mục tiêu Marketing, lựa chọn một số phơng
tiện thông tin phù hợp nhất với thị trờng trọng điểm. Cơ cấu phơng tiện có mối
quan hệ chặt chẽ với chi phí quảng cáo. Để gây tác động mạnh vào một khu vực thị
trờng nhất định, nhà quảng cáo thờng tập trung vào một phơng tiệ. Ngợc lại, nều
nhà quảng cáo sử dụng một cơ cấu các loại phơng tiện thông tin theo tỉ lệ nào đó
thì có thể thực hiện mục tiêu quảng cáo ở những khu vực hay đoạn thị trờng khác
nhau. Điều này làm cho bản quảng cáo không bị nhàm chán đối với ngời tiêu dùng.
Cơ cầu phơng tiện cũng làm tăng phạm vi hoạt động của bản quảng cáo bởi vì
không có hai loại phơng tiện thông tin nào lại hoàn toàn có cùng một độc giả. Một
tỉ lệ phần trăm nhất định hệ số độc giả của một loại phơng tiện không thuộc phạm
vi hoạt động của phơng tiện thông tin khác.
Trên thực tế, xảy ra trờng hợp trong một cơ cấu gồm hai hoặc nhiều hơn hai
phơng tiện thông tin có số lợng độc giả tiềm năng trùng nhau đợc gọi là độc giả
đúp. Những độc giả này đợc tính vào số lợng độc giả cảu các loại phơng tiện đó.
Về mặt lý thuyết, mỗi nhà quảng cáo có một phạm vi hoạt động không trùng hợp
trong số các khách hàng tiềm năng tốt nhất của họ. Nhng thực ra, không có hai ph-
ơng tiện nên hoàn toàn không có độc giả trùng lặp. Vì vậy, các nhà quảng cáo cố
gắng chọn một cơ cấu phơng tiện thông tin có số đúp là tối thiểu. Mục tiêu cuối
cùng là nâng cao tổng số độc giả.
Tổng số độc giả đợc xác định bằng toàn bộ số lợng ngời nhận đợc các thông tin
quảng cáo qua tất cả các phơng tiện truyền tin trong một chiến dịch quảng cáo. Khi
thiết kế một cơ cấu phơng tiện thông tin, nhà quảng cáo cần phẩi biết đợc quy mô
độc giả của từng loại phơng tiện để xác định tổng số độc giả riêng của mình trong
Quản trị Quảng cáo 42 H-ml
10
Đề án môn học
từng chiến dịch quảng cáo. Chính nhờ điều đó, nhà quảng cáo mới có thể lựa chọn
một cơ cấu phơng tiện tối u để phân phát số lợng lớn nhất các bản quảng cáo.
Trên đây là những nhân tố có ảnh hởng tới việc lựa chọn phơng tiện thông
tin quảng cáo. Tuỳ theo từng trờng hợp, nhà quảng cáo có thể lựa chọn các phơng
tiện thông tin đại chúng để đăng tải và truyền phát các thông điệp quảng cáo cho
các bộ phận tiêu biểu của thị trờng tiêu thụ. Hoặc họ có thể sử dụng các phơng tiện
chuyên khảo để đăng tải các thông điệp cho từng nhóm độc giả lựa chọn. Việc
cung cấp có lựa chọn của một số phơng tiện thông tin rất hữu ích cho nhà quảng
cáo trong việc vơn tới thị trờng trọng điểm riêng biệt với chi phí tối thiểu. Trong
thực tiễn, khối lợng các thông tin các thông tin về những đặc điểm của thị trờng
cũng do chính các phơng tiện thông tin trên cung cấp một phần. ở đây cần chú ý
thích đáng đến yếu tố địa lý của thị trờng, tức là phải có kết hợp sự lựa chọn kể
trên với sự lựa chọn địa lý. Khi quyết định kế hoạch các phơng tiện thông tin.
Hiện nay, có nhiều lại phơng tiện thông tin có sẵn cho ngời đi thuê hay nhà
quảng cáo. Mỗi loại phơng tiện có đặc điểm riêng và có vai trò khác nhau đối với
quảng cáo sản phẩm.
Phần II: Thực trạng việc sử dụng phơng tiện quảng cáo trong hoạt
động marketing sản phẩm điện tử của công ty Daewoo Hanel
1. Một số nét khái quát về thị trờng tiêu dùng đồ điện tử ở Việt Nam
Dân số Việt Nam xấp xỉ 80 triệu ngời; gồm 54 dân tộc anh em, đa số là ngời
Kinh chiếm 85% dân số trong cả nớc, tôn giáo phổ biến là đạo Phật. Dân c phân bố
không đồng đều tại khu vực thành thị và nông thông, chỉ có 20% dân
số sinh sống tại thành thị. Thu nhập của ngời dân Việt Nam còn thấp (khoảng
400$/năm)
Việt Nam đợc đánh giá là thị trờng đầy tiềm năm; khi mức thu nhập của ng-
ời dân ngày càng tăng, đời sống của đại bộ phận dân c đã đợc cải thiện, điều đó
dẫn tới nhu cầu mua sắm là rất lớn. Một trong những mặt hàng tiêu dùng đang đợc
Quản trị Quảng cáo 42 H-ml
11
Đề án môn học
tiêu thụ rất mạnh tại Việt Nam là đồ dùng điện tử, hàng năm, số lợng hàng điện tử
đợc ngời dân mua sắm tăng lên với con số chóng măt. Chính vì vậy, tại Việt Nam
hiện nay đã có rất nhiều các hãng điện tử trong nớc cũng nh nớc ngoài đang tồn tại,
phát triển, và cạnh tranh nhau tơng đối khốc liệt. Chúng ta có thể liệt kê một số
hãng lớn đang có mặt trên thị trờng Việt Nam nh SONY, SAMSUNG, LG, TCL,
VTB, JVC, HANEL,DAEWOO
2. Đôi nét về công ty điện tử DAEWOO HANEL
Ngời tiêu dùng tại thị trờng Việt Nam nói riêng, cũng nh ngời tiêu dùng trên
thế giới nói chung hẳn đã đợc biết nhiều tới danh tiếng của tập đoàn DAEWOO
trong những năm vừa qua. DAEWOO đợc biết đến nh là một tập đoàn khổng lồ về
sản xuất nhiều loại hàng hoá khác nhau, nh ô tô, hàng điện tử Ông chủ tập đoàn
này cũng đợc nhiều ngời trên thế giới biết tới qua cuốn sách Thế giới quả là rộng
lớn và có rất nhiều việc chúng ta phải làm. Cuốn sách này sau khi xuất bản đã bán
rât chạy, và vô hình chung, DAEWOO cũng đợc ngời tiêu dùng biết tới nhiều hơn.
Tuy nhiên, ngày nay tập đoàn này đã không còn tồn tại, nhng những thành tựu nó
để lại không ai có thể phủ nhận đợc. Một trong những thành tựu ấy là sản phẩm
điện tử của DAEWOO, thơng hiệu này có mặt ở nhiều nơi trên thế giới; và băt đầu
xâm nhập vào thị trờng Việt Nam từ năm 1995. DAEWOO đã liên doanh với công
ty HANEL, hiện nay sản phẩm điện tử của công ty đã chiếm một thị phần khá lớn
tại Việt Nam bởi chất lợng, mẫu mã cũng nh giá cả tơng đối phù hợp với đại đa số
ngời dân. Công ty có trụ sở chính tại Sài Đồng, Gia Lâm, Hà Nội.
Tại Việt Nam, công ty điện tử DAEWOO HANEL đã sản xuất các sản
phẩm tivi, máy giặt, tủ lạnh và trong thời gian tới này, công ty sẽ sản xuất thêm lò
vi sóng. Với thị trờng này, DAEWOO HANEL cũng đã tạo ra cho mình một
chỗ đứng nhất định, đặc biệt là sản phẩm tủ lạnh, máy giặt của công ty đợc ngời
tiêu dùng Việt Nam đánh giá cao, mức tiêu thụ của hai sản phẩm này trong thời
gian vừa qua đạt con số lớn, thuộc vào loại cao nhất so với các đối thủ cạnh tranh.
Quản trị Quảng cáo 42 H-ml
12
Đề án môn học
3. Đánh giá về các phơng tiện quảng cáo DAEWOO HANEL đã và đang sử
dụng
Hiện nay, công ty điện tử DAEWOO HANEL sử dụng hai loại phơng
tiện truyền tin chủ yếu là truyền hình và báo chí.
Truyền hình là phơng tịên truyền tin đầu tiên công ty nghĩ tới khi muốn giới
thiệu sản phẩm của mình tới ngời tiêu dùng, với một phim quảng cáo có thời lợng
khoảng 30 giây, tần suất phát khoảng 2 lần/ngày, thờng đợc chiếu vào thời gian
buổi tối, trớc khi chiếu phim trên hai kênh lớn là VTV3 và HTV7.
Công ty chọn hai kênh truyền hình này bởi khả năng bao phủ khán giả của chúng
là rất lơn, với VTV3 đợc phủ sóng trên toàn quốc, còn HTV7 đợc phủ sóng ở thành
phố Hồ Chí Minh và một số tỉnh thuộc miền Nam, đều là những thị trờng tiêu thụ
hàng điện tử rất lớn. Hơn nữa, thời gian công ty chọn để phát phim quảng cáo là
hợp lý, thu hút đợc đông đảo lực lợng khán giả bởi lúc này mọi ngời đang trong
trạng thái nghỉ ngơi nên việc tiếp nhận thông tin sẽ đạt hiệu quả tốt hơn. Sau một
thời gian phát phim quảng cáo trên hai kênh truyền hình này, công ty đã tiến hành
nghiên cứu marketing tại hai thành phố lớn là Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh
với mục tiêu chính là nghiên cứu ảnh hởng của phim quảng cáo trên hai kênh
truyền hình này đã có tác động tới ngời tiêu dùng nh thế nào.
Kết quả thật bất ngờ, gần 80% số ngời đợc hỏi đã biết tới sản phẩm của công ty
qua phim quảng cáo trên truyền hình. Đây là một kết quả rất khả quan mà không
phải phơng tiện nào cũng có thể đạt đợc. Tuy nhiên, từ nhận biết sản phẩm tới mua
sắm phải trải qua một giai đoạn dài, ngời tiêu dùng không thể chỉ vì xem phim
quảng cáo trên tivi đã có thể dẫn tới quyết định mua ngay mặc dù họ có thể đang
có nhu cầu. Với phim quảng cáo trên tivi, ngời tiêu dùng cha thể biết hết đợc
những thông tin về sản phẩm của công ty, vả lại khi tiến hành nghiên cứu
marketing tại các thành phố cấp hai nh Hải Phòng, Vũng Tàu, Đà Nẵng, và một số
tỉnh trên toàn quốc, số ngời nhận biết sản phẩm của công ty qua truyền hình chỉ
chiếm khoảng 40%. Nh vậy, quảng cáo trên truyền hình không là cha đủ, chính vì
Quản trị Quảng cáo 42 H-ml
13
Đề án môn học
lí do này, công ty đã quyết định lựa chọn phơng tiện truyền tin thứ hai, báo chí,
đây là một phơng tiện có những u điểm thực sự nổi bật, nó là một công cụ tốt, có
hiệu quả để củng cố cho những thông tin đã đợc truyền tải qua truyền hình. Công
ty đã lựa chọn những đầu báo đợc nhiều ngời quan tâm nh Lao Động, Tuổi Trẻ, đôi
khi có quảng cáo trên thời báo kinh tế và Việt Nam News, diện tích quảng cáo trên
báo chiếm khoảng 1/4 trang.
Ngoài hai phơng tiện truyền tin chủ yếu nêu trên, công ty điện tử
DAEWOO HANEL còn sử dụng một số hình thức truyền tin khác nh phát hành
bản tin nội bộ hàng tuần, điều này sẽ giúp cho các đại lý biết đợc sản
phẩm mới của công ty, qua đó qián tiếp có thể giới thiệu cho ngời tiêu dùng
những thông tin này.
Chi phí dành cho các phơng tiện quảng cáo ngày càng tăng lên một cách rõ
rệt, điều này có thể đợc biểu diễn qua biểu đồ sau:
Trục tung: chi phí dành cho các loại phơng tiện quảng cáo (triệu VNĐ(
Quản trị Quảng cáo 42 H-ml
14
0
1000
2000
3000
Truyen hinh
1530 1720 2215
Bao chi
660 720 815
Khac
430 552 875
2001 2002 2003

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét