Tiểu luận Triết học
A.Đặt Vấn Đề
Bớc vào thiên niên kỷ mới, loài ngời đã và đang có những b-
ớc tiến quan trọng trong công cuộc trinh phục thế giới. Những
thành tựu trong lĩnh vực khoa học - kỹ thuật nói riêng và trong
mọi mặt của đời sống xã hội nói chung đã nâng dần loài ngời lên
một tầm cao mới. Trong sự chuyển biến mạnh mẽ đó, Việt Nam
chúng ta cũng không ngừng biến đổi vận động. Tính đến nay nớc
ta đã thực hiện công cuộc đổi mới đợc hơn một thập kỷ, bên cạnh
những thành tựu đã đạt đợc, những vấn đề của nền kinh tế luôn đặt
ra những thách thức cho các nhà kinh tế. So với thế giới, nớc ta
vẫn là một nớc nghèo, nền kinh tế còn yếu kém, chậm phát triển,
những tàn d của nền kinh tế tập trung quan liêu bao cấp vẫn còn
tồn tại đã kìm hãm sự phát triển của nền kinh tế. Chính vì thế
chúng ta phải nghiên cứu tìm ra hớng đi đúng đắn cho nền kinh tế,
phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh đất nớc, phù hợp với khu vực thế
giới và thời đại. Điều đó cũng có nghĩa là phải phân tích các yếu
tố kinh tế trong tổng thể các mối quan hệ, trong sự vận động, phát
triển không ngừng. Do vậy việc vận dụng quan điểm lịch sử cụ thể
của triết học Mác - Lênin vào qúa trình đối mới kinh tế ở Việt
Nam là rất cần thiết.
Quán triệt quan điểm lịch sử cụ thể vào quá trình đối mới
kinh tế ở Việt Nam sẽ giúp cho nền kinh tế nớc ta có đợc hớng đi
đúng đắn. Vì vậy, trong bài viết tiểu luận triết học của mình em đã
chọn đề tài:
Quan điểm lịch sử cụ thể với công cuộc đối mới
kinh tế ở Việt Nam hiện nay
.
1
Tiểu luận Triết học
Tuy nhiên, do kiến thức còn hạn hẹp sẽ không tránh khỏi nhiều
sai xót. Do vậy, em kính mong nhận đợc sự góp ý và hớng dẫn của các
thầy cô trong khoa để bà viết của em có kết quả tốt hơn.
Hà Nội, tháng 3 năm 2005
Sinh viên: Đỗ Hoàng Anh Tuấn
2
Tiểu luận Triết học
B. Nội dung
I.
Quan điểm lịch sử cụ thể
1. Cơ sở khách quan của quan điểm lịch sử cụ thể
Nguyên lý về mối liên hệ phổ biến và nguyên lý về sự phát
triển là cơ sở hình thành quan điểm lịch sử cụ thể. Mọi sự vật hiện
tợng của thế giới đều tồn tại, vận động và phát triển trong những
điều kiện không gian và thời gian cụ thể xác định. Điều kiện
không gian và thời gian có ảnh hởng trực tiếp tới tính chất, đặc
điểm của sự vật. Cùng một sự vật nhng nếu tồn tại trong những
điều kiện không gian và thời gian cụ thể khác nhau thì tính chất,
đặc điểm của nó sẽ khác nhau, thậm trí có thể làm thay đổi hòan
toàn bản chất của sự vật.
2. Yêu cầu của quan điểm lịch sử cụ thể
Quan điểm lịch sử có 3 yêu cầu:
Thứ nhất: Khi phân tích xem xét sự vật, hiện tợng phải đặt
nó trong điều kiện không gian và thời gian cụ thể của nó, phải
phân tích xem những điều kiện không gian ấy có ảnh hởng nh thế
nào đến tính chất, đặc điểm của sự vật, hiện tợng. Phải phân tích
cụ thể mọi tình hình cụ thể ảnh hởng đến sự vật, hiện tợng.
Thứ hai: Khi nghiên cứu một lý luận, một luận điểm khoa
học nào đó cần phải phân tích nguồn gốc xuất xứ, hoàn cảnh làm
nảy sinh lý luận đó. Có nh vậy mới đánh giá đúng giá trị và hạn
chế của lý luận đó. Việc tìm ra điểm mạnh và điểm yếu có tác
dụng trực tiếp đến quá trình vận dụng sau này.
3
Tiểu luận Triết học
Thứ ba: Khi vận dụng một lý luận nào đó vào thực tiễn phải
tính đến điều kiện cụ thể của nơi đợc vận dụng. Điều kiện này sẽ
ảnh hởng trực tiếp đến kết quả của sự vận dụng đó.
3. Tại sao phải vận dụng quan điểm lịch sử vào quá trình xây
dựng nền kinh tế thị trờng định hớng XHCN ở Việt Nam?
Trớc tiên cần phải khẳng định rằng KTTT định hớng XHCN
cũng là một dạng vật chất. Nền kinh tế Việt Nam là một dạng vật
chất xã hội theo sự phân loại của triết học Mác-Lênin. Chính vì thế
nền KTTT định hớng XHCN Việt Nam cũng tồn tại, vận động và
phát triển theo những nguyên lý, quy luật của triết học Mác-Lênin,
mà cụ thể là trong những điều kiện không gian thời gian theo quan
điểm lịch sử cụ thể.
Sự ra đời và phát triển kinh tế hàng hoá nhiều thành phần
hơn 10 năm qua đã góp phần thay đổi bộ mặt đất nớc, nâng cao
đời sống nhân dân. Tuy nhiên đó cha phải là cái đích cuối cùng
của Đảng ta và nhân dân ta, bởi nền kinh tế nớc ta vẫn còn chậm
phát triển. Khi chúng ta vừa chuyển từ nền kinh tế tập trung quan
liêu bao cấp sang cơ chế thị trờng, từ một nền kinh tế yếu kém lạc
hậu với hệ thống sản xuất, hệ thống quản lý kinh tế với những cán
bộ mang nặng t tởng ỷ lại sang nền KTTT năng động, do đó khó
có thể tránh khỏi những vấp váp sai lầm. Thêm nữa, thời điểm
chúng ta bắt đầu đổi mới, chuyển sang nền KTTT là quá muộn so
với các nớc trên thế giới và khu vực khi mà các nớc t bản nh Mỹ,
Nhật, Tây Âu, đã tiến hành cơ chế thị trờng và phát triển vợt xa
ta mấy trăm năm. Nhờ sử dụng triệt để KTTT, CNTB đã đạt đợc
4
Tiểu luận Triết học
những thành tựu về kinh tế - xã hội, phát triển lực lợng sản xuất,
nâng cao năng suất lao động, quản lý xã hội đã đạt đợc những
thành tựu về văn minh hành chính, văn minh công cộng, con ngời
nhậy cảm tinh tế với khả năng sáng tạo và có cả những tiêu cực:
sự gay gắt dẫn đến tình trạng cá lớn nuốt cá bé sự phân cách
giàu nghèo ngày càng lớn, ô nhiễm môi trờng, tài nguyên cạn kiệt,
tệ nạn xã hội Tuy nhiên, là nớc đi sau và theo CNXH, chúng ta có
cơ hội kế thừa và phát triển những thành tựu của nhân loại mà trớc
hết là sử dụng văn minh cuả KTTT, loại bỏ những khuyết tật của
nó để xây dựng CNXH có hiệu quả hơn.
Chính vì những lẽ đó, chúng ta cần phải vận dụng quan điểm
lịch sử cụ thể vào việc nghiên cứu quá trình xây dựng nền KTTT
định hớng XHCN ở Việt Nam.
II. Quá trình xây dựng nền kinh tế thị trờng định hớng xã
hội chủ nghĩa dới góc nhìn của quan điểm lịch sử cụ
thể
1. Những điều kiện cụ thể ảnh hởng đến quá trình xây dựng nền
kinh tế thị trờng định hớng xã hội chủ nghĩa
a. Những điều kiện trong nớc
Đầu tiên chúng ta cần tìm hiểu xuất phát điểm về kinh tế của
nớc ta khi bắt đầu đổi mới. Bức tranh chung của kinh tế Việt Nam
năm trớc đổi mới là tăng trởng thấp 3,7%/năm, làm không đủ ăn
và dựa vào nguồn viện trợ bên ngoài rất lớn. Thu nhập quốc dân
trong nớc, sản xuất chỉ đáp ứng đợc 80-90% thu nhập quốc dân sử
dụng. Đến năm 1985 tỷ trọng thu từ bên ngoài chiếm 10,2% thu
5
Tiểu luận Triết học
nhập quốc dân sử dụng, nợ nớc ngoài lên tới 8,5 tỷ rúp và 1,9 tỷ
USD. Cũng vào các năm đó nền kinh tế rơi vào tình trạng khủng
khoảng trầm trọng, siêu lạm phát ở mức 774,7% vào năm 1986
kéo theo giá cả leo thang và vô phơng kiểm soát.
Sự tàn phá của chiến tranh và nền kinh tế bao cấp yếu kém
kéo dài đã để lại nhiều hậu quả nặng nề: cơ sở vật chất thấp kém
với nền KH - CN, kỹ thuật lạc hậu, hầu hết các hệ thống máy móc
trong các xí nghiệp đều do Liên Xô cũ giúp đỡ từ trong chiến tranh
nên năng suất thấp, chất lợng kém.
Điều kiện địa lý cũng là một nhân tố quan trọng ảnh hởng
mạnh mẽ đến nền kinh tế. Về địa hình, nớc ta trải dài trên nhiều vĩ
tuyến, bề ngang hẹp, địa hình phức tạp mang đậm nét của sự phân
dị sâu sắc về điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội. Các đặc điểm này
chi phối sự phân công lao động xã hội theo lãnh thổ và phát triển
các vùng kinh tế. Nằm ở Tây Thái Bình Dơng và Đông Nam
á
,
khu vực phát triển cao, ổn định, nơi cửa ngõ của giao lu quốc tế,
Việt Nam có nhiều khả năng để phát triển nhiều loại hình kinh tế
khác nhau dựa trên những lợi thế về vận tải biển, dịch vụ viễn
thông, du lịch. Tài nguyên khoáng sản phân bố không đều trên các
vùng, ngay ở mỗi vùng cũng phân tán và thiếu đồng bộ không gắn
với nhau gây khó khăn cho việc khai thác sử dụng chúng và ảnh h-
ởng đến việc bố chí kinh tế của các vùng. Về dân số, nớc ta có dân
số đông, nguồn lao động dồi dào nhng phân bố cũng không đồng
đều.
6
Tiểu luận Triết học
Về chế độ chính trị: Quan hệ giữa kinh tế và chính trị là một
trong những vấn đề cơ bản của công cuộc đổi mới ở Việt Nam.
Theo các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lênin thì kinh tế
quyết định chính trị chính trị là sự biểu hiện tập trung của kinh
tế, chính trị không phải là mục đích mà chỉ là phơng tiện để thực
hiện mục đích kinh tế. Lênin đã chỉ rõ: để thoả mãn những lợi
ích kinh tế thì quyền lực chính trị chỉ đợc sử dụng làm phơng tiện
đơn thuần. Khẳng định đó của Lênin không có nghĩa là phủ nhận
vai trò quyết định của kinh tế đối với chính trị mà muốn nhấn
mạnh tác động của chính trị đối với kinh tế. Vấn đề kinh tế không
thể tách rời vấn đề chính trị mà nó đợc xem xét giải quyết theo
một lập trờng chính trị nhất định. Nh vậy chúng ta có thể khẳng
định rằng kinh tế và chính trị thống nhất biện chứng với nhau trên
nền tảng quyết định của kinh tế.
Sau khi miền Bắc giải phóng và từ sau năm 1975 thống nhất
đất nớc, cả nớc ta đã kiên quyết đi theo con đờng XHCN - đây là
lựa chọn tất yếu và đúng đắn. Tuy nhiên, vì không qua giai đoạn
TBCN, chúng ta đã gặp nhiều khó khăn và bỡ ngỡ trong công cuộc
xây dựng một hệ thống chính trị vững mạnh. Thêm vào đó, khi ta
đang trong tình trạng ban đầu của công cuộc đổi mới, một giai
đoạn quan trọng mà chính trị là yếu tố định hớng dẫn đờng thì
CNXH ở Liên Xô cũ và các nớc Đông Âu sụp đổ hàng loạt đã gây
nhiều hoang mang cho Đảng và nhân dân ta. Điều này cũng chứng
tỏ rằng đang có rất nhiều thế lực phản động không ngừng tìm cách
phá hoại, lật đổ chế độ CNXH ở nớc ta.
b. Những điều kiện thế giới và khu vực
7
Tiểu luận Triết học
Sau khi chiến tranh lạnh kết thúc, mặc dù thế giới còn nhiều
diễn biến phức tạp nhng hoà bình và hợp tác là xu thế chủ đạo, là
đòi hỏi bức xúc của các dân tộc và các quốc gia. Các cuộc cách
mạng khoa học và công nghệ đạt đợc những bớc tiến vợt bậc đặc
biệt trong lĩnh vực tin học, viễn thông, sinh học, vật liệu mới và
năng lợng mới đang đẩy mạnh quá trình quốc tế hoá cao độ các lực
lợng sản xuất dẫn đến sự phân công lao động quốc tế ngày càng
sâu sắc. Nh vậy có nghĩa là ngày nay, không một nền kinh tế nào
có thể đứng tách ra khỏi cộng đồng quốc tế. Tình hình đó đòi hỏi
một sự hợp tác ngày càng rộng tạo nên thế tuỳ thuộc lẫn nhau giữa
các nớc dù lớn hay nhỏ, phát triển hay đang phát triển. Trong lịch
sử phát triển của xã hội có lẽ cha bao giờ có một sự hợp tác để
phát triển rộng rãi đan xen lồng ghép và nhiều tầng lớp nh hiện
nay với sự hình thành nhiều tổ chức kinh tế nh ASEAN (Hiệp hội
các nớc Đông Nam
á
), WTO (tổ chức thơng mại thế giới) AFTA,
EU,
Đối với các khu vực, Việt Nam nằm trong khu vực Đông
Nam
á
, Châu
á
Thái Bình Dơng, một khu vực đợc coi là có nền
kinh tế năng động và có tốc độ tăng trởng cao nhất thế giới trong
những năm gần đây. Hầu hết các nớc trong khu vực nh Singapore,
Thái Lan, Inđônêsia đều đã tiến hành nền KTTT đợc mấy thập kỷ
và một số nớc đã trở thành các nớc công nghiệp mới (NIC).
Nh vậy thế giới và khu vực đã phát triển vợt ta khá xa về mọi
mặt đặc biệt là về kinh tế. Vì thế đã đặt ra cho Việt Nam nhiều
8
Tiểu luận Triết học
thách thức trong qúa trình phấn đấu xây dựng và cải tiến nền
KTTT định hớng XHCN.
2. Thực trạng quá trình xây dựng nền KTTT định hớng
XHCN ở Việt Nam dới tác động của những điều kiện cụ thể
2.1 Giai đoạn 1986 - 1991
Đây là giai đoạn đầu chúng ta chuyển sang nền KTTT. Do
cha nhận thức đợc đầy đủ những yếu tố cụ thể ảnh hởng đến nền
kinh tế nên ta đã có một số chính sách cha đúng.
Một chính sách sai lầm trong giai đoạn này là tập trung công
nghiệp hoá - hiện đại hoá theo hớng u tiên cho công nghiệp nặng.
Đây là một sai lầm nghiêm trọng đã làm mất rất nhiều thời gian,
tốn rất nhiều tiền bạc bởi lúc này với xuất phát điểm và kinh tế rất
thấp, cơ sở vật chất, công nghệ còn quá lạc hậu thêm vào đó là
thiếu vốn và thiếu đội ngũ các nhà khoa học tài giỏi.
Trong khi đó ta có đầy đủ điều kiện để phát triển công
nghiệp nhẹ. Sự khéo léo cần cù của ngời dân Việt Nam, sự u đãi
của thiên nhiên khí hậu tạo nên một danh mục nông sản đa dạng
phong phú và nhiều loại hình sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ.
Với những điều kiện đó ta hoàn toàn có thể phát triển những ngành
công nghiệp nhẹ mà chỉ cần ít vốn nh công nghiệp chế biến thực phẩm,
đồ mỹ nghệ,
Chuyển sang nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần nhng
trong giai đoạn này lợng hàng hoá của chúng ta còn ít và chất lợng
còn cha tốt. Chính vì thế, hàng hoá sản xuất ra không có sức cạnh
9
Tiểu luận Triết học
tranh trên thị trờng vì số lợng hàng hoá ít nên phần lớn vẫn phải
nhập khẩu và cha xuất khẩu đợc hàng hoá ra thị trờng thế giới.
Với điều kiện địa lý địa hình phức tạp, hệ thống giao thông
vận tải yếu kém nh trên cha có những chính sách phát triển kinh tế
phù hợp với từng vùng, từng miền, chúng ta đã rơi vào tình trạng
đầu t phát triển kinh tế tràn lan, không tập trung, gây nên sự bất
hợp lý giữa các vùng.
Cơ cấu giữa các thành phần kinh tế cũng là một vấn đề đáng
quan tâm. Trong giai đoạn này các thành phần kinh tế mới nh kinh
tế t bản t nhân, kinh tế t bản Nhà nớc cha phát triển, chủ yếu vẫn
là thành phần kinh tế Nhà nớc. Nguyên nhân của vấn đề này là do
ta vẫn còn chậm đổi mới các hình thức sở hữu t liệu sản xuất đã có
trong nền kinh tế bao cấp cũ và cha có đợc những chính sách phù
hợp để kinh tế t bản t nhân và t bản Nhà nớc phát triển.
Tóm lại, trong giai đoạn này mặc dù đã đạt đợc một số thành
tựu, nền kinh tế đã từng bớc ổn định và phát triển, các cơn sốt do
hậu quả của cơ chế quan liêu bao cấp đã dần dà vơi đi nhng nền
kinh tế Việt Nam vẫn cha bớc hẳn ra sự khủng hoảng của những
năm trớc đổi mới.
2.2Giai đoạn 1991 đến nay
Giai đoạn này, do đã dần điều chỉnh phù hợp với những điều
kiện, nhân tố cụ thể ảnh hởng đến nền KTTT nên kinh tế Việt Nam
đã đạt đợc một số thành tựu đáng kể:
Điều đầu tiên cần nói đến là tốc độ tăng trởng kinh tế cao và
tơng đối ổn định. Giai đoạn 1986 - 1990, GDP tăng trung bình
10
Tiểu luận Triết học
3,9% thì đến giai đoạn này GDP tăng bình quân 8,2%. Cơ cấu giữa
các thành phần kinh tế và các ngành cũng hợp lý hơn. Hàng loạt
các công ty, doanh nghiệp t nhân hoạt động trong mọi lĩnh vực đã
ra đời. Dịch vụ thơng mại phát triển tơng đối mạnh đã tạo điều
kiện cho việc sản xuất hàng hoá, làm cho số lợng hàng hoá phong
phú hơn và chất lợng không ngừng đợc cải tiến. Giao thông vận tải
đợc chú trọng sửa chữa và xây mới nên hàng hoá đã đến đợc các
vùng sâu, vùng xa và miền núi.
Một thành tựu quan trọng nữa là trong điều kiện nền kinh tế
thế giới với sự cạnh tranh rất khốc liệt gây ra sự phân cực giàu
nghèo mạnh mẽ với nhiều cuộc khủng hoảng kinh tế nghiêm trọng,
Đảng ta kịp thời rút kinh nghiệm và đã có những đờng lối, chính
sách định hớng cho nền kinh tế phát triển theo đúng định hớng
XHCN, hớng thị trờng hàng hoá vào ũy đạo cạnh tranh lành mạnh
cùng phát triển. Chính vì vậy nền KTTT của ta chẳng những không
xảy ra khủng hoảng mà còn tránh đợc ảnh hởng tiêu cực từ những
cuộc khủng hoảng kinh tế ở các nớc trong khu vực và thế giới mà
cụ thể là cuộc khủng hoảng tiền tệ vào năm 1997. Tuy nhiên nền kinh
tế nớc ta so với khu vực và thế giới vẫn là một nền kinh tế kém phát
triển, cần có nhiều biện pháp để phát triển theo kịp các quốc gia khác.
KTTT đã ra đời và phát triển qua nhiều gia đoạn và cho đến
bây giờ nó vẫn là kiểu kinh tế xã hội tiến bộ nhất. Trải qua các
giai đoạn phát triển, KTTT ngày càng đợc hoàn thiện và đợc áp
dụng trên nhiều quốc gia. Nền KTTT định hớng XHCN ở Việt
Nam mặc dù mới ra đời cách đây hơn một thập kỷ nhng cũng đã
trải qua nhiều thăng trầm, không ngừng vận động và luôn biến đổi
11
Tiểu luận Triết học
dới sự tác động của nhiều yếu tố cả bên ngoài lẫn bên trong bản
thân nền kinh tế. Các yếu tố này vừa không ngừng có ảnh hởng
đến sự phát triển của nền KTTT vừa chịu sự tác động của chính
nền KTTT đó. Nh vậy, trải qua mỗi giai đoạn lại hình thành nên
những yếu tố mới khiến cho công cuộc xây dựng và phát triển nền
KTTT định hớng XHCN Việt Nam ngày càng phức tạp, đòi hỏi
phải có sự phân tích kỹ lỡng chi tiết kịp thời từng yếu tố. Chính vì
vậy quan điểm lịch sử cụ thể luôn là quan điểm gắn liền với quá
trình xây dựng nền KTTT định hớng XHCN Việt Nam.
III. Một số giải pháp nhằm xây dựng nền KTTT theo định
hớng XHCN
Trong giai đoạn hiện nay, chúng ta đang từng bớc xây dựng
cơ sở vật chất để đẩy mạnh quá trình phát triển nền KTTT định h-
ớng XHCN nhanh chóng đa đất nớc trở thành nớc công nghiệp hóa
hiện đại hóa. Và việc nghiên cứu tìm hiểu các yếu tố ảnh hởng để
tìm ra các giải pháp nhằm khắc phục những mặt yếu kém phát huy
những mặt mạnh đang là vấn đề bức thiết. Cụ thể :
Đẩy mạnh việc thu hút vốn đầu t trực tiếp nớc ngoài. Trớc
mắt cần tiếp tục cải tiến hành chính trong lĩnh vực đầu t nớc ngoài
với những qui định rõ ràng thông suốt và đơn giản. Về lâu dài cần
tiến tới xây dựng một hành lang pháp lý chung cho các nhà đầu t
nớc ngoài cũng nh trong nớc để tạo một sân chơi bình đẳng.
Huy động tối đa và sử dụng có hiệu quả nguồn vốn trong n-
ớc. Trong lĩnh vực này, huy động tiết kiệm là mục tiêu hàng đầu,
12
Tiểu luận Triết học
từ đó sẽ phát huy đợc hết các nguồn nội lực thúc đẩy nền kinh tế
phát triển.
Tiếp tục cân đối lại các thành phần kinh tế và các ngành; chú
trọng phát triển kinh tế giữa các vùng hợp lý hơn. Tăng cờng hội nhập
hợp tác với các nền kinh tế trong khu vực và thế giới; giữ vững vai trò
của Nhà nớc trong việc điều tiết vĩ mô, định hớng nền KTTT theo định
hớng XHCN, lấy công bằng xã hội làm mục tiêu tăng trởng kinh tế, bảo
đảm nguồn nhân lực thông qua hệ thống giáo dục đào tạo, bảo đảm y tế,
nâng cao trình độ văn hoá cho ngời lao động. Giữ vững an ninh, trật tự
xã hội, củng cố sự nghiệp quốc phòng an ninh nhằm ngăn chặn mọi thế
lực phản động phá hoại trong và ngoài nớc; Tích cực cải tạo xã hội, xoá
bỏ các tệ nạn xã hội nh tham nhũng, nghiện hút, mại dâm, ma tuý, hạn
chế ô nhiễm môi trờng, giữ vững sự cân bằng sinh thái. Muốn vậy cần
nâng cao nhận thức con ngời trong việc bảo vệ giữ gìn cuộc sống của
chính họ; vận dụng sáng tạo, không rập khuôn các mô hình KTTT trên
thế giới; Có phơng hớng kết hợp định hớng XHCN với tăng trởng kinh
tế trong những năm tới.
13
Tiểu luận Triết học
C. kết luận
Với việc áp dụng quan điểm lịch sử cụ thể vào công cuộc đổi
mới kinh tế ở Việt Nam, chúng ta đã có đợc một nền kinh tế thị tr-
ờng năng động, một nền kinh tế theo định hớng XHCN với những
thành tựu hết sức to lớn: Nhịp độ bình quân hàng năm về sản phẩm
quốc nội trong 5 năm 1991 -1995 là 8,5%, nhịp độ tăng bình quân
hàng năm về sản xuất công nghiệp là 13,3%, sản xuất nông nghiệp
là 4,5%, kim ngạch xuất khẩu 20%. Cơ cấu kinh tế có bớc chuyển
đổi tích cực: tỷ trọng công nghiệp và xây dựng trong GDP từ
22,7% năm 1990 lên 30,3% năm 1995, tỷ trọng dịch vụ từ 38,6%
lên 41,5%. Bắt đầu có tích luỹ từ nội bộ nền kinh tế. Vốn đầu t cơ
bản toàn xã hội tăng từ 15,8% GDP năm 1990 lên 27,7% năm
1995. Lạm phát bị đẩy lùi từ 67,1% năm 1991 xuống 12,4% đầu
năm 1995. Quan hệ sản xuất đợc điều chỉnhphù hợp hơn với yêu
cầu của lực lợng sản xuất. Số hộ có thu nhập trung bình số hộ giàu
tăng lên, tỷ lệ hộ nghèo giảm.
Bên cạnh những thành tựu đã đạt đợc, nền kinh tế nớc ta vẫn
còn những hạn chế nhất định, đất nớc ta vẫn còn chậm phát triển
so với khu vực và thế giới. Chúng ta cần phải áp dụng các giải
pháp hợp lý để cải thiện tình hình, đặc biệt chú trọng đến sự vận
dụng đến sự vận dụng sáng tạo để có đợc một nền KTTT hoàn
chỉnh, phát huy hết tính u việt của nó và tránh đợc những sai lầm
của nền KTTT của các quốc gia khác.
Từng bớc thực hiện các giải pháp để đề ra, Việt Nam sẽ có
thêm tự tin bớc vào thế kỷ 21 với những thách thức mới, cơ hội
mới. Nền KTTT định hớng XHCN Việt Nam sẽ ngày càng phát
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét