BỘ TƯ PHÁP
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Hà Nội, ngày 06 tháng 01 năm 2009
KẾT LUẬN
của Bộ trưởng Hà Hùng Cường
tại Hội nghị triển khai công tác tư pháp năm 2009
Sau 2 ngày làm việc khẩn trương, Hội nghị triển khai công tác tư
pháp năm 2009 đã thành công tốt đẹp, theo đúng tinh thần chỉ đạo của
Thủ tướng Chính phủ: thực chất, hiệu quả, tiết kiệm. Hội nghị năm nay
được chuẩn bị khá công phu; nội dung thiết thực, sát với yêu cầu công
tác của Ngành; thành phần tham dự phù hợp với nội dung; các dự thảo
văn kiện Hội nghị tương đối có chất lượng; cách thức điều hành có nhiều
điểm mới như: công bố quy chế Hội nghị, sắp xếp chỗ ngồi đại biểu theo
sơ đồ, giảm thời lượng các báo cáo, dành nhiều thời gian cho đại biểu
thảo luận và phát biểu Hội nghị đã nghe và thảo luận Báo cáo tổng kết
công tác tư pháp năm 2008, phương hướng, nhiệm vụ năm 2009,
Chương trình công tác trọng tâm của ngành Tư pháp năm 2009; Báo cáo
tổng kết công tác thi đua năm 2008, phát động phong trào thi đua năm
2009; các báo cáo chuyên đề về triển khai Luật Ban hành VBQPPL,
Luật Thi hành án dân sự, Luật Quốc tịch Việt Nam (sửa đổi), về công tác
tổ chức cán bộ và bán đấu giá tài sản.
Hội nghị rất vui mừng được đón đồng chí Nguyễn Tấn Dũng, Uỷ
viên Bộ Chính trị, Thủ tướng Chính phủ đến dự và phát biểu ý kiến chỉ
đạo. Trong bài phát biểu của mình, Thủ tướng thông báo khái quát tình
hình trong nước và quốc tế, những thành tựu kinh tế - xã hội mà cả nước
đạt được trong năm 2008, những khó khăn, thách thức của năm 2009.
Thủ tướng ghi nhận và biểu dương kết quả công tác tư pháp thời gian
qua, đặc biệt là trong năm 2008, đồng thời chỉ đạo công tác của Ngành
trong năm 2009 phải thực hiện tốt các nhóm nhiệm vụ lớn là: Tập trung
nâng cao chất lượng công tác xây dựng pháp luật, thể chế, tạo sự chuyển
biến tích cực trong công tác này; thực hiện Chiến lược xây dựng, hoàn
thiện hệ thống pháp luật; thực hiện tốt nhiệm vụ theo dõi tình hình thi
hành pháp luật; đẩy mạnh công tác thi hành án dân sự; tăng cường công
tác đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho Ngành, cho đất nước. Thủ
tướng mong muốn rằng, qua việc thực hiện đầy đủ, hiệu quả chức năng,
nhiệm vụ, quyền hạn của mình, Bộ Tư pháp; cơ quan Tư pháp, cơ quan
Thi hành án dân sự địa phương; các tổ chức pháp chế Bộ, ngành, địa
phương phải thực sự trở thành bộ phận tham mưu, chỗ dựa đáng tin cậy
cho Chính phủ, các Bộ, ngành, HĐND, UBND các cấp trong việc xây dựng,
thực hiện chính sách, pháp luật và quản lý, tổ chức thực hiện các lĩnh vực
công tác tư pháp. Đặc biệt Thủ tướng đã nhấn rất mạnh vai trò trực tiếp,
không chỉ trước mắt mà có tính chiến lược, lâu dài của Ngành đối với sự
phát triển kinh tế - xã hội của đất nước và mỗi địa phương.
Thủ tướng đã đồng ý để Văn phòng Chính phủ phối hợp với Bộ Tư
pháp hoàn chỉnh bài phát biểu để phổ biến, quán triệt trong toàn Ngành.
Tôi đề nghị, sau Hội nghị này, các đồng chí đại biểu sẽ chỉ đạo đơn vị
mình quán triệt sâu sắc những ý kiến chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ,
liên hệ với thực tế đơn vị, địa phương mình để xác định đúng trọng tâm,
trọng điểm trong công tác năm 2009; tìm ra những giải pháp đồng bộ,
khả thi, nhất là những giải pháp đột phá để tạo chuyển biến mạnh trong
năm mới, để công tác của Ngành ta đóng góp tích cực hơn nữa vào sự phát
triển kinh tế - xã hội của đất nước mà trước hết là nhiệm vụ ngăn chặn suy
giảm kinh tế, ổn định kinh tế vĩ mô, duy trì tăng trưởng hợp lý, bền vững
và bảo đảm an sinh xã hội, như Nghị quyết của Chính phủ đã đề ra.
Hội nghị đã nghe 16 ý kiến tham luận xung quanh các lĩnh vực
công tác của Ngành (nhiều hơn Hội nghị năm ngoái 3 ý kiến). Đa phần
các ý kiến tham luận đều đặt trúng vấn đề, sát với nội dung các báo cáo
tại Hội nghị; khá thẳng thắn, thể hiện thái độ nghiêm túc và tinh thần
trách nhiệm cao. Về cơ bản các ý kiến phát biểu đều nhất trí với nội
dung của các báo cáo trình Hội nghị. Tuy nhiên, nhiều đại biểu cũng nêu
lên những khó khăn, vướng mắc, sự trăn trở của các địa phương đối với
một số lĩnh vực công tác của Ngành như: công tác xây dựng và thẩm
định văn bản; mô hình tổ chức cơ quan Thi hành án dân sự; bán đấu giá
tài sản, hộ tịch có yếu tố nước ngoài, sự phối hợp giữa quản lý Ngành
với quản lý lãnh thổ, giữa các cơ quan tư pháp với với cấp uỷ, chính
quyền địa phương, v.v
Hội nghị cũng đã nghe Thủ trưởng một số đơn vị thuộc Bộ giải
đáp về những vấn đề các đại biểu nêu ra. Mặc dù mức độ hài lòng đối
với nội dung trả lời có thể khác nhau nhưng cần ghi nhận một điều là
trong năm 2008 cơ chế phối hợp công tác giữa các đơn vị thuộc Bộ và
các cơ quan Tư pháp, Thi hành án dân sự địa phương đang được quan
tâm và có chuyển biến tích cực.
Có thể nói, Hội nghị đã tập trung được trí tuệ tập thể để đánh giá
đúng kết quả công tác năm qua; nhận rõ các hạn chế, yếu kém, khuyết
điểm, vướng mắc, phân tích sâu nguyên nhân, nhất là các nguyên nhân
chủ quan; xác định cơ bản chính xác phương hướng, nhiệm vụ trọng tâm
năm 2009, đồng thời tìm ra các giải pháp thực hiện, nhất là các giải pháp
2
mang tính đột phá, để tạo ra những chuyển biến mạnh trong năm 2009,
tạo đà cho những năm tiếp theo.
Kết thúc Hội nghị, tôi sơ bộ kết luận về 2 vấn đề lớn sau đây:
A/ VỀ KẾT QUẢ CÔNG TÁC NĂM 2008
I. Những kết quả tích cực đã đạt được:
Hội nghị triển khai công tác tư pháp năm 2008 đã đưa ra 7 nhóm
nhiệm vụ trọng tâm công tác của Ngành năm 2008 là: (1) đẩy mạnh công
tác xây dựng, thẩm định, kiểm tra, rà soát, hệ thống hóa văn bản quy
phạm pháp luật; (2) tập trung thực hiện đồng bộ các giải pháp nhằm thực
sự tạo chuyển biến cơ bản trong công tác thi hành án dân sự; (3) tiếp tục
lộ trình cải cách hành chính, cải cách tư pháp; (4) thu hút nhân tài, nâng
cao chất lượng đào tạo luật, đào tạo nghề, đáp ứng yêu cầu về nguồn
nhân lực; (5) kiện toàn bộ máy của cơ quan tư pháp các cấp, nhất là tư
pháp cấp xã; (6) tăng cường kỷ cương, kỷ luật, đổi mới lề lối làm việc,
thông tin hai chiều; đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin; tăng cường
vai trò của báo chí, cổng thông tin điện tử; xây dựng, áp dụng hệ thống
quản lý chất lượng theo TCVN ISO 9000-2000 vào hoạt động của Bộ và
Ngành; (7) phối hợp chặt chẽ với các Bộ, ngành, cấp ủy, chính quyền địa
phương để thực hiện hiệu quả công tác tư pháp.
Trong tình hình khó khăn chung của đất nước, công tác tư pháp
năm vừa qua được toàn Ngành triển khai đồng bộ, rộng khắp, có trọng
tâm, trọng điểm và đã đạt được nhiều thành tích, có những đóng góp
quan trọng cho sự phát triển kinh tế, xã hội, củng cố quốc phòng - an
ninh ở địa phương và cả nước, những kết quả nổi bật được thể hiện trên
một số lĩnh vực sau:
1. Công tác xây dựng, thẩm định, góp ý, kiểm tra, rà soát, hệ
thống hóa văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL) đã gắn kết hơn với
nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội của từng địa phương và cả nước,
bước đầu bắt nhịp được với những vấn đề xã hội bức xúc, tiếp tục đóng
góp tích cực vào quá trình xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật,
thể chế của đất nước, góp phần nâng cao vị thế và uy tín cho Ngành.
(1) Tỷ lệ hoàn thành các đề án, văn bản khá cao (đạt 80,95% so với
kế hoạch, tăng 12,95% so với năm 2007; riêng việc xây dựng và trình các
dự án luật, đề án trình Chính phủ, Uỷ ban Thường vụ Quốc hội, Ban Bí
thư đạt 100% kế hoạch); nhiều dự án luật phức tạp nhưng vẫn hoàn thành
đúng tiến độ, trong đó có nhiều nội dung mới, mang tính đột phá, được
Chính phủ đồng thuận.
Việc Quốc hội thông qua Luật Ban hành VBQPPL với những tư
tưởng và nội dung mới, tiến bộ, là một thành công lớn của ngành Tư
pháp, góp phần cải thiện một bước công tác xây dựng, hoàn thiện hệ
3
thống pháp luật theo hướng đầy đủ, đồng bộ, minh bạch, đơn giản, dễ
hiểu, dễ áp dụng, phù hợp với thực tiễn như Nghị quyết số 48 đã đề ra.
(2) Công tác xây dựng, thẩm định, kiểm tra, rà soát văn bản ở
nhiều địa phương đã đi vào nền nếp, chất lượng hơn, tiến độ có nhanh
hơn, được Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, các Bộ, ngành tin
tưởng. (Nhiều đồng chí Lãnh đạo địa phương phát biểu là: chỉ yên tâm ký
văn bản nếu đã có ý kiến của cơ quan Tư pháp).
(3) Hoạt động kiểm tra văn bản đã phát hiện, đề xuất xử lý một số
văn bản pháp luật có vi phạm, được dư luận xã hội đồng tình, giúp một
số địa phương tháo gỡ khó khăn về thể chế và vướng mắc trong thi hành
pháp luật. Đề án Tổng rà soát hệ thống pháp luật Việt Nam đã được Bộ
tham mưu cho Chính phủ xây dựng, trình Quốc hội phê duyệt, khi triển
khai thực hiện sẽ từng bước “phát quang” “rừng luật” của chúng ta. Việc
thí điểm cơ bản đã được hoàn thành ở TP. Hồ Chí Minh và Nghệ An.
(4) Công tác theo dõi chung về thi hành pháp luật đã có một số
việc thực hiện tốt, đề xuất được những vấn đề lớn cho Chính phủ, Thủ
tướng Chính phủ. Điều quan trọng là bước đầu đã hình thành rõ rệt hơn
cách tiếp cận hệ thống, liên ngành đối với cả hệ thống pháp luật, gắn với
các cam kết hội nhập kinh tế quốc tế.
2. Công tác thi hành án dân sự đã có bước chuyển biến tích cực.
(1) Kết quả thi hành án tăng nhiều so với năm ngoái [thi hành xong
hoàn toàn tăng 7,16% về việc, 16,11 % về tiền trong số án có điều kiện
thi hành; giảm 9,5% việc tồn đọng); giải quyết dứt điểm hoặc một bước
cơ bản nhiều vụ việc khiếu nại phức tạp, tồn đọng kéo dài (đã tổ chức
cưỡng chế thành công vụ việc thi hành án nhà 84 A Nguyễn Du, TP. Hồ
Chí Minh).
(TP. Hồ Chí Minh là địa bàn có số lượng án bằng 1/6 về việc so với
toàn quốc, 1/3 về tiền; nhiều vụ có giá trị lớn, phức tạp, nhưng năm 2008
lần đầu tiên đã hoàn thành vượt chỉ tiêu thi đua về việc và về tiền. Thi
hành án Nam Định đã tranh thủ tốt sự lãnh đạo của cấp uỷ, chính quyền
địa phương; tăng cường đối thoại, chú trọng công tác dân vận, nên cả
năm 2008 chỉ phải thực hiện cưỡng chế có 05 vụ; Thi hành án TP. Hoà
Bình giải quyết được đến 59% án tồn đọng. Thi hành án Hà Nội sau khi
hợp nhất gặp nhiều khó khăn về tổ chức, cán bộ, trụ sở làm việc nhưng đã
từng bước ổn định tư tưởng, duy trì hoạt động bình thường).
(2) Thể chế công tác thi hành án dân sự được hoàn thiện một bước
căn bản. Bộ đã tham mưu cho Thủ tướng Chính phủ ban hành Chỉ thị số
21 và đã tổ chức thực hiện cơ bản đồng bộ. Luật Thi hành án dân sự
được Quốc hội thông qua với nhiều nội dung mới, mang tính đột phá,
tập trung mạnh vào việc kiện toàn tổ chức, cán bộ của hệ thống cơ quan
thi hành án theo ngành dọc từ Trung ương xuống địa phương, thủ tục,
4
trình tự công tác tổ chức thi hành án đơn giản hơn, sự phối hợp giữa cơ
quan thi hành án với các ngành, cơ quan, tổ chức có liên quan chặt chẽ
hơn, khi có hiệu lực sẽ tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc hiện tại,
đồng thời mở sang một trang mới; củng cố vị thế của khối Thi hành án
để có khả năng đón nhận những nhiệm vụ mới trong tương lai.
Chủ trương từng bước xã hội hoá hoạt động thi hành án dân sự đã
được Quốc hội chấp thuận và khẳng định trong Nghị quyết thi hành Luật
Thi hành án dân sự; Đề án Thừa phát lại sẽ được triển khai thí điểm tại
TP. Hồ Chí Minh vào năm sau.
3. Công tác hành chính tư pháp đạt nhiều kết quả tích cực, nhất
là về thể chế.
(1) Luật Quốc tịch Việt Nam (sửa đổi) là đạo luật mang tính chính
trị - pháp lý cao, phức tạp, nhạy cảm, đã được Quốc hội thông qua, chấp
nhận hầu hết những chính sách mà Chính phủ và Ngành Tư pháp đã
nung nấu trong nhiều năm, có cái chưa đưa được vào Luật 1998; vì vậy,
Luật chắc chắn sẽ có sức sống lâu dài. Luật Lý lịch tư pháp đã được
trình Quốc hội cho ý kiến; nếu được thông qua như đề nghị của Chính
phủ sẽ giúp cải thiện đáng kể công tác lý lịch tư pháp. Nhiều thông tư
hướng dẫn đã được Bộ ban hành hoặc liên tịch ban hành nhằm tháo gỡ
những khó khăn, vướng mắc trong hoạt động quản lý công tác chứng
thực, hộ tịch.
(2) Việc cải cách thủ tục hành chính, ứng dụng công nghệ thông
tin trong các hoạt động chứng thực, hộ tịch, quốc tịch, lý lịch tư pháp đã
được nhiều địa phương đẩy mạnh dưới nhiều hình thức khác nhau, tạo
thuận lợi hơn cho người dân, doanh nghiệp, tổ chức.
4. Công tác bổ trợ tư pháp: Tiếp tục chú trọng việc xã hội hoá
hoạt động công chứng, tư vấn pháp luật; phát triển mạng lưới tổ chức,
kiện toàn đội ngũ, nâng cao năng lực hoạt động để phục vụ đắc lực hơn
các nhiệm vụ của cải cách tư pháp, hội nhập kinh tế quốc tế, góp phần
bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người dân, doanh nghiệp và tổ chức.
(1) Sự ra đời của các Văn phòng công chứng bước đầu được xã hội
đón nhận. Tới đây khi tiến hành sơ kết 2 năm thực hiện Luật Công
chứng sẽ có những đánh giá đầy đủ hơn.
(2) Việc tổ chức xong Đại hội các đoàn luật sư trong toàn quốc đã
tạo tiền đề quan trọng cho thành công của Đại hội đại biểu luật sư toàn
quốc được tiến hành trong thời gian tới để thành lập Liên đoàn luật sư
Việt Nam. Qua kỳ Đại hội này, đã tạo vị thế mới cho các Đoàn luật sư,
các Sở Tư pháp đối với cấp uỷ, chính quyền các tỉnh.
(3) Nghị định 93 đã khẳng định rõ việc Chính phủ giao cho Bộ Tư
pháp quản lý thống nhất về tổ chức và hoạt động bán đấu giá tài sản
5
trong phạm vi cả nước, là cơ sở quan trọng để sửa đổi Nghị định số 13
và Nghị định số 05 trong thời gian tới. Bộ đã trình Thủ tướng dự thảo
Quyết định mới về chế độ bồi dưỡng đối với giám định viên.
5. Công tác phổ biến giáo dục pháp luật, trợ giúp pháp lý đã sát
với nhu cầu thực tiễn, tiếp tục có những cải tiến về phương thức thực
hiện, nên đi vào thực chất hơn, cần cho người dân hơn.
(1) Việc tổng kết 10 năm thực hiện Pháp lệnh hoà giải và triển
khai tủ sách pháp luật được thực hiện bài bản.
(2) Thể chế công tác trợ giúp pháp lý tiếp tục được kiện toàn trong
năm 2008, đến nay về cơ bản đã đầy đủ, là hình mẫu để các đơn vị quản
lý ngành thuộc Bộ suy nghĩ, vận dụng. Hoạt động đăng ký giao dịch bảo
đảm tiếp tục xu hướng phát triển mạnh, góp phần tạo sự an toàn pháp lý
cho các giao dịch.
(3) Báo Pháp luật Việt Nam bước đầu có khởi sắc. Nhà xuất bản
Tư pháp đã dần đi vào thế ổn định.
6. Công tác xây dựng Ngành trong năm 2008 (“Năm tổ chức,
cán bộ”của Bộ) đã đạt những kết quả bước đầu rất quan trọng.
(1) Nghị định số 93 thay thế Nghị định số 62 quy định chức năng,
nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Tư pháp bổ sung chức
năng theo dõi chung về thi hành pháp luật; quản lý thống nhất về tổ chức
và hoạt động đấu giá tài sản; một số đơn vị được sắp xếp lại; thành lập
mới một số đơn vị (Vụ Các vấn đề chung về xây dựng pháp luật, Cơ quan
đại diện tại TP. Hồ Chí Minh); một số đơn vị được bổ sung nhiệm vụ
mới; Tổ chức, cán bộ các cơ quan Tư pháp, Thi hành án dân sự từ Trung
ương đến địa phương tiếp tục được sắp xếp một bước quan trọng; nhiều
Sở Tư pháp làm tốt công tác tham mưu cho chính quyền địa phương trong
việc tăng biên chế cho đội ngũ cán bộ tư pháp cấp xã và huyện.
(2) Thông tư liên tịch thay thế Thông tư số 04/2005/TTLT-BTP-
BNV hướng dẫn về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức các cơ
quan chuyên môn giúp UBND quản lý nhà nước về công tác tư pháp ở
địa phương mặc dù vẫn còn những ý kiến khác nhau, song về cơ bản đã
được hoàn tất; nếu Bộ Nội vụ chấp thuận, chắc chắn sẽ tạo bước phát
triển đột phá cho Tư pháp địa phương.
7. Công tác nghiên cứu khoa học, đào tạo đại học, đào tạo nghề
có những chuyển biến mới. Viện Khoa học pháp lý đã giúp Bộ, Ngành
sơ kết 3 năm thực hiện Nghị quyết số 49 về Chiến lược cải cách tư pháp
được đánh giá cáo, đồng thời tham gia tích cực vào công việc cải cách tư
6
pháp của đất nước. Khởi động xây dựng Đề án các Trường Trung học
Luật (tư pháp) khu vực.
II. Những tồn tại, hạn chế, yếu kém:
Bên cạnh những kết quả tích cực đã đạt được, chúng ta cần thẳng
thắn thừa nhận nhiều lĩnh vực công tác của Ngành kết quả đạt được chưa
cao; việc triển khai một số nhiệm vụ trọng tâm còn lúng túng, chậm tiến
độ, thiếu hiệu quả, cụ thể như sau:
1. Công tác xây dựng, thẩm định, kiểm tra, rà soát văn bản:
- Hoạt động xây dựng, thẩm định, kiểm tra văn bản còn rập khuôn,
máy móc; thoát khỏi pháp lý thuần tuý chứ chưa thực sự “bắt rễ” sâu vào
các nhu cầu của đời sống kinh tế - xã hội để điều chỉnh linh hoạt trong
từng giai đoạn, từng hoàn cảnh cụ thể, nhất là khi Chính phủ, các địa
phương phải thực hiện các giải pháp tình thế, cấp bách để kìm chế lạm
phát, ổn định kinh tế vĩ mô, hạn chế suy giảm kinh tế (Cả lý luận và
thực tiễn đều chưa có sự chuẩn bị tốt cho tình huống áp dụng Luật, pháp
lệnh - được ban hành để điều chỉnh các quan hệ xã hội trong trạng thái
bình thường - vào trong trong hoàn cảnh kinh tế có những diễn biến bất
bình thường.)
- Chưa tạo được bước đột phá như chờ đợi về chất lượng thẩm
định VBQPPL, kể cả đối với các dự án luật. Sự tham gia tích cực ngay
từ đầu vào công tác soạn thảo chưa đồng bộ. Việc thẩm định đôi khi còn
dễ dãi (ví dụ: Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Dân sự
(phần quy định về lãi suất cơ bản do Ngân hàng nhà nước công bố), Luật
Đất đai (sửa đổi), Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (sửa đổi), Luật
các tổ chức tín dụng (sửa đổi), Công ước Liên Hợp quốc về phòng, chống
tham nhũng.
- Công tác văn bản ở địa phương chất lượng chưa đều; cấp huyện
và cấp xã còn nhiều hạn chế, yếu kém. Công tác kiểm tra, xử lý văn bản
của các Sở Tư pháp chưa hiệu quả. (Các địa phương cần xem lại công
tác thẩm định văn bản đã phát hiện những sai sót về nội dung hay chưa?
Tại sao chỉ số cạnh tranh về môi trường đầu tư (CPI) của tỉnh này tăng,
tỉnh kia lại giảm, có nguyên do từ công tác tư pháp hay không? Những
vấn đề này đã bao giờ được đặt lên bàn Giám đốc STP chưa?)
- Việc xây dựng một số đề án, dự án thuộc thẩm quyền ban hành
của Bộ còn chậm, chất lượng chưa cao.
2. Công tác thi hành án dân sự:
- Việc kiện toàn Cục THADS còn chậm; hướng dẫn nghiệp vụ của
Cục chưa kịp thời, chất lượng chưa cao; việc xây dựng Đề án tổ chức thí
điểm thừa phát lại quá chậm. (Theo chương trình của Quốc hội, 1/7/2009
phải triển khai đề án, sau 3 năm phải tiến hành sơ kết báo cáo Quốc hội.)
7
- Chưa tổ chức giao chỉ tiêu, kế hoạch cho từng địa phương như chủ
trương Lãnh đạo Bộ đã đề ra đầu năm 2008.
- Việc phân loại án không có điều kiện thi hành, chưa có điều kiện
thi hành ở một số cơ quan THADS chưa chính xác, tỷ lệ án được xác định
không có điều kiện thi hành trong toàn quốc còn lớn.
- Sự phối hợp giữa Cục Thi hành án dân sự với Giám đốc Sở Tư
pháp, với cấp uỷ, chính quyền địa phương nhìn chung chưa kịp thời,
nhiều cái còn trông chờ nhau. Cán bộ thi hành án nhìn chung còn thiếu và
yếu, nhiều địa phương chưa tuyển dụng hết biên chế; còn nhiều sai sót
trong thực hiện nghiệp vụ, hiện tượng nhũng nhiễu, vi phạm pháp luật
tiếp tục xảy ra; một bộ phận thiếu kỹ năng thuyết phục, dân vận làm chưa
tốt, dẫn đến nhiều vụ việc phải cưỡng chế; kỷ cương, kỷ luật hành chính
còn bị buông lỏng ở nhiều đơn vị;
- Nhiều vụ việc có khiếu nại bức xúc phức tạp, kéo dài chưa được
giải quyết dứt điểm;
- Cơ sở vật chất, phương tiện làm việc còn nghèo nàn, lạc hậu so
với mặt bằng của cơ quan công quyền ở địa phương; tầm nhìn đầu tư
ngắn, chưa hiệu quả; việc ứng dụng công nghệ thông tin phục vụ hoạt
động chỉ đạo điều hành chưa có chuyển biến tích cực.
3. Công tác hành chính tư pháp, bổ trợ tư pháp:
- Hoạt động quản lý hộ tịch cơ bản còn làm thủ công, nhiều sai sót;
biểu mẫu lúng túng; quản lý việc kết hôn có yếu tố nước ngoài, con nuôi
nước ngoài còn bức xúc, nhất là ở các tỉnh phía Nam.
- Hoạt động chứng thực quá tải, tràn lan, thiếu tính chuyên nghiệp,
chất lượng thấp; còn lúng túng, sơ hở dẫn đến nguy cơ bị lợi dụng, nhất là
liên quan đến hợp đồng, giao dịch về bất động sản, bản dịch;
- Con nuôi quốc tế là lĩnh vực nhạy cảm, tiềm ẩn tiêu cực, đã để xảy
ra những vấn đề không đáng có xung quanh việc không ra hạn Hiệp định
nuôi con nuôi với Hoa Kỳ, tới đây là Thuỵ Điển ; các vụ việc tiêu cực
trong các Trung tâm nuôi dưỡng ở Nam Định, Hoà Bình.
- Quản lý hành nghề luật sư còn lỏng lẻo, bộc lộ rõ qua kỳ Đại hội
vừa rồi, 02 tỉnh chưa có đoàn luật sư, đến nay chưa rõ giải pháp tích cực
để khắc phục. Chưa kết hợp tốt giữa quản lý nhà nước với vai trò tự quản
của các tổ chức luật sư.
- Những vướng mắc trong quản lý nhà nước về giám định tư pháp,
mặc dù đã phát sinh từ lâu, nhưng chưa có giải pháp bài bản, căn cơ để
giải quyết; tiến độ xây dựng Đề án quy hoạch phát triển tổ chức và đội
ngũ giám định viên tư pháp còn chậm.
- Nhiều vướng mắc về thể chế, cơ chế liên quan đến công tác công
chứng, chứng thực, lý lịch tư pháp, đấu giá tài sản, giám định tư pháp
8
chưa được tháo gỡ hiệu quả, kịp thời. Một số địa phương chưa chủ động
tham mưu cho UBND chuyển việc công chứng hợp đồng, giao dịch liên
quan đến quyền sử dụng đất cho Phòng công chứng; đã có hiện tượng giải
thể một vài Phòng công chứng nhà nước vì không có việc làm.
4. Về công tác tổ chức cán bộ:
- Tư pháp cấp huyện, cấp xã còn thiếu về số lượng và yếu về
chuyên môn, nghiệp vụ; bố trí chưa đủ tầm; một bộ phận lớn chưa qua
đào tạo luật. Việc kiện toàn đội ngũ cán bộ tư pháp cơ sở ở nhiều địa
phương chưa thật quyết liệt. (Tại Hội nghị, Thủ tướng đã rất bức xúc khi
nghe Lãnh đạo Bộ báo cáo hiện nay cả nước có tới 37 % cán bộ tư pháp
cấp xã chưa có trình độ trung cấp luật).
- Việc thu hút nguồn tuyển dụng chưa hiệu quả, cơ chế tuyển dụng
cán bộ vào cơ quan tư pháp, cơ quan thi hành án ở một số nơi chưa tốt,
chưa khơi thông được nguồn tuyển dụng; việc luân chuyển, điều động cán
bộ, tạo môi trường làm việc chưa có nhiều chuyển biến rõ rệt; hiện tượng
xin ra khỏi Ngành đang là thách thức.
- Công tác đào tạo cán bộ cho Ngành và cho xã hội chưa có chuyển
biến mạnh, việc xây dựng và triển khai Đề án "Xây dựng Trường Đại học
Luật Hà Nội thành trường trọng điểm đào tạo cán bộ về pháp luật" còn
chậm so với yêu cầu.
- Công tác thi đua - khen thưởng còn mang tính hình thức, chưa
thực sự trở thành động lực tăng cường trách nhiệm, nâng cao chất lượng
công tác của các địa phương, đơn vị và toàn Ngành; thực hiện chưa có kế
hoạch, bài bản, rất chậm.
- Công tác chỉ đạo, điều hành của Bộ và các Giám đốc Sở tư pháp
còn chưa kịp thời, chưa thực sự hướng về cơ sở, nhiều việc chưa giúp
tháo gỡ vướng mắc cho địa phương; việc hướng dẫn địa phương thiếu kịp
thời, có việc rất thiếu trách nhiệm, như trường hợp Bộ trưởng đã phải xin
lỗi Phòng Công chứng số 1 TP. Hồ Chí Minh.
Đánh giá khái quát kết quả công tác năm 2008:
Nhìn một cách tổng quát, công tác tư pháp năm 2008 có nhiều
khởi sắc với nhiều việc đã làm được, được Quốc hội, Chính phủ ghi
nhận. Nhiệm vụ của Ngành đã được triển khai một cách đồng bộ, rộng
khắp, có trọng tâm, trọng điểm; bám sát thực tiễn địa phương và cả
nước; nhiều lĩnh vực công tác đạt kết quả tốt, có những đóng góp tích
cực vào những thành tựu chung của địa phương và cả nước về phát triển
kinh tế - xã hội, củng cố quốc phòng - an ninh, trật tự an toàn xã hội, sự
nghiệp xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN, hoàn thiện hệ thống pháp
luật, thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN, bảo vệ quyền và lợi
ích hợp pháp của Nhà nước, tổ chức, cá nhân. Nhờ đó, vai trò của công
9
tác tư pháp trong đời sống chính trị, kinh tế, xã hội ngày càng được
khẳng định; vị trí của Ngành từ Trung ương tới địa phương ngày càng
được củng cố, tăng cường; Ngành được tin tưởng giao nhiều nhiệm vụ
hơn trước.
Bên cạnh đó, so với yêu cầu nhiệm vụ, công tác tư pháp năm 2008
cũng còn nhiều bất cập, hạn chế như: Một số mặt hoạt động của Ngành
còn mang tính chuyên môn thuần tuý, chưa thực sự bám sát nhiệm vụ
chính trị mà Chính phủ, Bộ, Ngành, địa phương đề ra; chưa thật nhạy
bén trước những vướng mắc lớn trong công tác thực hiện pháp luật; chất
lượng công tác tư pháp chưa đồng đều ở các địa phương, có nơi còn yếu
kém; vẫn còn hiện tượng ỷ lại, trông chờ vào hướng dẫn của cấp trên, kể
cả đối với những vấn đề đã rõ hoặc đã được phân cấp; kỷ cương, kỷ luật
chưa thật nghiêm; trách nhiệm của người đứng đầu chưa cao, có nơi, có
lúc thậm chí còn trì trệ; việc ứng dụng công nghệ thông tin phục vụ hoạt
động quản lý, chỉ đạo, điều hành còn hạn chế; công tác kế hoạch chưa
được triển khai bài bản; công tác thống kê còn quá yếu.
B. VỀ PHƯƠNG HƯỚNG CÔNG TÁC NĂM 2009:
Trong bối cảnh tình hình khó khăn chung của đất nước và thế giới,
công tác tư pháp năm 2009 được triển khai với nhiều thách thức. Quốc
hội, Chính phủ đã ra các nghị quyết về phát triển kinh tế - xã hội, trong đó
xác định nhiệm vụ chủ yếu là tập trung mọi nỗ lực để chủ động ngăn chặn
suy giảm kinh tế, thúc đẩy sản xuất, kinh doanh phát triển; đẩy mạnh xuất
khẩu, kích cầu đầu tư và tiêu dùng, bảo đảm an sinh xã hội, ổn định kinh
tế vĩ mô, phấn đấu đạt tăng trưởng kinh tế ở mức khoảng 6,5%.
Trong lĩnh vực tư pháp, năm 2009 là năm Ngành ta triển khai thực
hiện nhiều văn bản pháp luật mới được ban hành (như: Luật ban hành
VBQPPL, Luật Thi hành án dân sự, Luật Quốc tịch Việt Nam sửa đổi);
Đề án tổng rà soát hệ thống pháp luật; triển khai thực hiện nhiệm vụ mới,
rất phức tạp là theo dõi chung về thi hành pháp luật. Bên cạnh đó yêu cầu
của Đảng, Quốc hội, Chính phủ và toàn xã hội đối với công tác tư pháp
ngày càng cao.
Trong bối cảnh đó, toàn Ngành quyết tâm vượt qua khó khăn, thách
thức, triển khai đồng bộ các mặt công tác thuộc chức năng, nhiệm vụ,
quyền hạn của mình, chú trọng thực hiện hiệu quả các nhiệm vụ trọng
tâm. Bộ và các tổ chức, đơn vị trong Ngành, tổ chức pháp chế Bộ, ngành
phải xây dựng chương trình, kế hoạch hành động cụ thể trên cơ sở bám
sát các Nghị quyết của Đảng về cải cách pháp luật, cải cách tư pháp,
Nghị quyết của Quốc hội về Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm
2009; Nghị quyết của Chính phủ về những giải pháp chủ yếu chỉ đạo,
điều hành thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và ngân sách nhà
nước năm 2009; ý kiến chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ; xác định đúng
10
việc, đúng trọng tâm, trọng điểm, giải pháp phù hợp, nhất là giải pháp
đột phá.
Tại Hội nghị này, các đại biểu đã được nghiên cứu dự thảo Chương
trình trọng tâm công tác năm 2009 của ngành Tư pháp. Nhiều ý kiến
phát biểu cũng thể hiện sự đồng tình cao với phương hướng, nhiệm vụ
trọng tâm mà Bộ đã dự kiến. Tôi xin nhấn mạnh lại một số nhóm nhiệm
vụ trọng tâm và một số giải pháp chủ yếu mà các đồng chí cần tập trung
chỉ đạo thực hiện tốt như sau:
1. Triển khai thực hiện tốt Luật Ban hành VBQPPL, góp phần
đẩy nhanh tiến độ và nâng cao chất lượng công tác xây dựng, thẩm định,
kiểm tra, rà soát, hệ thống hóa VBQPPL; chuẩn bị các điều kiện cần
thiết để triển khai công tác theo dõi chung về thi hành pháp luật.
(1) Phát huy trí tuệ của toàn ngành, hoàn thành đúng tiến độ, đảm bảo
chất lượng các dự án, dự thảo văn bản pháp luật mà Ngành được giao chủ trì
soạn thảo. Tham mưu cho Chính phủ trong việc phân công soạn thảo, tổ
chức thực hiện Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh; phối hợp với Văn
phòng Chính phủ tham mưu cho Chính phủ giải quyết một bước cơ bản tình
trạng nợ Nghị định và các văn bản hướng dẫn thi hành thuộc thẩm quyền
của Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ. Định kỳ 3 tháng một lần báo cáo
Chính phủ về tình hình thực hiện chương trình xây dựng pháp luật của Quốc
hội và Chính phủ.
Tổ chức pháp chế Bộ, ngành, các cơ quan Tư pháp địa phương chủ
động tham gia tích cực vào hoạt động xây dựng pháp luật ở Bộ, ngành, địa
phương mình, thực sự trở thành bộ phận tham mưu, chỗ dựa đáng tin cậy
cho các Bộ, ngành, HĐND, UBND trong việc xây dựng chính sách, pháp
luật. Quan tâm đánh giá việc thi hành Luật Ban hành VBQPPL của HĐND,
UBND ở địa phương. Trong năm 2009, Lãnh đạo Bộ sẽ làm việc với lãnh
đạo các Bộ, ngành để bàn về sự phối hợp giữa Bộ Tư pháp với các Bộ,
ngành (đặc biệt là với bộ phận pháp chế) trong công tác xây dựng pháp luật.
(2) Tiến hành sơ kết 3 năm thực hiện Luật Ban hành VBQPPL của
HĐND, UBND ở địa phương, tham mưu cho Chính phủ, Quốc hội để hợp
nhất 2 luật, bổ sung Nghị quyết 48 của Bộ Chính trị.
- Cần nhận thức sâu sắc về tầm quan trọng của công tác thẩm định văn
bản (vì từ năm 2009, văn bản thẩm định của Bộ đối với các dự án luật, pháp
lệnh sẽ gửi trực tiếp lên Quốc hội) để tạo chuyển biến mạnh về tiến độ và
chất lượng thẩm định VBQPPL, điều ước quốc tế; chú trọng đánh giá tính
khả thi, tác động xã hội của văn bản; chủ động tham gia sớm vào quy trình
xây dựng luật của các Bộ, ngành để phát hiện, đề xuất loại bỏ các chồng
chéo, mâu thuẫn giữa các văn bản pháp luật; chú trọng thẩm định các quy
định liên quan đến thủ tục hành chính trong các văn bản pháp luật. Trước
11
mắt sẽ lựa chọn một dự án luật để làm mẫu, tiến hành thẩm định một cách
bài bản, thực sự có chất lượng.
(3) Tiếp tục triển khai có hiệu quả hoạt động kiểm tra, xử lý VBQPPL;
tăng cường tính chủ động, tránh tình trạng “ăn theo”, xác định đúng trọng
tâm, trọng điểm, tập trung mạnh vào các lĩnh vực đầu tư, kinh doanh, đất
đai, môi trường, xây dựng cơ sở hạ tầng; tích cực theo dõi, đôn đốc quá trình
xử lý văn bản trái pháp luật đã được phát hiện; thực hiện tốt việc rà soát các
VBQPPL trong khuôn khổ nghĩa vụ thành viên của Tổ chức Thương mại
thế giới. Chuẩn bị các điều kiện cần thiết và tổ chức triển khai thực hiện
hiệu quả Đề án tổng rà soát hệ thống pháp luật Việt Nam sau khi được phê
duyệt.
(4) Xây dựng và triển khai thực hiện Kế hoạch về theo dõi tình
hình thi hành pháp luật trong phạm vi cả nước; hướng dẫn, đôn đốc các
Bộ, ngành, địa phương tổ chức thực hiện việc theo dõi, đánh giá, báo cáo
về tình hình thi hành pháp luật thuộc phạm vi quản lý của Bộ, ngành, địa
phương. Gắn công tác theo dõi thi hành pháp luật với công tác xây dựng
pháp luật; phát hiện những vấn đề liên ngành, những chồng chéo, không
hiệu quả trong công tác thực thi pháp luật để tham mưu trở lại công tác
xây dựng pháp luật, tạo thành một vòng tròn khép kín, phấn đấu trong
thời gian tới, như một số đồng chí gợi ý, Bộ Tư pháp, các tổ chức pháp
chế Bộ, ngành phải đóng vai trò là Tổng công trình sư tham mưu chủ
yếu cho Đảng, Nhà nước, Chính phủ trong việc thiết kế mô hình tổng thể
hệ thống pháp luật Việt Nam.
Muốn vậy, phải chủ động tham gia ngay từ đầu quá trình soạn thảo,
tăng cường phối hợp với các cơ quan chủ trì soạn thảo VBQPPL. Triển khai
áp dụng Quy chế thẩm định nội bộ mới của Bộ Tư pháp. Công tác văn bản
phải đảm bảo cái nhìn tổng thể, xuyên suốt, hệ thống, bắt rễ từ và vì mục
đích phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo mềm dẻo, linh hoạt trong từng
hoàn cảnh, từng việc cụ thể; lấy hiệu quả tác động kinh tế - xã hội trên
địa bàn và cả nước, lợi ích của người dân làm thước đo đánh giá tính
đúng đắn trong công tác văn bản.
2. Tiếp tục tổ chức thực hiện tốt Chỉ thị số 21/2008/CT-TTg của
Thủ tướng Chính phủ; chuẩn bị các điều kiện cần thiết để triển khai
Luật Thi hành án dân sự, Nghị quyết của Quốc hội nhằm tạo chuyển
biến mạnh trong công tác THADS
(1) Phấn đấu đạt và vượt chỉ tiêu thi hành án mà Chính phủ đã hứa
trước Quốc hội [thi hành xong 75% về việc và 55% về tiền trên số vụ việc
có điều kiện thi hành, giảm từ 10 đến 15% án tồn đọng; giảm từ 20 đến
25 % các vụ khiếu nại phức tạp, kéo dài].
(2) Kiện toàn tổ chức, cán bộ của Cục THADS, cơ quan Thi hành
án dân sự địa phương theo Luật Thi hành án dân sự; chuẩn bị các điều
12
kiện cần thiết để từng bước chuyển giao việc quản lý một số mặt công
tác tổ chức, cán bộ của cơ quan thi hành án dân sự từ Giám đốc Sở Tư
pháp (theo ủy quyền của Bộ trưởng Bộ Tư pháp) sang cho Trưởng Thi
hành án dân sự cấp tỉnh.
Cần lưu ý là Luật THADS và Nghị quyết của Quốc hội về thi
thành Luật THADS không phải là "đôi đũa thần", khi đi vào triển khai sẽ
gặp phải những khó khăn, thách thức không nhỏ. Khó khăn đầu tiên là
phải thiết kế mô hình cơ quan THADS phù hợp và đảm bảo vận hành
một cách hiệu quả. Nghị định hướng dẫn thi hành Luật sẽ thiết kế mô
hình tổ chức cơ quan THADS theo ngành dọc từ Trung ương xuống địa
phương, nhưng phải chú trọng vai trò của cấp uỷ và chính quyền địa
phương. Giám đốc các Sở Tư pháp phải xác định rõ trách nhiệm giúp
UBND tỉnh quản lý nhà nước tại địa phương, tham mưu cho Bộ, Thường
vụ, Thường trực Tỉnh uỷ về công tác cán bộ của ngành.
(3) Triển khai Đề án thực hiện thí điểm chế định thừa phát lại tại TP.
HCM khi được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt; xây dựng và trình Đề án
chuẩn bị các điều kiện cần thiết để giao cho Bộ Tư pháp giúp Chính phủ
thống nhất quản lý Nhà nước về thi hành án, Đề án thành lập cơ quan thi
hành án khu vực.
[Để thực hiện được các nhiệm vụ này, Cục và cơ quan Thi hành án
dân sự các địa phương cần tiến hành giao chỉ tiêu cụ thể về thi hành án
theo từng địa bàn, từng địa phương; hoàn thành việc tổng rà soát các vụ
việc tồn đọng chưa thi hành; đồng thời rà soát, đề nghị miễn thi hành các
khoản thu cho ngân sách Nhà nước có giá trị không quá 500.000 đồng
mà thời gian tổ chức thi hành án đã quá 05 năm tính đến ngày 01/7/2009
nhưng không có điều kiện thi hành. Phối hợp chặt chẽ với cấp ủy, chính
quyền địa phương trong công tác kiện toàn tổ chức, cán bộ cơ quan
THADS, trong việc chỉ đạo tổ chức các đợt cao điểm THADS tại những
nơi có số lượng án lớn, phức tạp; phối hợp chặt chẽ với các cơ quan Tòa
án, Viện kiểm sát để tháo gỡ kịp thời những vướng mắc trong công tác
THADS. Đẩy nhanh tiến độ thực hiện các đề án về tăng cường cơ sở vật
chất, xây dựng trụ sở, kho vật chứng, kinh phí hoạt động cho các cơ quan
THADS].
3. Cải cách mạnh mẽ thủ tục hành chính, nâng cao chất lượng
hoạt động chứng thực, hộ tịch, quốc tịch, lý lịch tư pháp
(1) Triển khai thực hiện tốt Luật Quốc tịch Việt Nam (sửa đổi), tạo
chuyển biến cơ bản trong công tác quản lý quốc tịch; tham mưu cho
Chính phủ và các Bộ, ngành liên quan trong việc giải quyết vấn đề hộ
tịch, quốc tịch cho dân di cư tự do ở các tỉnh giáp biên giới Việt Nam,
Lào, Campuchia.
13
(2) Hoàn thiện về thể chế và tăng cường công tác quản lý nhà nước
về hộ tịch. Chuẩn hóa các mẫu, phân cấp việc in ấn biểu mẫu, sổ hộ tịch,
hoàn thành dứt điểm trong 6 tháng đầu năm 2009. Tăng cường quản lý
nhà nước, đẩy mạnh hoạt động kiểm tra, thanh tra, góp phần làm lành
mạnh hóa quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài, việc cho trẻ em Việt
Nam làm con nuôi người nước ngoài; chấn chỉnh hoạt động của các Văn
phòng con nuôi nước ngoài;
(3) Tiếp tục rà soát, đơn giản hóa các thủ tục hành chính trong hoạt
động chứng thực, tập trung tháo gỡ các khó khăn, vướng mắc, nhất là về
thể chế để nâng cao chất lượng các hoạt động này nhằm đáp ứng yêu cầu
quản lý của Nhà nước, nhu cầu xã hội.
(4) Tiếp tục theo dõi và giúp Chính phủ hoàn thiện dự án Luật Lý
lịch tư pháp sau khi Quốc hội cho ý kiến; chuẩn bị tốt các điều kiện. đặc
biệt là đào tạo nguồn nhân lực thực hiện nghiệp vụ lý lịch tư pháp, để
triển khai thi hành Luật sau khi được Quốc hội thông qua.
4. Tăng cường năng lực của các cơ quan bổ trợ tư pháp, tiếp tục
đẩy mạnh xã hội hóa hoạt động bổ trợ tư pháp
(1) Chỉ đạo, hỗ trợ tổ chức thành công Đại hội đại biểu luật sư toàn
quốc lần thứ nhất để thành lập Liên đoàn luật sư Việt Nam; hoàn thành
và trình Chính phủ phê duyệt Đề án về chiến lược phát triển đội ngũ luật
sư đến năm 2020. Tăng cường công tác quản lý nhà nước, kết hợp thực
hiện tốt vai trò tự quản của các tổ chức luật sư; sớm phát hiện và kịp thời
chấn chỉnh các biểu hiện lệch lạc, tiêu cực trong hoạt động luật sư, tư
vấn pháp luật; gia tăng quản lý các luật sư đăng ký hoạt động ở địa bàn
khác.
(2) Tổ chức tổng kết 4 năm thi hành Pháp lệnh Giám định tư pháp;
phối hợp chặt chẽ với các cơ quan hữu quan tập trung tháo gỡ khó khăn,
vướng mắc về chế độ, chính sách trong hoạt động giám định tư pháp.
(3) Hoàn thành và trình Chính phủ phê duyệt Đề án quy hoạch phát
triển nghề công chứng ở Việt Nam đến năm 2020; tiến hành sơ kết 02
năm thực hiện Luật Công chứng, làm rõ những điểm vướng mắc, bất cập
và kiến nghị cơ quan nhà nước có thẩm sửa đổi, bổ sung cho phù hợp;
nghiên cứu, đề xuất phương án chuyển giao thẩm quyền chứng thực các
hợp đồng, giao dịch liên quan đến quyền sử dụng đất, bất động sản từ
UBND sang cho các tổ chức công chứng.
5. Tiếp tục lộ trình cải cách tư pháp, cải cách hành chính
- Chủ động thực hiện hiệu quả các nhiệm vụ của Ngành trong
Chương trình trọng tâm công tác tư pháp năm 2009 của Ban Chỉ đạo cải
cách tư pháp Trung ương.
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét